Quay lại

Báo cáo 188/BC-UBND 2012 sơ kết thực hiện chương trình Cải cách hành chính Hồ Chí Minh

ỦY BAN NHÂN BÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 188/BC-UBND

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 12 năm 2012

BÁO CÁO

SƠ KẾT 02 NĂM TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GẮN VỚI MỤC TIÊU XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX đã đề ra 06 chương trình đột phá giai đoạn 2011-2015, trong đó có Chương trình cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị giai đoạn 2011- 2015, Ủy ban nhân dân thành phố có Quyết định số 23/2011/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2011 ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình Cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị giai đoạn 2011-2015 và Quyết định số 65/2011/QĐ-UBND ngày 20 tháng 10 năm 2011 về điều chỉnh cơ quan chủ trì thực hiện các kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX giai đoạn 2011-2015. Đến nay, qua 02 năm triển khai thực hiện, Ủy ban nhân dân thành phố báo cáo kết quả đạt được như sau:

I. Kết quả 02 năm thực hiện Chương trình đột phá Cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị năm 2011:

1. Công tác chỉ đạo và triển khai thực hiện:

Ngay từ khi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX được triển khai, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành kế hoạch thực hiện và hàng năm, đều tổ chức sơ kết, xây dựng chương trình thực hiện cụ thể. Ủy ban nhân dân thành phố đã thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn và đôn đốc các đơn vị Sở - ngành, Ủy ban nhân dân các quận-huyện xây dựng kế hoạch triển khai việc xây dựng Chương trình Cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị. Đến nay đã có 18/18 sở-ngành và 24/24 quận-huyện xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị giai đoạn 2011-2015. Ngoài ra, còn có 03 đơn vị là Viện Kiểm sát nhân dân thành phố, Ban Quản lý dự án đầu tư và xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm và Ban Quản lý khu Nam cũng đã xây dựng và triển khai Chương trình Cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị tại đơn vị. Nhìn chung, các đơn vị khi xây dựng kế hoạch đều có phân công cụ thể trách nhiệm của từng phòng, ban, đơn vị, công chức, viên chức trong việc triển khai thực hiện cải cách hành chính giai đoạn 2011-2015.

Công tác kiểm tra việc thực hiện các Chương trình, Đề án theo kế hoạch cũng được quan tâm, tăng cường, Ủy ban nhân dân thành phố đã thành lập 03 Đoàn kiểm tra công tác Cải cách hành chính, tiến hành kiểm tra việc thực hiện Cải cách hành chính 9 tháng đầu năm 2011, 6 tháng đầu năm 2012 và tình hình thực hiện cải cách hành chính năm 2012 tại 13 đơn vị Sở-ngành và 4 quận - huyện, đồng thời xây dựng kế hoạch kiểm tra đột xuất tình hình thực thi công vụ của một số đơn vị Sở-ngành, quận-huyện, phường-xã, thị trấn. Qua kiểm tra, Ủy ban nhân dân thành phố đã có văn bản chỉ đạo các Sở-ngành, Ủy ban nhân dân quận-huyện xây dựng kế hoạch khắc phục những mặt hạn chế, tồn tại trong việc triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính của cơ quan, đơn vị.

Công tác tuyên truyền chương trình cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị được thành phố quan tâm, đẩy mạnh thông qua nhiều hình thức thông tin đa dạng và phong phú như: phương tiện thông tin đại chúng (các Báo, Đài truyền hình, Đài Tiếng nói nhân dân thành phố,...); Cổng thông tin điện tử của các Sở-ngành, Ủy ban nhân dân 24 quận-huyện; đối thoại với doanh nghiệp; tuyên truyền công tác cải cách hành chính cho người dân tại triển lãm “Đường sách Nhâm Thìn”; Hội đồng nhân dân thành phố phối hợp với Đài Truyền hình thành phố tổ chức chương trình “Lắng nghe và trao đổi” chuyên đề về cải cách hành chính; phát hành cẩm nang Cải cách hành chính đến tận các phường-xã, thị trấn; Thành Đoàn thành phố đã tổ chức tuyên dương và trao giải thưởng “Cán bộ, công chức, viên chức trẻ, giỏi, thân thiện” lần II-năm 2012. Cán bộ, công chức, viên chức trẻ được tuyên dương là những gương điển hình phát huy vai trò xung kích, sáng tạo với những công trình, sản phẩm đã góp phần đem lại hiệu quả cho công tác cải cách hành chính thành phố... Thông qua công tác tuyên truyền đã góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, người dân và doanh nghiệp về quan điểm, mục tiêu, nội dung, sự cần thiết phải thực hiện Cải cách hành chính và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh Cải cách hành chính; góp phần tích cực đẩy mạnh cách hành chính nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; người dân có điều kiện giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước.

2. Kết quả thực hiện Chương trình:

a) Công tác cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cải cách tư pháp:

- Công tác Cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thường xuyên theo dõi, kiểm tra. Hàng năm, Ủy ban nhân dân thành phố đều ban hành chương trình lập quy nhằm cập nhật các quy định của Trung ương và xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề bức xúc của thành phố. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đến nay, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành tổng cộng 223 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 31 Nghị quyết, 135 Quyết định và 57 Chỉ thị. Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành có nội dung phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý của thành phố, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản khi được ban hành, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn thành phố.

- Về nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 4605/QĐ-UBND ngày 27 tháng 9 năm 2011 về Chương trình hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2011 - 2015 tại thành phố Hồ Chí Minh. Chương trình gồm 04 Đề án, cụ thể như sau:

- Đề án 1: Hoàn thiện Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp;

- Đề án 2: Kiện toàn tổ chức pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố;

- Đề án 3: Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ đội ngũ cán bộ, công chức pháp chế và cán bộ, công chức kiểm soát thủ tục hành chính;

- Đề án 4: Hoàn thiện quy định về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật và công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn thành phố.

Hiện nay, đã hoàn tất và đang triển khai thực hiện Đề án 1 (Quyết định số 67/2011/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quy định về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp thay thế Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 05 tháng 02 năm 2007), Đề án 3 (Quyết định số 1323/QĐ-UBND ngày 14 tháng 3 năm 2012 về phê duyệt Đề án “Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ đội ngũ cán bộ, công chức pháp chế và cán bộ, công chức kiểm soát thủ tục hành chính tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012 - 2015”) và Đề án 4 (Quyết định số 75/2011/QĐ-UBND ngày 21/11/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quy chế về kiểm tra, xử lý và rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh). Riêng Đề án 2, ngày 19 tháng 12 năm 2011, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 6150/QĐ-UBND thành lập Đoàn công tác liên ngành khảo sát công tác pháp chế, công tác bồi thường nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, theo đó Đoàn sẽ khảo sát 10 sở, ngành, chủ yếu tập trung vào đơn vị có quy mô tổ chức và biên chế lớn, thực hiện tốt công tác pháp chế, hoặc không thống nhất với chủ trương thành lập Phòng Pháp chế, chưa kiện toàn tổ chức pháp chế; đồng thời qua khảo sát cũng lấy ý kiến các đơn vị về sự cần thiết và mô hình phù hợp của tổ chức pháp chế trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Đến nay, thành phố đang hoàn chỉnh Đề án kiện toàn tổ chức pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố.

- Về Đề án kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực hoạt động của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp quận-huyện, Tư pháp phường-xã, thị trấn và các tổ chức bổ trợ tư pháp: thành phố đã giao Sở Tư pháp đang tiến hành triển khai xây dựng Đề án.

- Thành phố cũng đã tổ chức sơ kết 01 năm thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trên địa bàn thành phố. Hội nghị đã ghi nhận những kết quả bước đầu, đồng thời cho thấy sự ra đời của chế định Thừa phát lại đã đưa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng về xã hội hóa một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự vào thực tiễn đời sống pháp luật. Qua kết quả đạt được ban đầu đã khẳng định việc: thực hiện chế định Thừa phát lại là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, mang lại lợi ích cho người dân, Nhà nước.

b) Cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát và đơn giản hóa thủ tục hành chính; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức:

Thực hiện Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính, để công tác kiểm soát thủ tục hành chính ngày càng đi vào nề nếp, kiểm soát chặt chẽ việc ban hành thủ tục hành chính mới theo quy định, công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội của thành phố, hàng năm, Ủy ban nhân dân thành phố đều ban hành kế hoạch thực hiện rà soát, kiểm soát thủ tục hành chính, kế hoạch kiểm tra thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính, ban hành các Quyết định quy định về kiểm soát thủ tục hành chính, quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định thủ tục hành chính...

Về tổ chức thực hiện Kế hoạch rà soát thủ tục hành chính trọng tâm năm 2012 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2012: Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành văn bản số 1218/UBND-KSTTHC triển khai Quyết định trên, trong đó giao thủ trưởng các Sở, ngành chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đạt chỉ tiêu cắt giảm ít nhất 30% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính và đảm bảo đúng tiến độ theo quy định.

Để tạo được sự thống nhất trong cách thực hiện, nhằm đạt hiệu quả cao trong triển khai kế hoạch rà soát thủ tục hành chính trọng tâm năm 2012, Ủy ban nhân dân thành phố đã tổ chức Hội nghị chuyên đề tập huấn rà soát thủ tục hành chính trọng tâm năm 2012 cho các Sở, ban, ngành với 215 đại biểu tham dự, cho Ủy ban nhân dân 24 quận-huyện với 286 đại biểu tham dự.

- Việc thực hiện các phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính theo quy định của Chính phủ:

Đến nay, Ủy ban nhân dân thành phố đã hoàn thành cơ bản việc thực thi những thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân thành phố là 192/197 thủ tục hành chính, trong đó Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành 18 quyết định thực thi xong 146 thủ tục (tỷ lệ 97%), còn 05 thủ tục (tỷ lệ 3%) thuộc Bộ thủ tục hành chính chung áp dụng tại Ủy ban nhân dân phường-xã, thị trấn đang được Sở Lao động-Thương binh và Xã hội dự thảo Quyết định trình Ủy ban nhân dân thành phố.

- Việc công bố, công khai và kịp thời cập nhật thủ tục hành chính:

Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành 07 Quyết định công bố thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ban, ngành thành phố và bộ thủ tục hành chính chung áp dụng tại Ủy ban nhân dân quận-huyện, Ủy ban nhân dân phường - xã, thị trấn, cụ thể: Quyết định số 113/QĐ-UBND ngày 14 tháng 6 năm 2012 về công bố thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân quận - huyện, Ủy ban nhân dân phường - xã, thị trấn trên địa bàn thành phố; Quyết định số 4190/QĐ-UBND ngày 16 tháng 8 năm 2012 công bố thủ tục hành chính thay thế, bãi bỏ áp dụng tại Ủy ban nhân dân phường - xã, thị trấn trên địa bàn thành phố; Quyết định số 4589/QĐ-UBND ngày 05 tháng 9 năm 2012 về công bố thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Nội vụ; Quyết định số 4469/QĐ-UBND ngày 29 tháng 8 năm 2012 công bố thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bãi bỏ thuộc thẩm quyền của Sở Y tế.

