|
UBND TỈNH LÀO CAI Số: 05/CT-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Lào Cai, ngày 03 tháng 04 năm 1993 |
CHỈ THỊ CỦA UBND TỈNH LÀO CAI
Về phát triển giao thông nông thôn tỉnh Lào Cai
_______________________
Để xây dựng tỉnh Lào Cai thực sự phát triển về kinh tế, vững mạnh về an ninh Quốc phòng, lành mạnh về quan hệ xã hội và có nền văn hóa tiên tiến, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc thì trước hết và cần thiết phải phát triển hệ thống giao thông từ tỉnh đến huyện đến xã và liên xã thôn. Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các ngành, các cấp và toàn thể nhân dân trong tỉnh quán triệt một số quan điểm lớn và tổ chức thực hiện các mục tiêu về phát triển giao thông như sau:
I. - Quán triệt những quan điểm lớn về phát triển giao thông nông thôn tỉnh Lào Cai:
1. Giao thông là cơ sở hạ tầng quan trọng, sự phát triển của giao thông thực sự là động lực thúc đẩy mọi sự giao lưu về hàng hóa, văn hóa,...từ đó làm cho nền kinh tế hàng hóa phát triển, có điều kiện để củng cố an ninh quốc phòng, nâng cao dân trí và góp phần xóa đói giảm nghèo nhất là ở vùng cao, vùng sâu. Từ đó sẽ thực hiện thắng lợi các chính sách xã hội khác của Đảng và Nhà nước.
2. Phát triển giao thông tỉnh Lào Cai phải theo quy hoạch. Do đặc điểm địa hình miền núi, dân cư thưa, nền kinh tế hàng hóa chậm phát triển, trong khi nguồn vốn cho giao thông của Trung ương cũng như của tỉnh còn hạn hẹp, thì sự phát triển theo quy hoạch có ý nghĩa hết sức quan trọng, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, phát huy hiệu quả kinh tế ngay và cao, mặt khác do có quy hoạch cho nên các công trình đầu tư trước sẽ không bị lạc hậu trong tương lai. Trong thời gian tới Sở giao thông vận tải phải xây dựng được quy hoạch mạng lưới giao thông trong toàn huyện phù hợp với quy hoạch của tỉnh phục vụ tốt cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai.
3. Khôi phục và sử dụng triệt để những đường có sẵn, chỉ mở các tuyến mới khi thực sự cần thiết. Trong những năm qua tỉnh đã đầu tư mở một số đường, nhưng do nhiều nguyên nhân đến nay số đường này vẫn chưa đưa vào sử dụng được, một số khác đưa vào sử dụng song thiếu duy tu, sửa chữa thường xuyên nên hỏng khá nhiều trong thời gian tới cần xem xét lại cụ thể và có kế hoạch sửa chữa, khôi phục để đưa các tuyến đường này vào sử dụng và phát huy hiệu quả.
4. Sự nghiệp phát triển giao thông phải thực hiện theo phương châm Nhà nước và Nhân dân cùng lam. Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư cho giao thông của Nhà nước và của tỉnh còn khó khăn trong khi đó nguồn nguyên vật liệu, nhân lực ở địa phương, trong nhân dân là rất lớn, việc thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm là hết sức đúng đắn, làm cho giao thông phát triển nhanh và nhân dân có trách nhiệm trong việc bảo vệ đường giao thông.
5. Tăng cường công tác quản lý trong phát triển giao thông bao gồm quản lý về vốn đầu tư, quản lý về kỷ luật và bảo vệ các công trình giao thông sau khi đã đưa vào sử dụng.
II. Quy định các loại đường trong phạm vi tỉnh Lào Cai:
1. Đường quốc lộ: Nằm trên địa bàn tỉnh do kinh phí Trung ương đầu tư xây dựng, nâng cấp, di tu và bảo dưỡng thường xuyên, giao cho Sở giao thông quản lý và tổ chức thực hiện bao gồm:
- Quốc lộ 70 từ km 169 đến km 190
- Quốc lộ 4Đ từ km 89 đến km 200
- Quốc lộ 279 từ km 32 đến km 203 + 500
- Quốc lộ 4E từ km 0 đến km 46
- Quốc lộ 32 từ km 287 đến km 350 + 500
2. Đường tỉnh lộ: nằm trên địa bàn tỉnh do kinh phí tỉnh đầu tư xây dựng, nâng cấp, di tu và bảo dưỡng thường xuyên gioa cho Sở giao thông quản lý và tổ chức thực hiện gồm:
- Đường 79 từ ngã ba Xuân giao đến Khe Sang: 50 km
- Đường Bắc Ngầm - Bắc Hà: 27 km
- Đường Kim Tân - Bản Vược - Mường Hum: 40 km
- Đường Thuận Hải: 18 km
- Đương Hoàng Liên Sơn 1: 32 km
- Đường Hoàn Liên Sơn 2: 42 km
3. Đường giao thông cấp huyện: Bao gồm các loại đường từ huyện đến xã, khu vực, đường liên xã, liên thôn. Do kinh phí của huyện đầu tư xây dựng, sửa chữa và quản lý, Nhà nước hỗ trợ một phần.