Tổng số thủ tục hành chính hiện nay là 247 thủ tục. Trong đó, số thủ tục áp dụng tại Sở, ban, ngành là 1.611 thủ tục; áp dụng tại Ủy ban nhân dân quận-huyện là 475 thủ tục; áp dụng tại Ủy ban nhân dân phường-xã, thị trấn là 161 thủ tục.

- Kết quả thực hiện tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị của cá nhân, tổ chức đối với thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết.

Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính (Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố) đã tiếp nhận 20 phản ánh, kiến nghị của người dân và đã xử lý 16 phản ánh, kiến nghị. Các phản ánh kiến nghị chủ yếu tập trung về hành vi, về quá trình thực hiện giải quyết hồ sơ của các cơ quan đơn vị trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính.

Bên cạnh đó, Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố đã tiến hành khảo sát tình hình thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính trên lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở; cấp phép xây dựng; hộ tịch tại 06 quận-huyện, phường-xã. Qua đó, nắm được những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị của các đơn vị để tổ chức chương trình “Lắng nghe và trao đổi” về chuyên đề “cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn thành phố” của Hội đồng nhân dân thành phố.

c) Về cải cách tổ chức bộ máy:

Các cơ quan, đơn vị tiếp tục rà soát quy chế tổ chức hoạt động của đơn vị, hoàn thiện quy chế làm việc, kiện toàn và sắp xếp bộ máy nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước phù hợp với lĩnh vực quản lý, điều hành.

Ủy ban nhân dân thành phố đã có Quyết định số 04/2012/QĐ-UBND ngày 31 tháng 1 năm 2012 chuyển đổi mô hình tổ chức Chi cục Bảo vệ môi trường (thành lập theo Quyết định số 111/2004/QĐ-UB ngày 23 tháng 4 năm 2004 của Ủy ban nhân dân thành phố) từ đơn vị sự nghiệp sang cơ quan quản lý nhà nước trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, chuyển chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường sang Chi cục; đồng thời ban hành Quyết định số 38/2012/QĐ-UBND ngày 21 tháng 8 năm 2012 về Quy chế tổ chức và hoạt động của Sở Tài nguyên và Môi trường.

Thực hiện kết luận, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 90/TB-VPCP ngày 26 tháng 3 năm 2010 về việc giao thành phố Hồ Chí Minh làm việc với Bộ Nội vụ để Bộ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc: Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo nguyên tắc chung là bộ máy tổ chức phải phù hợp với nhiệm vụ quản lý, điều kiện đặc thù của thành phố Hồ Chí Minh là đô thị có quy mô dân số 10 triệu dân, tạo điều kiện cho thành phố hoàn thành nhiệm vụ chính trị và kinh tế - xã hội, Ủy ban nhân dân thành phố đã có Công văn số 6275/UBND-THKH ngày 07 tháng 12 năm 2010 góp ý dự thảo Nghị định sửa đổi bổ sung Nghị định số 13/2008/NĐ-CP gửi Bộ Nội vụ, Trong dự thảo đã nêu rõ, những nội dung quy định không phù hợp với thành phố cần được điều chỉnh. Tại Thông báo số 134/TB-VPCP ngày 06 tháng 6 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thành phố Hồ Chí Minh được căn cứ tình hình cụ thể phân công Sở Giao thông vận tải trực tiếp quản lý kết cấu hạ tầng giao thông đô thị. Các nội dung kiến nghị khác của thành phố đang được Bộ Nội vụ tổng hợp xem xét trình Thủ tướng Chính phủ.

Ủy ban nhân dân thành phố đã có Báo cáo số 122/BC-UBND ngày 22 tháng 8 năm 2012 về "Đặc trưng của chính quyền đô thị và quản lý đô thị”, qua đó đề xuất mô hình tổ chức chính quyền đô thị và quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn trong chính quyền đô thị. Việc sắp xếp tổ chức, bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận - huyện theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận-huyện đến nay đã cơ bản thực hiện xong. Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành quy chế tổ chức và hoạt động (mẫu) 12/12 cơ quan chuyên môn quận - huyện: Phòng Nội vụ, Phòng Tài chính-Kế hoạch, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Y tế, Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội, Phòng Văn hóa -Thông tin; Phòng Kinh tế, Phòng Quản lý Đô thị, Thanh tra, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tư pháp và Văn phòng Ủy ban nhân dân.

Tiếp tục thực hiện thí điểm Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân, tính đến nay, thành phố đã có 04 quận - huyện (quận 7, quận 11, quận Phú Nhuận, huyện Nhà Bè), và có 54/259 phường, 05 xã, 01 thị trấn đã thực hiện thí điểm Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân.

d) Về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:

Thực hiện Quyết định số 23/2011/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố về ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình Cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị giai đoạn 2011 - 2015, Ủy ban nhân dân thành phố đã giao Sở Nội vụ triển khai xây dựng các chuyên đề, thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Quyết định số 23/2011/QĐ-UBND ; gồm:

- Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chương trình đào tạo nguồn nhân lực của thành phố giai đoạn 2011-2015 (Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định);

- Báo cáo sơ kết 03 năm thực hiện Nghị định 158/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ.

Trong 02 năm qua, thành phố đã tăng cường việc tổ chức các lớp tổ chức kỹ năng chuyên môn, bồi dưỡng kiến thức, đã chiêu sinh hơn 50 lớp với gần 5.000 học viên tham dự các lớp như: bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình Chuyên viên, Chuyên viên chính, Chuyên viên cao cấp; bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng công tác tổ chức nhà nước; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác quản lý nhà nước về Hội, Quỹ; bồi dưỡng kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế; bồi dưỡng kiến thức quản lý dự án đầu tư; bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ đấu thầu; bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân xã; bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, ứng xử nơi công sở; bồi dưỡng cán bộ chủ chốt phường, xã, thị trấn.

Đối với công tác tuyển dụng công chức, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 30/2012/QĐ-UBND ngày 25 tháng 7 năm 2012 về ban hành quy định tuyển dụng công chức và xếp lương khi bổ nhiệm ngạch. Đồng thời tổ chức 02 đợt thi tuyển công chức (năm 2011 và 2012) với số lượng hơn 1.500 người.

Về việc đẩy mạnh phân cấp trong công tác quản lý nhà nước đồng bộ và phù hợp hơn cho các sở - ngành, Ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã, thị trấn theo hướng xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, từng cấp chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 3556/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2012 về phân cấp thẩm quyền quyết định nâng bậc lương thường xuyên, nâng bậc lương trước thời hạn và nâng phụ cấp thâm niên vượt khung đối với cán bộ, công chức, viên chức của các đơn vị thuộc thành phố; Công văn số 642/UBND-VX ngày 16 tháng 02 năm 2012 chuyển giao việc thực hiện chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức phường-xã, thị trấn cho Ủy ban nhân dân quận-huyện.

Ủy ban nhân dân thành phố đã chỉ đạo Sở Nội vụ nghiên cứu xây dựng Đề án thí điểm thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp tại thành phố. Hiện Đề án đã lấy ý kiến các Sở-ngành, đang hoàn chỉnh, trình Ủy ban nhân dân thành phố xem xét trong tháng 12 năm 201

đ) Cải cách tài chính công:

- Thành phố đã giao Sở Tài chính xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện các Đề án, Chương trình đã đề ra trong Quyết định số 23/2011/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố. Định kỳ hàng năm, Sở Tài chính có báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố việc thực hiện khoán biên chế, kinh phí.

Căn cứ Quyết định số 78/2011/QĐ-UBND ngày 09 tháng 12 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố về giao chỉ tiêu dự toán thu-chi ngân sách nhà nước năm 2012; các cơ quan hành chính trên địa bàn thành phố lập dự toán kinh phí năm 2012 gửi Sở Tài chính để thẩm tra phân bổ dự toán năm (đồng thời thực hiện giao tự chủ tài chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ cho các cơ quan hành chính). Khối quận - huyện: thực hiện sắp xếp lại các phòng ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, đến nay có 421/421 đơn vị và 322/322 phường - xã, thị trấn đã thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ, đạt 100% tổng số đơn vị.

- Về thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ:

+ Khối thành phố: Tổng số đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay do Sở Tài chính theo dõi và quản lý là 342 đơn vị. Tổng số đơn vị sự nghiệp công lập đã được giao tự chủ tài chính là 342 đơn vị. Trong đó, giao tự chủ tài chính giai đoạn 2010-2012 là 228 đơn vị, giao tự chủ tài chính giai đoạn 2011-2013 là 72 đơn vị; tiếp tục giao tự chủ tài chính giai đoạn 2012-2014 cho 39 đơn vị. Đồng thời, tiếp tục rà soát giao tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập mới được thành lập (nếu có).

+ Khối quận - huyện: Có 1.436/1.436 đơn vị thực hiện giao tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP , đạt 100% tổng số đơn vị sự nghiệp công lập thuộc đối tượng giao tự chủ.

+ 100% đơn vị đã thực hiện giao quyền tự chủ đã xây dựng và thực hiện Quy chế chi tiêu nội bộ theo quy định. Tuy nhiên, một số đơn vị khi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ còn mang tính hình thức chưa quy định rõ ràng về nội dung chi, mức chi, thiếu các biện pháp tăng thu và tiết kiệm chi. Do đó, hạn chế tính chủ động và hiệu quả của Quy chế chi tiêu nội bộ.

- Về thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ:

Tính đến nay, sau khi rà soát các đơn vị trên địa bàn thành phố thực hiện việc chuyển đổi theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP thì tổng số đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo cơ chế của tổ chức khoa học - công nghệ là 14 đơn vị. Trong đó, đã thực hiện cơ chế chuyển đổi là 09 đơn vị. Còn lại 05 đơn vị tiếp tục thực hiện việc chuyển đổi. Đồng thời, Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục rà soát các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn thành phố để thực hiện việc chuyển đổi theo cơ chế của tổ chức khoa học-công nghệ quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP .

e) Hiện đại hóa nền hành chính:

- Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO vào hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước:

+ Thành phố có 61 đơn vị bắt buộc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008. Đến nay đã có 06 đơn vị (gồm 03 Sở và 03 đơn vị cấp 2) đã được cấp chứng nhận ISO 9001:2008 cho toàn bộ các thủ tục hành chính; 24 đơn vị (gồm 05 Sở, 17 quận-huyện và 02 đơn vị cấp 2) được cấp chứng nhận ISO 9001:2008 cho một số quy trình, thủ tục và đang mở rộng phạm vi áp dụng cho các thủ tục hành chính khác; 05 đơn vị (gồm 02 đơn vị Trung ương đóng trên địa bàn thành phố, 01 Ban quản lý và 02 đơn vị cấp 2) đang triển khai áp dụng ISO 9001:2008 (chưa có giấy chứng nhận); 26 đơn vị (gồm 10 Sở, 07 quận-huyện, 03 Ban Quản lý và 06 đơn vị cấp 2) đã được chứng nhận ISO 9001:2000 (nhưng đã hết hiệu lực) và đang chuyển đổi sang áp dụng theo ISO 9001:2008.

Một số sở - ngành, Ủy ban nhân dân quận - huyện đã và đang tiến hành đánh giá tình hình áp dụng hệ thống ISO 9001:2000 tại đơn vị và các phường trên địa bàn để có những điều chỉnh, khắc phục những vướng mắc kịp thời; mở rộng thêm các lĩnh vực ứng dụng, đồng thời cũng là cơ sở để rút kinh nghiệm cho việc áp dụng hệ thống TCVN ISO 9001:2008. Các quận huyện từng bước triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008

- Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính nhà nước:

Việc ứng dụng công nghệ thông tin và các phần mềm trong quản lý hành chính nhà nước tiếp tục được thành phố quan tâm thực hiện nhằm đẩy nhanh tiến độ tin học hóa trong quản lý hành chính nhà nước địa phương:

Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 27/2012/QĐ-UBND ngày 28 tháng 6 năm 2012 về phê duyệt “Chương trình phát triển công nghệ thông tin-truyền thông giai đoạn 2011-2015”. Sở Thông tin và Truyền thông đang triển khai từng bước các chương trình nhánh đã được phê duyệt trong chương trình này trên địa bàn thành phố.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan quản lý nhà nước của thành phố tiếp tục phát triển. Trang thông tin điện tử thành phố (HCM Cityweb) được Bộ Thông tin và Truyền thông đánh giá là trang web đứng đầu về mức độ truy cập và cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến trong số các trang thông tin điện tử của các bộ, ngành, địa phương. Sở Thông tin và truyền thông đã áp dụng dịch vụ công cấp 4 trực tuyến (cấp cao nhất) để cấp phép họp báo qua mạng.

Số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: 0 dịch vụ;

Số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: 266 dịch vụ;

Số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: 7 dịch vụ;

Số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: 4 dịch vụ (Cấp phép Họp báo; Cấp phép Hội thảo - Hội nghị có yếu tố nước ngoài; cấp phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh, cấp phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp trên internet).

Hạ tầng mạng thông tin của thành phố được củng cố và tăng cường, Ủy ban nhân dân các quận-huyện đã đưa vào hoạt động hệ thống Kios tra cứu thông tin điện tử để người dân có thể tra cứu thông tin trực tiếp.

Sở Thông tin và Truyền thông đã hoàn chỉnh nâng cấp Trang thông tin điện tử HCMCityweb và các trang thành viên nhằm đảm bảo việc tích hợp hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin của đơn vị, các yêu cầu kỹ thuật, nội dung trang thông tin điện tử theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP của Chính phủ đảm bảo an toàn, an ninh thông tin.

- Đến nay, tất cả các quận - huyện của thành phố đã có website, số lượng website của Sở-ban-ngành, quận-huyện đã được xây dựng và tích hợp trên HCM Cityweb là 80. Sở Thông tin và Truyền thông đang tiếp tục rà soát cập nhật hoàn chỉnh lại các trang thông tin thành phần theo kiến trúc chung của Trang thông tin điện tử của thành phố tiến tới xây dựng hoàn chỉnh mô hình giao dịch điện tử tích hợp môi trường dịch vụ công trực tuyến tích hợp hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin đã triển khai và đảm bảo an toàn an ninh thông tin của hệ thống mạng thành phố. Hiện nay đã nâng cấp 68/71 đơn vị, số trang hiện đang nâng cấp 03 trang.

- Thành phố đã triển khai mô hình liên thông kết nối hệ thống quản lý văn bản, hồ sơ công việc cho toàn thành phố. Mô hình này thực hiện việc kết nối liên thông văn bản, hồ sơ công việc từ Ủy ban nhân dân thành phố đến sở, ban, ngành, quận-huyện nhằm hiện đại hóa nền hành chính thay thế dần văn bản giấy bằng văn bản điện tử có ứng dụng chữ ký số. Tính đến nay, đã triển khai hệ thống quản lý văn bản cho 72 sở-ngành, quận-huyện (16 Sở; 32 Ban ngành; 24 quận-huyện) và đã liên thông kết nối các đơn vị triển khai với nhau; có 22 quận-huyện đã triển khai liên thông phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc- xuống phường-xã (còn 02 quận chưa triển khai là Quận 5 và Quận Tân Phú).

Thực hiện Chỉ thị số 15/2012/CT-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Ủy ban nhân dân thành phố đã có văn bản chỉ đạo về vận hành chức năng gửi nhận văn bản điện tử (Công văn số 4465/UBND-TTTH ngày 04 tháng 9 năm 2012); Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố đã xây dựng Kế hoạch số 7049/KH-VP ngày 10 tháng 9 năm 2012 triển khai, vận hành chức năng gửi nhận văn bản điện tử giữa Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố với các sở-ngành, Ủy ban nhân dân quận-huyện và các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố.

Hiện có 07 sở - ngành và 24 quận - huyện tham gia hệ thống “Một cửa điện tử” cung cấp thông tin tình trạng giải quyết hồ sơ cho công dân. Việc triển khai hệ thống “Một cửa điện tử” trên điện thoại di động trên cơ sở ứng dụng mạng 3G bước đầu cũng đã phát huy hiệu quả tạo thuận lợi để người dân có thể tra cứu tình trạng hồ sơ hành chính mọi lúc mọi nơi. Đã hoàn thành nâng cấp hạ tầng phần cứng, nâng cấp hoàn chỉnh quy trình hồ sơ theo mô hình một cửa liên thông 24 quận - huyện và Cổng thông tin “một cửa điện tử” của thành phố.

Thành phố triển khai áp dụng chữ ký số cho thông tin chỉ đạo điều hành tại các quận-huyện, sở-ban-ngành trên hệ thống cityweb và hệ thống văn bản nhằm tăng cường tính pháp lý của hệ thống văn bản số. Tính đến nay, tổng số đơn vị được cấp chứng thư số là 71 đơn vị (24 quận-huyện, 14 Sở, 32 ban- ngành và Ủy ban nhân dân thành phố).

Hiện nay, tất cả 24 quận-huyện đã triển khai hệ thống thông tin tác nghiệp theo mô hình của thành phố.

Hệ thống thư điện tử đang hoạt động ổn định và được các cơ quan, cán bộ công chức, viên chức sử dụng thông dụng hơn trước. Hệ thống đã cấp tổng số 9.520 hộp thư điện tử, tỷ lệ thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc là 65.9%.

Hệ thống quản lý cán bộ công chức thành phố đã được cài đặt hoàn tất và triển khai đến 220 đơn vị (Sở ban ngành và đơn vị trực thuộc: 952; Quận- huyện và đơn vị trực thuộc: 497).

Hệ thống mạng Metronet đã được triển khai tổng cộng 510 điểm kết nối các Sở-ban-ngành, Quận-Huyện và phường-xã, thị trấn phục vụ hiệu quả việc vận hành, liên thông hệ thống thông tin chỉ đạo điều hành các cấp.

Trong quá trình triển khai các phần mềm tác nghiệp chuyên ngành cho các sở ban ngành, quận huyện thời gian qua đã hình thành và xây dựng được cơ sở dữ liệu về: dân cư, kinh tế, văn hóa, lao động, đất đai, xây dựng.... Các cơ sở dữ liệu này được cập nhật hằng ngày qua việc tác nghiệp và vận hành các phần mềm của các bộ phận chuyên trách của các phòng ban tại các sở ban ngành, quận - huyện. Các hệ thống cơ sở dữ liệu này trong giai đoạn tới sẽ thực hiện việc tích hợp, liên thông và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan nhà nước của toàn thành phố.

+ Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố về nhân rộng ứng dụng mô hình lấy ý kiến khách hàng bằng hệ thống điện tử, hiện nay, sau khi khảo sát, Sở Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Ủy ban nhân dân quận 1 hoàn chỉnh Đề án, phần mềm để triển khai ứng dụng trong các Sở- ngành, Ủy ban nhân dân quận-huyện.

+ Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Công văn số 4548/UBND-VX ngày 10 tháng 9 năm 2012 về việc hoàn chỉnh đề án một cửa liên thông trong lĩnh vực hộ tịch, hộ khẩu và bảo hiểm y tế theo hướng triển khai thực hiện trên toàn thành phố nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi làm các các thủ tục liên quan đến lĩnh vực hộ tịch, hộ khẩu và bảo hiểm y tế, người dân không phải đi lại nhiều lần.

3. Đánh giá hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp, chương trình, đề án cụ thể đã triển khai:

a) Những mặt đã làm được:

Nhìn chung, các sở-ngành, Ủy ban nhân dân các quận-huyện có quan tâm, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch Cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị theo phân công và chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố. Phần lớn các chương trình đề ra đến nay đều đã được các đơn vị triển khai thực hiện.

- Việc xây dựng các Đề án nâng cao hiệu quả công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã góp phần tạo ra hành lang pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn thành phố. Việc Cải cách thủ tục hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước được thực hiện thường xuyên, đảm bảo tiến độ và chất lượng theo quy định;

- Việc kiện toàn bộ máy chính quyền, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước. Hệ thống chính quyền cơ sở từng bước được củng cố và hoàn thiện, thể hiện tốt chức năng quản lý nhà nước và bảo đảm ổn định an ninh chính trị; Việc triển khai thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận - huyện, phường đạt được kết quả nhất định.

- Việc thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính trong các cơ quan hành chính nhà nước đã giúp các đơn vị, địa phương chủ động điều hành công việc, nhiệm vụ được giao, nâng cao ý thức tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng kinh phí ngân sách, từng bước tăng thêm thu nhập cho cán bộ, công chức, giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập đã tạo điều kiện cho đơn vị chủ động sử dụng nguồn kinh phí ngân sách giao, tích cực khai thác nguồn thu, đáp ứng nhiệm vụ chính trị cũng như cung cấp các loại hình dịch vụ theo nhu cầu của xã hội, nâng cao ý thức chi tiêu tiết kiệm, hiệu quả.

- Ứng dụng công nghệ thông tin tại các sở - ngành, quận - huyện theo quy trình kết nối liên thông đã mang lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành của thành phố và phục vụ người dân, doanh nghiệp; đồng thời Cổng thông tin “một cửa điện tử” đã giúp người dân có thể tra cứu mọi thông tin về tình trạng hồ sơ hành chính trên một số lĩnh vực như: nhà, đất, đăng ký kinh doanh... Mở rộng lĩnh vực áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và ISO 9001:2008 tại các sở - ngành, quận - huyện đến phường - xã, thị trấn đã cải tiến lề lối làm việc và giúp lãnh đạo đơn vị, địa phương kiểm soát được quy trình chất lượng, thời gian giải quyết công việc.

b) Một số mặt còn tồn tại, hạn chế:

- Việc xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị giai đoạn 2011-2015 tại một số đơn vị sở-ngành thành phố còn chậm, thiếu sự quan tâm đúng mức nên việc xây dựng các Chương trình, Đề án theo Quyết định số 23/2011/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố còn chưa kịp thời. Một số đơn vị chưa thật sự chủ động trong việc nghiên cứu, tìm các giải pháp đột phá để đẩy mạnh công tác cải cách hành chính theo lĩnh vực, ngành phụ trách;

- Vẫn còn đơn vị chưa nhận thức đúng mức về tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính trong việc điều hành, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, chưa nhận thấy đầy đủ trách nhiệm phải thực hiện công tác cải cách hành chính theo ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách, từ đó thiếu sự phân công, phân nhiệm rõ ràng trong việc thực hiện công tác cải cách hành chính tại đơn vị.