III. Vốn đầu tư để phát triển giao thông:
1. Các nguồn vốn đầu tư cho đường giao thông nông thôn gồm:
- Vốn do Nhà nước hỗ trợ (của Sở giao thông vận tải và ngân sách tỉnh)
- Vốn do các tổ chức quốc tế hỗ trợ.
- Vốn định canh, định cư và kinh tế mới hỗ trợ.
- Vốn đóng góp của nhân dân (gồm tiền - nguyên vật liệu - lao động).
2. Quy định về sử dụng vốn cho đường giao thông nông thôn:
a) Vốn đầu tư làm đường từ huyện đến xã và các khu vực được Nhà nước hỗ trợ từ 40% đến 50%, còn lại là do nhân dân địa phương đóng góp bằng tiền, nguyên vật liệu và lao động.
b) Đối với đường liên thôn, xã thì nhân dân địa phương làm là chính, Nhà nước chỉ hỗ trợ thuốc nổ và xây dựng những cầu cống quan trọng trên tuyến.
c) Đối với khu vực vùng sâu, vùng cao, đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng thì tỉnh sẽ đầu tư 100% vốn để mở đường giao thông.
d) Đối với các công trình cầu cống vượt sông suối, tùy điều kiện cụ thể tỉnh hỗ trợ đến 70% vốn đầu tư, còn lại là do nhân dân địa phương đóng góp bằng tiền, nguyên vật liệu và lao động.
e) Giao cho Sở giao thông chủ trì cùng với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xây dựng quy hoạch giao thông các huyện, thị và toàn tỉnh. Kinh phí lập quy hoạch do ngân sách tỉnh cấp.
g) Các nguồn vốn đầu tư khác vào lĩnh vực giao thông (vốn viện trợ, vốn định canh định cư, kinh tế mới...) trong quá trình thực hiện phải tuân theo quy trình quy phạm, thiết kế kỹ thuật của Sở giao thông, cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành của tỉnh phải theo đúng quy hoạch, có trọng tâm trọng điểm và đạt hiệu quả cao.
3. Hàng năm Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thị phải cùng với Sở Giao thông vận tải lập kế hoạch để xin Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép huy động lao động công ích trong nhân dân vào việc làm đường giao thông. Những người được huy động phải nghiêm chỉnh thực hiện theo chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thị.
IV. Tổ chức thực hiện:
- Sở Giao thông vận tải có trách nhiệm cùng với Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thị xây duwnhj quy hoạch giao thông, xây dựng quy trình quy phạm và các định mức kinh tế kỹ thuật phù hợp với điều kiện của tỉnh để kiểm tra giám sát trong quá trình thiết kế, thi công và nghiệm thu công trình. Sở thực hiện chức năng quản lý Nhà nước chuyên ngành trong toàn tỉnh chú trọng việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào khảo sát, thiết kế và thi công tạo bồi dưỡng cán bộ giao thông cho các xã.
- Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các huyện phải chủ động cùng với Sở giao thông để tiến hành xây dựng quy hoạch. Trên cơ sở đó mà có kế hoạch đầu tư vốn, huy động mọi nguồn lực trong việc thực hiện quy hoạch giao thông của huyện.
- Các ngành lao động - thương binh xã hội, định canh, định cư, kinh tế mới khi có nguồn vốn đầu tư phát triển giao thông thì phải chủ động bàn với Sở giao thông vận tải để đầu tư theo quy hoạch và phát huy ngay hiệu quả của công trình.
- Các ngành tài chính, Ủy ban kế hoạch, Giao thông vận tải hàng năm phải căn cứ vào khả năng của tỉnh và khai thác mọi nguồn vốn xây dựng kế hoạch phát triển giao thông nông thôn cho phù hợp.
- Để tổ chức thực hiện được tốt Sở Giao thông vận tải sắp xếp, bố trí mỗi phòng chuyên môn giúp việc giám đốc Sở về giao thông nông thôn. Ủy ban nhân dân các huyện, thị bố trí từ 1 đến 3 cán bộ có trình độ chuyên môn giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân trong quá trình tổ chức thực hiện. Mỗi xã phải có một cnas bộ giao thông được đào tạo và được hưởng phụ cấp trích từ quỹ 1% của công trình.
V. Khen thưởng và kỷ luật:
Ủy ban Nhân dân tỉnh phát động đợt thi đua làm giao thông nông thôn trong toàn tỉnh, Ủy ban nhan dân tỉnh yêu cầu Ủy ban nhân dân các huyện, thị phát động thi đua và hàng năm có tổng kết phong trào guiwr về tỉnh để khen thưởng và kỷ luật. Ủy ban Nhân dân tỉnh giao cho Sở giao thông vận tải cùng với Hội đồng thi đua của tỉnh xây dựng nội dung thi đua hình thức và mức độ khen thưởng và kỷ luật trình tỉnh phê duyệt.
Nhận được Chỉ thị này Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Ủy ban nhân dân các huyện, thị và ngành có liên quan tổ chức thực hiện tốt để hết năm 1993 thực sự có sự chuyển biến về giao thông nông thôn làm tiền dề cho phát triển giao thông cũng như các lĩnh vực khác trong những năm tiếp theo.