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương chưa được rà soát, hệ thống hóa, pháp điển hóa, còn chồng chéo, gây khó khăn cho cán bộ công chức, người dân;

- Số lượng thủ tục theo Đề án 30 để áp dụng quy trình ISO là rất lớn và thường xuyên thay đổi, gây khó khăn khi triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo mô hình khung.

- Đối với việc thực hiện mô hình “Một cửa hiện đại”, đến nay, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể của Bộ-ngành và Trung ương về tiêu chí xây dựng mô hình, gây khó khăn trong việc triển khai các giải pháp về mặt cơ chế.

- Thái độ phục vụ của cán bộ, công chức trong giải quyết công việc cho người dân và doanh nghiệp có tiến bộ hơn, nhưng cũng còn hiện tượng né tránh, sợ trách nhiệm, thái độ thờ ơ trong giải quyết công việc tồn tại trong một bộ phận cán bộ, công chức đang là những lực cản gây trở ngại cho việc thực hiện chương trình cải cách hành chính của thành phố. Một số cán bộ, công chức chưa thực sự tích cực trong cải cách hành chính, chưa chủ động nghiên cứu đề xuất cải cách hành chính trong từng công tác mình phụ trách.

- Chưa có chương trình Chính phủ điện tử thống nhất trong cả nước nên việc kết nối hệ thống thông tin theo chiều dọc từ Trung ương đến địa phương chưa được thực hiện một cách đồng bộ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong liên thông giải quyết thủ tục hành chính giữa các cấp, các ngành còn chậm. Các Dự án công nghệ thông tin, phần mềm ứng dụng liên thông triển khai tử các cơ quan trung ương theo ngành dọc thiếu tính tổng thể, tính hệ thống, còn chậm và không đồng bộ với mô hình chung của thành phố gây trùng lắp, lãng phí thời gian và kinh phí.

c) Nguyên nhân:

- Sự quan tâm của lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị đến công tác cải cách hành chính chưa quyết liệt; nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức còn chưa đầy đủ về công tác cải cách hành chính;

- Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức còn chưa đồng đều, có nơi còn yếu, nhất là về năng lực làm việc trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và năng lực tham mưu, đề xuất các biện pháp về cải cách hành chính;

- Việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông còn nhiều khó khăn do một số thủ tục hành chính còn những bất cập trong cơ sở pháp lý, hướng dẫn thực hiện của các cơ quan trung ương, chủ yếu là trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường, xây dựng, đầu tư;

- Một số cán bộ, công chức khi giải quyết công việc có liên quan đến tổ chức, công dân còn có biểu hiện nhũng nhiễu, tiêu cực làm ảnh hưởng chung tới công tác cải cách hành chính của thành phố.

II. Một số nhiệm vụ trọng tâm năm 2013:

Căn cứ Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ “Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020”; “Chương trình cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị giai đoạn 2011-2015” theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ IX; Quyết định số 23/2011/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2011 và Quyết định số 65/2011/QĐ-UBND ngày 20 tháng 10 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố, một số nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Chương trình cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị trong năm 2013 như sau:

- Tăng cường chỉ đạo, điều hành thực hiện Chương trình công tác Cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng chính quyền đô thị ở các ngành, các cấp;

- Tiếp tục đôn đốc các đơn vị nhanh chóng đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình, Đề án theo Chương trình Cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng chính quyền đô thị.

- Tăng cường kiểm tra công tác cải cách hành chính trên địa bàn thành phố.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về cải cách hành chính bằng các hình thức: tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm chuyên đề, các hội thi tìm hiểu về cải cách hành chính, cẩm nang, tờ gấp, các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài..)...

- Tiếp tục triển khai thực hiện các Đề án thuộc Chương trình hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2011 - 2015 trên địa bàn thành phố; tăng cường công tác tập huấn, kiểm tra để từng bước đưa công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được nâng cao, hiệu quả hơn;

- Tiếp tục là soát các văn bản quy phạm pháp luật do Trung ương và Ủy ban nhân dân thành phố ban hành, nhằm sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung những quy định không còn phù hợp;

- Tiếp tục rà soát các quy định, thủ tục hành chính đang là rào cản đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, địa phương theo các tiêu chí về sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp và tính hiệu quả để kịp thời kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm thực hiện công khai kịp thời, đầy đủ, cụ thể các quy định về thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tiếp cận, thực hiện và giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính;

- Tăng cường công tác kiểm tra, nhất là lĩnh vực y tế, tài nguyên môi trường, thuế, hướng dẫn việc triển khai thực hiện thủ tục hành chính; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về thủ tục hành chính, quy định hành chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính của thành phố.

- Tiếp tục rà soát về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế hiện có của các cơ quan chuyên môn; các cơ quan, tổ chức khác thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương (bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước); trên cơ sở đó điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan, đơn vị nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao,... thực hiện đồng bộ phân cấp về tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức, viên chức thuộc thành phố.

- Tiếp tục phân cấp quản lý mạnh hơn, đồng bộ cho sở-ngành, quận- huyện các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước để nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động trong quản lý và phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp giữa thành phố và chính quyền cơ sở gắn với việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp các ngành; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất và phát huy được tính chủ động, sáng tạo của các cấp, các ngành và các đơn vị trong việc tổ chức triển khai thực hiện; nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan hành chính cấp trên đối với cấp dưới; tăng thẩm quyền quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với người đứng đầu các cơ quan chuyên môn; nghiên cứu thí điểm thực hiện cơ quan chuyên môn quản lý theo ngành dọc trên địa bàn thành phố.

- Tiếp tục đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ theo yêu cầu vị trí công tác (về kiến thức, kỹ năng và thái độ hành vi ứng xử), sát với thực tế, hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành chính đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động của cơ quan hành chính, nhất là trong giải quyết các yêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp;

- Tổ chức học tập, quán triệt và có kế hoạch triển khai thực hiện Luật Cán bộ, Công chức và các Nghị định của Chính phủ; từng bước nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức;

- Thực hiện cơ chế đào tạo tiền công vụ và đào tạo, bồi dưỡng trong công vụ theo định kỳ bắt buộc hàng năm; Thực hiện chế độ đào tạo trước khi bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo trong bộ máy hành chính thành phố;

- Hoàn chỉnh và triển khai: Đề án cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức ở các cơ quan hành chính và sự nghiệp của thành phố; Đề án tổ chức thực hiện thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ vào chức danh lãnh đạo, quản lý cấp phòng quận-huyện, sở-ngành; Đề án thí điểm thi tuyển một số chức danh công chức lãnh đạo phòng ban chuyên môn sở-ngành thành phố, phòng ban chuyên môn quận-huyện gắn với chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính các đơn vị sự nghiệp;

- Nghiên cứu lại Quỹ cải cách tiền lương của thành phố, kiến nghị Trung ương cho thành phố chủ động sử dụng Quỹ cải cách tiền lương để có hướng đề xuất những chính sách ưu đãi, thu hút nguồn nhân lực có chất lượng vào bộ máy hành chính.

- Tiếp tục thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ đối với cơ quan nhà nước.

- Triển khai chương trình phát triển Công nghệ Thông tin đã được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt; Thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng công, nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan. Bảo đảm hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành, trao đổi thông tin thông suốt, kịp thời từ Ủy ban nhân dân thành phố đến các sở - ngành, quận - huyện và một số phường, xã điểm. Đẩy mạnh việc sử dụng hộp thư điện tử và ứng dụng hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc.

- Tiếp tục mở rộng ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của cơ quan.

III. Các đề xuất, kiến nghị đối với Chính phủ, các Bộ-ngành Trung ương:

- Kiến nghị Chính phủ sớm hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật, trong đó quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các cơ quan, đẩy mạnh phân cấp giữa Trung ương và địa phương, cơ quan Nhà nước thẩm quyền chung với cơ quan Nhà nước thẩm quyền riêng; tăng cường phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; có cơ chế riêng cho chính quyền đô thị. Sớm khắc phục tình trạng không đồng bộ trong quy định pháp luật (Luật đã có hiệu lực nhưng chờ Nghị định, Nghị định chờ Thông tư,...). Đẩy mạnh đơn giản hóa các thủ tục hành chính thông qua các quyết định thực thi theo Đề án 30 của Chính phủ.

- Kiến nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định quy định cụ thể về Công vụ và Thanh tra công vụ theo hướng phát huy trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong thanh tra, kiểm tra công vụ theo ngành, lĩnh vực, cơ quan đơn vị mà mình phụ trách. Ngoài việc đồng bộ quy định pháp luật, đơn giản hóa thủ tục hành chính cần có các quy định, quy chế phối hợp giữa Sở với Bộ-ngành;

- Kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Chương trình Chính phủ điện tử thống nhất trong cả nước để việc kết nối thông tin được thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.

Trên đây là báo cáo sơ kết 02 năm triển khai thực hiện Chương trình đột phá Cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị giai đoạn 2011 - 2015./.

Nơi nhận:

- Thủ tướng Chính phủ;

- Văn phòng Chính phủ (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh);

- Bộ Nội vụ;

- Thường trực Thành ủy;

- Thường trực HĐND TP;

- Thành viên Ủy ban nhân dân thành phố;

- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP;

- Văn phòng Thành ủy, các Ban Thành ủy;

- Các đoàn thể thành phố;

- Các Sở ngành thành phố;

- Ủy ban nhân dân quận-huyện;

- Sở Nội vụ (3b);

- VPUB: CPVP; các phòng CV; TTCB;

- Lưu: VT, (VX-Nh) D. | KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Lê Minh Trí


ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

III. PHỤ LỤC

Báo cáo tiến độ triển khai thực hiện các Chương trình, nhiệm vụ, giải pháp cải cách hành chính

theo Quyết định số 23/2011/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố

(Kèm theo Báo cáo số 488 /BC-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Ủy ban nhân dân thành phố)


Số
TT
Nội dung công việc
Cơ quan/cá nhân
chủ trì
Cơ quan phối hợp
Sản phẩm
Tiến độ thực hiện
1. Đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng công khai, minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho tổ chức, công dân và doanh nghiệp:
1. Đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng công khai, minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho tổ chức, công dân và doanh nghiệp:
1. Đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng công khai, minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho tổ chức, công dân và doanh nghiệp:
1. Đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng công khai, minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho tổ chức, công dân và doanh nghiệp:
1. Đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng công khai, minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho tổ chức, công dân và doanh nghiệp:
1. Đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng công khai, minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho tổ chức, công dân và doanh nghiệp:
1.1
Công tác chỉ đạo, điều
hành chương trình cải cách hành chính
Sở Nội vụ
Các sở ngành thành
viên Ban chỉ đạo cải
cách hành chính
thành phố, các sở -
ban - ngành thành
phố, Ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã, thị trấn
Quyết định số 776/QĐ-
UBND ngày 16/02/2012
về kế họach Cải cách hành chính thành phố năm 2012
Sở Nội vụ thường xuyên
tham mưu UBND TP các chương trình CCHC
hàng năm, kịp thời
hướng dẫn các đơn vị
xây dựng và triển khai kế họach
1.2
Tiếp tục chỉ đạo việc hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, ban
hành văn bản quy phạm
pháp luật trên địa bàn
thành phố, đảm bảo tính
hợp hiến, hợp pháp khi
ban hành văn bản.
Sở Tư pháp
Văn phòng Ủy ban
nhân dân thành phố;
Các sở - ban - ngành
thành phố, Ủy ban
nhân dân quận -
huyện, phường - xã,
thị trấn.
Quyết định số 4605/QĐ-
UBND ngày 27/9/2011
của UBND TP về chương trình hòan thiện và nâng
cao hiệu quả công tác xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật giai đọan 2011-
2015
Đã thực hiện và đang
triển khai, theo dõi việc
thực hiện QĐ của UBND TP

III. 18

1.3 | Đề cao trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan hành chính thành phố trong việc thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước. Xử lý nghiêm những cá nhân, cơ quan, đơn vị và địa phương tùy tiện đặt ra các quy định trái pháp luật, thẩm quyền, gây khó khăn, phiền hà cho tổ chức và công dân. | Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố | Sở Nội vụ, Sở Tư pháp; Thanh tra thành phố, các sở - ban - ngành thành phố có liên quan; Ủy ban nhân dân các quận - huyện, phường - xã, thị trấn. | Chỉ thị số 32/2011/QĐ- UBND ngày 16 tháng 12 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố về tăng cường các biện pháp thực hiện công tác hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn thành phố |

1.4 | Tiếp tục cải cách tư pháp, xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh. Nâng cao phẩm chất, năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp. | Tiếp tục cải cách tư pháp, xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh. Nâng cao phẩm chất, năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp. | Tiếp tục cải cách tư pháp, xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh. Nâng cao phẩm chất, năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp. | Tiếp tục cải cách tư pháp, xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh. Nâng cao phẩm chất, năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp. | Tiếp tục cải cách tư pháp, xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh. Nâng cao phẩm chất, năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp.

| a) Tổ chức sắp xếp lại các cơ quan tư pháp theo chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Triển khai thực hiện thí điểm định chế thừa phát lại, đẩy mạnh xã hội hóa trong công tác thi hành án và các hoạt động có liên quan. | Sở Tư pháp | Các cơ quan tư pháp thành phố, các sở - ban - ngành thành phố có liên quan; | | Đang triển khai xây dựng Đề án sắp xếp lại các cơ quan tư pháp theo chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đã tổ chức sơ kết 01 năm thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trên địa bàn thành phố, qua đó ghi nhận những kết quả buớc đầu, đồng thời cho thấy sự ra đời của chế định Thừa phát lại đã đưa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng về xã hội hóa một số công việc

19


có liên quan đến thi hành án dân sự vào thực tiễn
đời sống pháp luật.
b) Nâng cao phẩm chất,
năng lực, trách nhiệm của
đội ngũ cán bộ cơ quan tư
pháp để đủ sức phát hiện,
xử lý nghiêm minh, đúng
pháp luật các loại tội phạm và giải quyết các tranh
chấp phát sinh trong xã
hội, nhất là ở cơ sở.
Sở Tư pháp
Các cơ quan tư pháp
thành phố, các sở -
ban - ngành thành
phố có liên quan;
Quyết định số 1323/QĐ-
UBND ngày 14 tháng 3
năm 2012 của UBND TP
Đang triển khai Đề án
(dự kiến tháng 10 sẽ khai giảng 02 lớp dành cho
CBCC Sở-Ngành, Quận-
Huyện với số lượng
khỏang 300 người)

2. Về tổ chức bộ máy:

Tổ chức thực hiện chỉ đạo của Chính phủ sau khi điều chỉnh Nghị định số 13/2008/NĐ-CPNghị định số 14/2008/NĐ-CP để xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền thành phố từng bước tiếp cận dần với mô hình chính quyền đô thị; hoàn chỉnh và kiện toàn hệ thống quản lý hành chính nhà nước từ thành phố đến cơ sở để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và

quản lý đô thị lớn với quy mô dân số khoảng 10 triệu theo quy hoạch

2.1 | Thực hiện tốt việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố và xã theo quy định; tiếp tục thí điểm thực hiện Bí thư đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính quận - huyện, phường - xã, thị trấn | Thực hiện tốt việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố và xã theo quy định; tiếp tục thí điểm thực hiện Bí thư đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính quận - huyện, phường - xã, thị trấn | Thực hiện tốt việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố và xã theo quy định; tiếp tục thí điểm thực hiện Bí thư đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính quận - huyện, phường - xã, thị trấn | Thực hiện tốt việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố và xã theo quy định; tiếp tục thí điểm thực hiện Bí thư đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính quận - huyện, phường - xã, thị trấn | Thực hiện tốt việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố và xã theo quy định; tiếp tục thí điểm thực hiện Bí thư đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính quận - huyện, phường - xã, thị trấn

| a) Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường theo hướng tăng cường số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố, bảo đảm mỗi đơn vị hành chính quận, huyện có ít nhất 3 đại biểu; tăng cường số lượng đại biểu chuyên trách, nâng | Ban chỉ đạo thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường tại thành phố | Sở Nội vụ, Ban Tổ chức Thành ủy; Các sở - ban - ngành thành phố có liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận - huyện, phường - xã, thị trấn. | Ban chỉ đạo thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường tại Thành phố đã có Báo cáo số 79/BC-BCĐ ngày 05 tháng 6 năm 2012 về tổng kết bước 2 thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại Thành phố Hồ Chí Minh. Báo cáo có một số kiến nghị về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân Thành phố | - 24 quận-huyện và 259 phường tiếp tục triển khai thực hiện các văn bản của Trung ương, Kế hoạch của thành phố về thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường đến các cơ quan, tổ chức liên quan. Việc sắp xếp, giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ; quy trình nhân sự bổ nhiệm thành

20


cao tính chuyên nghiệp
của đại biểu; cơ quan
thường trực Hội đồng nhân dân và các ban Hội đồng
nhân dân đủ mạnh để đảm bảo vai trò quyết định các
vấn đề lớn và giám sát việc thực hiện của các cơ quan
hành chính các cấp ở thành phố theo luật định.
trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.
viên Ủy ban nhân dân quận, huyện, phường, được duy trì thực hiện, đảm bảo hoạt động liên tục khi thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồngt nhân dân.
b) Tổng kết, rút kinh
nghiệm, kiến nghị bổ sung và hoàn thiện cơ sở pháp
lý về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban
nhân dân quận - huyện,
phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân; tiếp
tục kiến nghị mở rộng thí
điểm không tổ chức Hội
đồng nhân dân tại các xã,
thị trấn. Mở rộng việc thực hiện thí điểm mô hình Bí
thư đồng thời Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận -
huyện, phường, xã, thị
trân; tăng cường vai trò
giám sát và đại diện cho
dân của đại biểu Hội đồng nhân dân và tổ đại biểu
Hội đồng nhân dân thành
phố.
Ban chỉ đạo thí
điểm không tổ
chức HĐND
quận, huyện,
phường tại thành
phố
Sở Nội vụ, Ban Tổ
chức Thành ủy; Các
sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các
quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
Ban chỉ đạo thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường tại Thành phố đã có Báo cáo số 79/BC- BCĐ ngày 05 tháng 6 năm 2012 về tổng kết bước 2 thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại Thành phố Hồ Chí Minh. Báo cáo tổng kết có một số kiến nghị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi thực hiện không tổ chức Hội đồng nhân dân; kiến nghị mở rộng thí điểmt không tổ chức Hội đồng nhân dân tại các xã, thị trấn. Mở rộng việc thực hiện thí điểm mô hình Bí thư đồng thời Chủ tịch Ủy ban nhân dâπ quận
- Về thực hiện thí điểm Bí thư cấp ủy đồng thời Chủ tịch đến nay thành phố đã có 04 quận, huyện (7, 11, Phú Nhuận, huyện Nhà Bè) và có 54/259 phường, 05 xã, 01 thị trấn đã thực hiện thí điểm Rí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân

2.1 21


huyện, phường, xã, thị trấn.
Ban chỉ đạo thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường tại thành phố đã có Báo cáo chuyên đề số 80/BC-BCĐ ngày 05 tháng 6 năm 2012 về "Nghiên cứu mô hình chính quyền đô thị trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường. Báo cáo nêu cơ sở lý luận, những ưu điểm và bất cập của quy định hiện hành, đề xuất định hướng mô hình tổ chức bộ máy quản lý cho phù hợp với khu vực đô thị và khu vực nông thôn.
2.2
Nghiên cứu, đề xuất Chính phủ sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh nội dung Nghị định
số 13/2008/NĐ-CP ngày
04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ; từng bước kiện toàn và sắp xếp các cơ
quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân thành
phố phù hợp với điều kiện và đặc thù của đô thị lớn.
Sở Nội vụ
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Ủy ban nhân
dân các quận - huyện
- Với điều kiện đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị có quy mô dân số 10 triệu dân, nhằm tạo điều kiện cho thành phố hoàn thành nhiệm vụ chính trị và kinh tế - xã hội, Sở Nội vụ đã tham mưu UBND TP kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện cơ chế riêng so với Nghị định số 13/2008/NĐ-CP như: điều
- Tại Thông báo số 134/TB-VPCP ngày
06/6/2011, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép Thành phố Hồ Chí Minh được căn cứ tình hình cụt thể phân công Sở Giao thông vận tải trực tiếp quản lý kết cấu hạ tầng giao thông đô thị (những nội dung khác chưa có ý kiến).
- Ngoài ra, SNV đang

2.1 22


chuyển chức năng nhiệm
vụ giữa các sở gồm Sở
Giao thông vận tải, Sở Tài
nguyên và Môi trường, Sở
Xây dựng, Trung tâm
Điều hành chương trình
chống ngập nước...
- Đã tham mưu Ủy ban
nhân dân Thành phố ban
hành Quyết định số
10/2012/QĐ-UBND về
thành lập Ban Dân tộc
trên cơ sở hợp nhất Ban
Công tác người Hoa và bộ
phận quản lý nhà nước về
công tác dân tộc của Ban
Tôn giáo và Dân tộc thuộc
Sở Nội vụ, Quyết định số
11/2012/QĐ-UBND ngày
16/3/2012 về đổi tên Ban
Tôn giáo và Dân tộc thành
Ban Tôn giáo thuộc Sở
Nội vụ.
phối hợp với Văn phòng Tiếp công dân xây dựng Đề án kiện toàn tổ chức tiếp công dân thuộc các sở ngành và Ủy ban nhân dân quận huyện của Thành phố.
- Đã hoàn thành Báo cáo
số 1829/BC-SNV ngày
22/12/2011 về thực trạng
việc thực hiện quyền hạn,
tổ chức và hoạt động của
các cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân
Thành phố gửi Viện Khoa
học Tổ chức Nhà nước-Bộ
Nội vụ.

2.1 23

2.3 | Đẩy mạnh phân cấp trong công tác quản lý nhà nước đồng bộ và phù hợp hơn cho các sở - ngành, Ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã, thị trấn theo hướng xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, từng cấp chính quyền địa phương. | Đẩy mạnh phân cấp trong công tác quản lý nhà nước đồng bộ và phù hợp hơn cho các sở - ngành, Ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã, thị trấn theo hướng xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, từng cấp chính quyền địa phương. | Đẩy mạnh phân cấp trong công tác quản lý nhà nước đồng bộ và phù hợp hơn cho các sở - ngành, Ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã, thị trấn theo hướng xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, từng cấp chính quyền địa phương. | Đẩy mạnh phân cấp trong công tác quản lý nhà nước đồng bộ và phù hợp hơn cho các sở - ngành, Ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã, thị trấn theo hướng xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, từng cấp chính quyền địa phương. | Đẩy mạnh phân cấp trong công tác quản lý nhà nước đồng bộ và phù hợp hơn cho các sở - ngành, Ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã, thị trấn theo hướng xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, từng cấp chính quyền địa phương.

| a) Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban nhân dân quận - huyện với các cơ quan chuyên môn cấp thành phố để đảm bảo tính thống nhất và thông suốt tổ chức và quản lý. | Sở Nội vụ | Các sở - ban - ngành thành phố có liên quan, Ủy ban nhân dân các quận - huyện, phường - xã, thị trấn | Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, Thành phố thuộc tỉnh quy định: "các cơ quan chuyên môn quận - huyện là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân quận - huyện thực hiện quản lý nhà nước về các lĩnh vực được phân công", do đó các cơ quan chuyên môn quận - huyện sẽ chịu sự chỉ đạo, quản lý công tác của Ủy ban nhân dân quận - huyện; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của các Sở liên quan. Hiện nay, giữa các cơ quan chuyên môn cấp Thành phố có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn quận - huyện thông qua Quy chế tổ chức và hoạt động của từng cơ quan chuyên môn Thành phố và quận - huyện. Do đó, không nhất thiết phải xây dựng quy chế phối hợp giữa Ủy ban nhân dân |

24


quận - huyện với các sở,
ngành thành phố.
b) Tăng cường thanh tra,
kiểm tra nhằm vừa bảo
đảm sự lãnh đạo tập trung
thống nhất vừa phát huy
tính chủ động sáng tạo của các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện.
Thanh tra thành
phố
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan, Ủy ban nhân
dân các quận - huyện, phường - xã, thị trấn
Qđ số 420/QĐ-UBND
ngày 26/01/2011, số
871/QĐ-UBND ngày
26/02/2011 của UBND TP phê duyệt kế họach thanh
tra
Hàng năm Thanh tra
thành phố đều xây dựng
kế họach cụ thể trình
UBND TP phê duyệt
2.4
Tổ chức bộ máy chính quyền các cấp theo đặc điểm đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
Tổ chức bộ máy chính quyền các cấp theo đặc điểm đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
Tổ chức bộ máy chính quyền các cấp theo đặc điểm đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
Tổ chức bộ máy chính quyền các cấp theo đặc điểm đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
Tổ chức bộ máy chính quyền các cấp theo đặc điểm đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
a) Kiện toàn, sắp xếp các
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành
phố; các phòng chuyên
môn thuộc Ủy ban nhân
dân các quận - huyện theo quy định của Chính phủ và Đề án được duyệt.
Sở Nội vụ
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan và Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các
quận - huyện.
Quyết địnhs
số
01/2011/QĐ-UBND và số 02/2011/QĐ-UBND ngày 11/01/2011 của UBND TP về Quy chế (mẫu) về tổ chức và hoạt động của Phòng Tài chính-Kế hoạch và Phòng Kinh tế quận-huyện.
- Tiếp tục áp dụng thống nhất mô hình tổ chức các phòng chuyên môn quận- huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh như nhau để phù hợp với tình hình đô thị hóa ở các huyện hiện nay. Cụ thể, tại các huyện có Phòng Kinh tế và Phòng Quản lý đô thị (thay vì Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Công Thương).
- Tiếp tục hỗ trợ Ủy ban nhân dân quận-huyện phân công Phòng Kinh tế thực hiện công tác quản lý nhà nước về "đăng ký kinh doanh; tổng hợp. thống nhất quản lý về kinh tế hợp tác xã, kinh tế tập thể và kinh tế tư

2.3 25


nhân" (thay vì Phòng Tài chính - Kế hoạch) và Phòng Quản lý đô thị thực hiện nhiệm vụ "Phòng, chống thiên tai (lũ, lụt, bão,...)" (thay vì Phòng Kinh tế).
b) Đẩy mạnh phân cấp
nhiệm vụ từ Ủy ban nhân
dân thành phố cho các sở -
ngành, quận - huyện,
phường - xã, thị trấn xác
định rõ trách nhiệm thực
hiện nhiệm vụ được phân
cấp, ủy quyền.
Sở Nội vụ
Sở Tư pháp; Văn
phòng Ủy ban nhân
dân thành phố; Các
sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch
UBND quận - huyện,
phường - xã, thị trấn.
Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định:
- Phân cấp cho Ủy ban nhân dân quận - huyện quyết định số lượng, bố trí các chức danh cán bộ, công chức và cán bộ không chuyên trách phường, xã, thị trấn (Quyết định số 60/2010/QĐ-UBND ngày 31 tháng 8 năm 2010); - Chuyển giao việc thực hiện chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức phường, xã, thị trấn cho Ủy ban nhân dân quận - huyện (Công văn số 642/UBND-VX ngày 16 tháng 02 năm 2012);
- Phân cấp cho Thủ trưởng Sở, ngành Thành phố và Ủy ban nhân dân quận - huyện quyết định nâng bậc lương .thường xuyên, nâng bậc lương trước thời hạn và phụ cấp thâm niên vượt khung (gọi chung là nâng lương) đối với cán bộ, công chức, viên chức của các đơn vị thuộc Thành phố (Quyết

2.3 26


định số 3556/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2012).
c) Thí điểm nhân dân bầu
trực tiếp Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã
Sở Nội vụ
Ủy ban nhân dân các
huyện, xã.
Do Thành phố đang đề nghị thí điểm mô hình chính quyền đô thị, 3/5 huyện đô thị hóa nhanh đang nghiên cứu đề nghị nâng thành thị xã... nên việc thực hiện "thí điểm nhân dân bầu trực tiếp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã" là không cần thiết tại Thành phố Hồ Chí Minh.
d) Nghiên cứu xây dựng
Đề án thành lập cơ quan
Tài phán hành chính
Thanh tra thành
phố
Sở Nội vụ; Sở Tư
pháp, Sở Tài chính,
Viện Nghiên cứu phát triển
Đang triển khai xây dựng Đề án
3. Tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. công chức; cải cách chế độ công chức, công vụ:
3. Tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. công chức; cải cách chế độ công chức, công vụ:
3. Tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. công chức; cải cách chế độ công chức, công vụ:
3. Tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. công chức; cải cách chế độ công chức, công vụ:
3. Tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. công chức; cải cách chế độ công chức, công vụ:
3. Tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. công chức; cải cách chế độ công chức, công vụ:
3.1
Công tác đào tạo, bồi
dưỡng:
a) Xây dựng kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
chương trình đào tạo
nguồn nhân lực của thành
phố giai đoạn 2010 - 2015. Đổi mới nội dung và
chương trình đào tạo, bồi
dưỡng kiến thức chuyên
môn nghiệp vụ theo yêu
cầu vị trí công tác (về kiến thức, kỹ năng và thái độ
hành vi ứng xử); gắn liền
Sở Nội vụ
Trường Cán bộ thành phố, các sở - ban -
ngành thành phố có
liên quan; Chủ tịch
UBND quận - huyện,
phường - xã, thị trấn.
Đã tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 22/2011/QD-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2011 về ban hành kế hoạch thực hiện chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thành phố 2011- 2015; Quyết định số 5033/QD-UBND ngày 21 tháng 10 năm 2011 về phê
Hiện đang tổ chức thực hiện theo tiến độ hàng năm.

2.3 27


với nội dung cuộc vận
động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Thực hiện chế độ
dào tạo trước khi bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo trong bộ máy hành chính thành
phố.
duyệt kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức nhà nước của Thành phố giai đoạn 2011-2015; Quyết định số 1991/QD- UBND ngày 13 tháng 4 năm 2012 về ban hành kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý xây dựng và phát triển đô thị đối với cán bộ công chức lãnh đạo, chuyên môn đô thị các cấp của Thành phố giai đoạn 2010-2015.
b) Tổ chức học tập, quán
triệt và có kế hoạch triển
khai thực hiện Luật Cán
bộ, Công chức và các Nghị định của Chính phủ; từng
bước nâng cao tinh thần
trách nhiệm và đạo đức
nghề nghiệp của cán bộ
công chức.
Sở Nội vụ
Trường Cán bộ thành phố, các sở - ban -
ngành thành phố có
liên quan; Chủ tịch
UBND quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
- Tổ chức học tập, quán triệt và có kế hoạch triển khai thực hiện Luật Cán bộ, công chức và các Nghị định, Thông tư có liên quan với 950 lượt cán bộ, công chức tham dự nhằm từng bước nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, công chức của Thành phố.
c) Đổi mới phương thức và nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức sát với thực tế, hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình
thực thi công vụ. Thông
Sở Nội vụ
Trường Cán bộ thành
phố, các sở - ban -
ngành thành phố có
liên quan; Chủ tịch
UBND quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
Đã phối hợp với Ban Quản lý dự án Cải cách hành chính xây dựng 20 chuyên đề mới, gồm: kỹ năng lãnh đạo và quản lý; quản lý chiến lược và xây dựng chiến lược phát triển

2.3 28


qua đào tạo, bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ và
Thành phố; kỹ năng giải
quyết vấn đề và ra quyết
kỹ năng hành chính bảo
định; kỹ năng nghiên cứu
đảm tính thống nhất trong
và phân tích chính sách
hoạt động của cơ quan
công; kỹ năng quản lý
hành chính, nhất là trong
giải quyết các yêu cầu của
nguồn nhân lực... và tổ
chức đào tạo thí điểm,
nhân dân, doanh nghiệp.
đồng thời chuyển giao cho
Trường Cán bộ Thành phố
để tiếp tục áp dụng việc
đổi mới phương thức và
nội dung các chương trình
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức sát với thực tế,
hướng vào các vấn đề
thiết thực đặt ra từ quá
trình thực thi công vụ.
- Đổi mới chương trình
đào tạo Trung cấp chính
trị và Trung cấp hành
chính giúp tiết kiệm kinh
phí và giảm thời gian học
cho cán bộ, công chức. Cụ
thể: cán bộ, công chức có
bằng Trung cấp chính trị
khi có nhu cầu học lấy
bằng Trung cấp hành
chính chỉ cần học 5 tháng
chuyển đổi bổ sung kiến
thức sẽ được cấp bằng
Trung cấp hành chính
thay vì phải học 20 thángn
như chương trình trước
đây.

2.3 29


d) Thực hiện cơ chế đào
tạo tiền công vụ và đào
tạo, bồi dưỡng trong công
vụ theo định kỳ bắt buộc
hàng năm; thực hiện chế
độ đào tạo, bồi dưỡng
trước khi bổ nhiệm.
Sở Nội vụ
Trường Cán bộ thành
phố, các sở - ban -
ngành thành phố có
liên quan; Chủ tịch
UBND quận - huyện,
phường - xã, thị trấn.
- Thực hiện cơ chế đào tạo tiền công vụ và đào tạo, bồi dưỡng trong công vụ về kiến thức quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, vi tính định kỳ bắt buộc hàng năm cho 36.213 lượt cán bộ, công chức theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP
ngày
05/3/2010 của Chính phủ.
- Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm về kỹ năng lãnh đạo, quản lý và kỹ năng nghiên cứu và phân tích chính sách công cho 167 cán bộ lãnh đạo cấp phòng-ban trong bộ máy hành chính nhà nước.
Đang xây dựng đề cương thực hiện cơ chế đào tạo tiền công vụ và đào tạo, bồi dưỡng trong công vụ theo định kỳ bắt buộc hàng năm; thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm.
3.2
Việc tuyển dụng cán bộ, công chức hành chính phải thực sự xuất phát từ yêu cầu công việc, theo tiêu chí công khai, trên ccơ sở phân tích, đánh giá, dự báo nguồn nhân lực hiện tại và tương lai. Việc tuyển dụng gắn với tinh giản biên chế theo hướng đổi mới về chất, thay thế những người không đáp ứng được yêu cầu thực thi công vụ trong nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại.
Việc tuyển dụng cán bộ, công chức hành chính phải thực sự xuất phát từ yêu cầu công việc, theo tiêu chí công khai, trên ccơ sở phân tích, đánh giá, dự báo nguồn nhân lực hiện tại và tương lai. Việc tuyển dụng gắn với tinh giản biên chế theo hướng đổi mới về chất, thay thế những người không đáp ứng được yêu cầu thực thi công vụ trong nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại.
Việc tuyển dụng cán bộ, công chức hành chính phải thực sự xuất phát từ yêu cầu công việc, theo tiêu chí công khai, trên ccơ sở phân tích, đánh giá, dự báo nguồn nhân lực hiện tại và tương lai. Việc tuyển dụng gắn với tinh giản biên chế theo hướng đổi mới về chất, thay thế những người không đáp ứng được yêu cầu thực thi công vụ trong nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại.
Việc tuyển dụng cán bộ, công chức hành chính phải thực sự xuất phát từ yêu cầu công việc, theo tiêu chí công khai, trên ccơ sở phân tích, đánh giá, dự báo nguồn nhân lực hiện tại và tương lai. Việc tuyển dụng gắn với tinh giản biên chế theo hướng đổi mới về chất, thay thế những người không đáp ứng được yêu cầu thực thi công vụ trong nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại.
Việc tuyển dụng cán bộ, công chức hành chính phải thực sự xuất phát từ yêu cầu công việc, theo tiêu chí công khai, trên ccơ sở phân tích, đánh giá, dự báo nguồn nhân lực hiện tại và tương lai. Việc tuyển dụng gắn với tinh giản biên chế theo hướng đổi mới về chất, thay thế những người không đáp ứng được yêu cầu thực thi công vụ trong nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại.
a) Xây dựng Đề án cơ cấu
lại đội ngũ công chức, viên chức ở các cơ quan hành
chính và sự nghiệp của
thành phố;
Sở Nội vụ
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân quận -
huyện, phường - xã,
thị trấn.
- Đã tổng hợp, báo cáo
cơ cấu ngạch, số lượng,
chất lượng cán bộ, công
chức và đăng ký chỉ tiêu
thi nâng ngạch công
chức, từ đó làm cơ sở
xây dựng đề án cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công
chức ở các cơ quan hành
chính của Thành phố.

2.3 30


b) Xây dựng Đề án tổ chức thực hiện thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ
vào các chức danh lãnh
đạo, quản lý cấp phòng
Sở Nội vụ
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân quận -
huyện, phường - xã,
thị trấn.
- Đã hoàn thành việc xây
dựng đề cương Đề án tổ
chức thực hiện thí điểm
đổi mới cách tuyển chọn
cán bộ vào các chức danh lãnh đạo, quản lý cấp
phòng-ban chuyên môn
thuộc quận-huyện, sở-
ngành, tiến tới xây dựng
đề án chi tiết trình Ủy
ban nhân dân Thành phố
xem xét, quyết định và
triển khai thí điểm ở một số quận-huyện, sở-ngành thành phố. Đến năm
2015 dự kiến áp dụng
rộng rãi trên phạm vi
toàn Thành phố.
c) Làm tốt công tác quy
hoạch và thực hiện quy
hoạch cán bộ, công chức;
xây dựng chính sách đãi
ngộ, khen thưởng, thu hút
đối với cán bộ, chuyên gia có trình độ cao (trong và
ngoài nước) có công trình
ứng dụng có hiệu quả vào
sự phát triển của thành
phố;
Sở Nội vụ
Thủ trưởng các cơ
quan chuyên môn
quản lý nhà nước
thành phố; Chủ tịch
Ủy ban nhân dân
quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
- Phối hợp với Ban Tổ chức Thành ủy làm tốt công tác xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch cán bộ, công chức (cán bộ diện Thành ủy quản lý, cán bộ nguồn dự bị đưa về cơ sở công tác, quy hoạch cán bộ xuất thân từ công nhân...).
- Tham mưu cho Ủy ban nhân dân Thành phố về chế độ ưu đãi thí điểm đặc thù cho các nhà khoa học Việt kiều công tác tại Viện Khoa học và Công
Tiếp tục theo dõi và thực
hiện các chính sách Ủy
ban nhân dân Thành phố
đã duyệt cho đội ngũ cán
bộ trí thức này.

2.3 31


nghệ tính toán; Ban Quản lý Khu Công nghệ cao; Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao; là tiền đề để xây dựng chính sách đãi ngộ, khen thưởng, thu hút đối với cán bộ, chuyên gia có trình độ cao (trong và ngoài nước) có công trình ứng dụng có hiệu quả vào sự phát triển của thành phố.
3.3
Xây dựng tiêu chí, quy
trình đánh giá cán bộ và
chất lượng hoàn thành
nhiệm vụ cụ thể, thống
nhất, khoa học, khách
quan nhằm động viên,
khuyến khích, phát huy tối đa khả năng cống hiến, bộ lộ tiềm năng và góp phần
cải thiện môi trường làm
việc.
Sở Nội vụ
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân quận -
huyện, phường - xã,
thị trấn.
- Đã đề xuất Bộ Nội vụ sửa đổi Quyết định số 11/1998/QĐ-TCCP-
CCVC ngày 05/12/1998 của Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ về ban hành Quy chế đánh giá công chức hàng năm (hiện nay quy trình đánh giá cán bộ khối đảng và khối chính quyền khác nhau). Sau khi có hướng dẫn mới của Bộ Nội vụ, Thành phố sẽ nghiên cứu xây dựng tiêu chí, quy trình đánh giá cán bộ và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ cụ thể, thống nhất, khoa học, khách quan. Thành phố đang xây dựng dự thảo Quy định

2.3 32


tạm thời đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức hàng năm.
3.4
Tăng cường kiểm tra, thanh tra công vụ, kiểm soát được các đầu mối công việc trong nội bộ các cơ quan hành chính để phát hiện kịp thời các nguy cơ dẫn đến tiêu cực, quan liêu và tham nhũng.
Tăng cường kiểm tra, thanh tra công vụ, kiểm soát được các đầu mối công việc trong nội bộ các cơ quan hành chính để phát hiện kịp thời các nguy cơ dẫn đến tiêu cực, quan liêu và tham nhũng.
Tăng cường kiểm tra, thanh tra công vụ, kiểm soát được các đầu mối công việc trong nội bộ các cơ quan hành chính để phát hiện kịp thời các nguy cơ dẫn đến tiêu cực, quan liêu và tham nhũng.
Tăng cường kiểm tra, thanh tra công vụ, kiểm soát được các đầu mối công việc trong nội bộ các cơ quan hành chính để phát hiện kịp thời các nguy cơ dẫn đến tiêu cực, quan liêu và tham nhũng.
Tăng cường kiểm tra, thanh tra công vụ, kiểm soát được các đầu mối công việc trong nội bộ các cơ quan hành chính để phát hiện kịp thời các nguy cơ dẫn đến tiêu cực, quan liêu và tham nhũng.
a) Sơ kết 3 năm thực hiện
Nghị định 158/NĐ-CP
ngày 27 tháng 10 năm
2007 của Chính phủ và
tiếp tục thực hiện có hiệu
quả quy định danh mục
các vị trí công tác và thời
hạn định kỳ chuyển đổi
công tác đối với cán bộ,
công chức, viên chức; nhất là những loại công việc
thường xuyên tiếp xúc với nhân dân và doanh nghiệp.
Sở Nội vụ
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân quận -
huyện, phường - xã,
thị trấn.
Báo cáo số 123/BC-UBND ngày 05 tháng 10 năm 2011 về thực hiện Nghị định số 107/2006/NĐ-CP và Nghị định số 158/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
b) Triển khai thực hiện
Nghị định số 63 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục
hành chính
Văn phòng Ủy
ban nhân dân
thành phố
- Sở Tư pháp, Sở Nội vụ, các sở - ban -
ngành thành phố có
liên quan; Chủ tịch
Ủy ban nhân dân các
quận - huyện.
Thành lập phòng Kiểm
sóat thủ tục hành chính
(QĐ số 1516/QĐ-UBND
ngày 25/3/2011 của
UBND TP); ban hành quy định về kiểm sóat thủ tục hành chính (Quyết định số 79/2011/QĐ-UBND ngày 13/12/2011 của UBND
TP); ban hành quy chế
tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ
chức về quy định hành
chính (Quyết định số
80/2011/QĐ-UBND ngày

2.3 33


c) Nghiên cứu về chính
sách và chế độ tôn vinh,
khuyến khích sự tận tâm
thực hiện công vụ, khen
thưởng thích đáng về vật
và tinh thần cho đội ngũ
cán bộ, công chức, viên
chức thành phố.
Sở Nội vụ
Ban Tổ chức Thành
ủy; Sở Tài chính;
Thanh tra thành phố;
Ban Chỉ đạo thành
phố về phòng, chống
tham nhũng
13/12/2011 của UBND
TP)
Đã tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định
58/2011/QĐ-UBND ngày 07 tháng 9 năm 2011 thay thế Quyết định
169/2006/QĐ-UBND
ngày 22 tháng 11 năm 2006 của Ủy ban nhân dân Thành phố quy định về công tác thi đua, khen thưởng tại Thành phố và ban hành văn bản góp ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, Khen thưởng.
Trong 02 năm qua, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành gần 2000 quyết định khen thưởng cấp Thành phố và đề xuất Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Nước 176 tờ trình khen cao
Tiếp tục thực hiện tốt công tác khen thưởng kinh tế - xã hội cấp Thành phố, hoàn tất hồ sơ các trường hợp đề nghị phong tặng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng cấp nhà nước đúng tiến độ và theo luật định.
4. Cải cách tài chính công:
4. Cải cách tài chính công:
4. Cải cách tài chính công:
4. Cải cách tài chính công:
4. Cải cách tài chính công:
4. Cải cách tài chính công:
4.1
Tăng cường giao quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ
công thay cho việc hỗ trợ
Sở Tài chính
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các
quận - huyện, phường
Quyết định của UBND TP giao quyền tự chủ về tài
chính và báo cáo kết quả
thực hiện trình UBND TP để báo cáo Chính phủ
Định kỳ Sở tài chính đều có báo cáo theo quy định

2.3 34


kinh phí hoạt động thường xuyên để ngân sách thành
phố tập trung phát triển
các lĩnh vực trọng tâm,
trọng điểm.
- xã, thị trấn.
định kỳ hàng năm
4.2
Nghiên cứu, góp ý Đề án
thí điểm thực hiện cơ chế
cấp phát ngân sách theo
kết quả công việc đối với
cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập
Sở Tài chính
Sở Nội vụ; Sở Tư
pháp; Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Đến nay chưa có Đề án
của Chính phủ nên chưa
triển khai thực hiện
4.3
Thực hiện Nghị định số
130/2005/NĐ-CP ngày 17
tháng 10 năm 2005 của
Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và
kinh phí quản lý hành
chính.
Sở Tài chính
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Ủy ban nhân
dân các quận - huyện.
Quyết định của UBND TP giao quyền tự chủ về tài
chính và báo cáo kết quả
thực hiện trình UBND TP để báo cáo Chính phủ
định kỳ hàng năm
Định kỳ Sở tài chính đều
có báo cáo theo quy định
4.4
Thực hiện Nghị định số
43/2005/NĐ-CP ngày 25
tháng 4 năm 2006 của
Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ
chức bộ máy, biên chế và
tài chính đối với đơn vị sự
nghiệp công lập
Sở Tài chính
Các đơn vị sự nghiệp
công lập thuộc thành
phố; Ủy ban nhân dân các quận - huyện.
Quyết định của UBND TP giao quyền tự chủ về tài
chính và báo cáo kết quả
thực hiện trình UBND TP để báo cáo Chính phủ
định kỳ hàng năm
Định kỳ Sở tài chính đều có báo cáo theo quy định
4.5
Thực hiện Nghị định số
115/2005/NĐ-CP ngày 05
tháng 9 năm 2005 của
Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Sở Khoa học và
Công nghệ
Sở Tài chính, các sở - ban - ngành thành
phố có liên quan; Ủy
ban nhân dân các
Hàng năm, UBND TP có báo cáo kết quả thực hiện NĐ 115

2.3 35


của Tổ chức khoa học và
công nghệ
quận - huyện
4.6
Nghiên cứu góp ý Đề án
xây dựng cơ chế thực hiện chuyển đổi một số đơn vị
sự nghiệp công lập đang
đảm bảo kinh phí hoạt
động thường xuyên hoặc
tự đảm bảo được phần lớn kinh phí hoạt động thường xuyên sang doanh nghiệp
nhà nước (Công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành
viên).
Sở Tài chính
Sở Nội vụ; Sở Tư
pháp; Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Đến nay chưa có Đề án
của Chính phủ nên chưa
triển khai thực hiện
4.7
Tiếp tục nghiên cứu, đề
xuất chính sách và giải
pháp thực hiện sâu rộng
hơn chủ trương xã hội hóa trên những lĩnh vực thành
phố có thể thực hiện (y tế,
giáo dục-đào tạo, văn hóa, thể dục thể thao, cơ sở hạ
tầng đô thị...)
Sở Kế hoạch và
Đầu tư
Sở Y tế, Sở Giáo dục
và Đào tạo, Sở Văn
hóa, Thể thao và Du
lịch, Sở Giao thông
vận tải, Sở Nội vụ,
các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Ủy ban nhân
dân các quận - huyện
SKHĐT đã chỉ đạo, phân công cụ thể các phòng
chuyên môn nghiên cứu,
xây dựng kế họach theo
từng lĩn vực
4.9
Thí điểm thực hiện chi
ngân sách theo kết quả
công việc. Xây dựng cơ
chế, chính sách về quản lý
tài chính, giá cả sát với
tình hình KT-XH TP
Sở Tài chính
Các sở - ngành, cơ
quan trực thuộc thành phố; Ủy ban nhân dân các quận - huyện
Đến nay chưa có Đề án
của Chính phủ nên chưat
triển khai thực hiện
5. Hiện đại hóa nền hành chính thành phố:
5. Hiện đại hóa nền hành chính thành phố:
5. Hiện đại hóa nền hành chính thành phố:
5. Hiện đại hóa nền hành chính thành phố:
5. Hiện đại hóa nền hành chính thành phố:
5. Hiện đại hóa nền hành chính thành phố:
5.1
a) Thống nhất việc ứng
dụng công nghệ thông tin
Sở Thông tin và
Truyền thông
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
Quyết định số
27/2012/QĐ-UBND ngày

2.3 36


từ thành phố đến phường-
xã, thị trấn, nhằm phục vụ
và giải quyết các công việc liên quan trực tiếp đến
quyền lợi của nhân dân và
doanh nghiệp theo quy
định; giúp các cơ quan nhà nước xử lý công việc
nhanh, chính xác; giúp
lãnh đạo nắm thông tin kịp thời, kiểm tra công việc đã chỉ đạo.
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các
quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
28/6/2012 của UBND TP
về phê duyệt "Chương
trình phát triển công nghệ
thông tin - truyền thông
giai đọan 2011 - 2015"
b)Hoàn thành hệ thống
thông tin cấp cơ sở, đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin-truyền thông và
hoàn thiện, nâng cấp các
ứng dụng cho 24 quận,
huyện và 30 sở, ngành.
Sở Thông tin và
Truyền thông
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các
quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
Quyết định số
27/2012/QĐ-UBND ngày 28/6/2012 của UBND TP
về phê duyệt "Chương
trình phát triển công nghệ
thông tin - truyền thông
giai đọan 2011 - 2015"
c) Từng bước xây dựng hệ thống giao ban trực tuyến
giữa Ủy ban nhân dân
thành phố với các đơn vị;
bảo đảm hệ thống chỉ đạo,
điều hành, trao đổi thông
tin thông suốt, kịp thời từ
Ủy ban nhân dân thành
phố đến các đơn vị; tiến
đến xây dựng hệ thống
Chính quyền điện tử trên
địa bàn thành phố hoạt
động hiệu quả.
Sở Thông tin và
Truyền thông
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các
quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
Quyết định số
27/2012/QĐ-UBND ngày
28/6/2012 của UBND TP
về phê duyệt "Chương
trình phát triển công nghệ
thông tin - truyền thông
giai đọan 2011 - 2015"

2.3 37


d) Quy hoạch chuẩn hóa
các công sở hành chính
các cấp; khắc phục tình
trạng một số trụ sở cơ
quan hành chính nhất là
cấp phường-xã, thị trấn
chưa đáp ứng được yêu
cầu hoạt động; trang bị
phương tiện làm việc, tạo
thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp đến liên hệ
giải quyết công việc.
Sở Kế hoạch và
Dầu tư
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các
quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
QĐ số 80/2010/QĐ-
UBND ngày 19/11/2010
của UBND TP
Đã phân cấp việc đầu tư
xây dựng trụ sở làm việc
cho UBND Quận-Huyện
5.2
Tiếp tục hoàn thiện hệ
thống "một cửa điện tử",
các hệ thống thông tin,
điều hành kinh tế, văn hóa
- xã hội, quản lý đô thị và
khoa học - công nghệ; tạo
luồng thông tin tự động.
Sở Thông tin và
Truyền thông
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các
quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
Quyết định số
27/2012/QĐ-UBND ngày
28/6/2012 của UBND TP
về phê duyệt "Chương
trình phát triển công nghệ thông tin - truyền thông
giai đọan 2011 - 2015"
a) Tiếp tục mở rộng phạm
vi kết nối với 24 quận -
huyện và các sở, ban,
ngành "Một cửa điện tử"
cung cấp tình trạng giải
quyết hồ sơ thành phố.
Xây dựng bản đồ chia sẻ
thông tin của các đơn vị
sở, ngành, quận, huyện.
Sở Thông tin và
Truyền thông
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các
quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
Quyết định số
27/2012/QĐ-UBND ngày 28/6/2012 của UBND TP
về phê duyệt "Chương
trình phát triển công nghệ thông tin - truyền thông
giai đọan 2011 - 2015"
b) Hoàn thiện hạ tầng
truyền thông với dung
lượng lớn, tốc độ và chất
lượng cao, phục vụ tốt hơn công tác lãnh đạo, chỉ đạo
Sở Thông tin và
Truyền thông
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các
quận - huyện, phường
Quyết định số
27/2012/QĐ-UBND ngày
28/6/2012 của UBND TP
về phê duyệt "Chương
|trình phát triển công nghệ

2.3 38


của các cấp chính quyền
thành phố và nhu cầu của
người dân, doanh nghiệp,
từng bước nâng cao chất
lượng phục vụ và dịch vụ
công trực tuyến.
- xã, thị trấn.
thông tin - truyền thông
giai đọan 2011 - 2015"
5.3
Khai thác tối đa công năng về ứng dụng công nghệ
thông tin từ thành phố đến phường - xã, thị trấn gắn
với quá trình thực hiện cải cách hành chính; tiếp tục
hoàn thiện hệ thống "một
cửa điện tử"; triển khai
mạng Metronet phục vụ
Chính phủ điện tử kết nối
các sở - ngành và UBND
các quận - huyện thành
một hệ thống
Sở Thông tin và
Truyền thông
Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Nội vụ;
Văn phòng Ủy ban
nhân dân thành phố
Quyết định số
27/2012/QĐ-UBND ngày 28/6/2012 của UBND TP
về phê duyệt "Chương
trình phát triển công nghệ thông tin - truyền thông
giai đọan 2011 - 2015"
5.4
Tiếp tục áp dụng hệ thống
quản lý chất lượng theo
tiêu chuẩn ISO 9001:2008 từ thành phố đến UBND
phường - xã thị trấn
Sở Khoa học và
Công nghệ
Các sở - ban - ngành
thành phố có liên
quan; Ủy ban nhân
dân các quận - huyện, phường - xã, thị trấn
UBND TP đang xem xét
ban hành kế họach

2.3 39

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu188/BC-UBND
Ngày ban hành06/12/2012
Loại văn bảnBáo cáo
Ngày có hiệu lực06/12/2012
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND thành phố Hồ Chí Minh / Lê Minh Trí
Phạm viTP. Hồ Chí Minh
Trích yếu2012 sơ kết thực hiện chương trình Cải cách hành chính Hồ Chí Minh
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.