Quay lại

Chỉ thị 09/CT-UBND về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2007 tỉnh Lào Cai

UBND TỈNH LÀO CAI
-------

Số: 09/CT-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Lào Cai, ngày 24 tháng 06 năm 2006

CHỈ THỊ

Về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán

ngân sách nhà nước năm 2007 tỉnh Lào Cai

______________

Năm 2007 là năm bản lề có tính đột phá trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững đã đề ra cho cả giai đoạn. UBND tỉnh yêu cầu các cấp, các ngành, các doanh nghiệp nhà nước quán triệt và triển khai tốt những nội dung chủ yếu dưới đây trong việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2007 của đơn vị:

I. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO

1. Kế hoạch năm 2007 cần tiếp tục gắn chặt với chủ trương xuyên suốt mà Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã xác định, đó là: Tập trung phát triển vùng cao, vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; huy động mọi nguồn lực để xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo nền tảng để phát triển bền vững; khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế về kinh tế cửa khẩu, công nghiệp, du lịch và dịch vụ để chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng.

2. Kế hoạch năm 2007 phải phù hợp với nội dung, yêu cầu và phải bao gồm đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XIII được cụ thể bàng 7 chương trình trọng tâm với 29 đề án và Định hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các huyện, thành phố và mục tiêu các đề án, dự án của các huyện, thành phố.

3. Năm 2007 là năm đầu tiên của thời kỳ ổn định ngân sách mới (2007-2010), dự kiến định mức phân bổ ngân sách từ Trung ương cho các địa phương không tăng so với định mức phân bổ ngân sách năm 2006. Trong khi chờ Chính phủ thông qua định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước giai đoạn 2007 - 2010; các cấp, các ngành chủ động nghiên cứu, xây dựng kế hoạch theo định mức phân bổ thời kỳ ổn định ngân sách 2004-2006.

4. Kế hoạch năm 2007 và các năm tiếp theo sẽ được đổi mới về phương pháp xây dựng theo hướng có sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành và cộng đồng đo đó yêu cầu các cấp, các ngành được lựa chọn làm điểm phối hợp chặt chẽ để triển khai thực hiện đảm bảo phù hợp với điều kiện địa phương và yêu cầu của Trung ương.

5. Căn cứ điều kiện thực tế, các địa phương; các sở, ban, ngành và đơn vị tiến hành phân tích, đánh giá kết quả thực hiện 6 tháng đầu năm 2006 và ước thực hiện kế hoạch năm 2006; nhận định những thuận lợi, khó khăn của năm 2007 để nghiên cứu xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2007 phù hợp với nguồn lực và điều kiện thực tế của từng địa phương, từng ngành, từng lĩnh vực; phấn đấu đạt mức tăng trưởng cao hơn mức bình quân đề ra trong Định hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010.

II. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2007

1. Mục tiêu chủ yếu

1.1. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và đầu tư. Nâng cao một bước về chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và hiệu quả của các ngành kinh tế. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP trên 13,5%, trong đó: Nông, lâm, ngư nghiệp tăng trên 6%, Công nghiệp - xây dựng trên 21,5% và Dịch vụ trên 13,5%.

1.2. Huy động tối đa nguồn lực, tập trung đầu tư có trọng điểm, tránh dàn trải và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, đặc biệt là ngân sách nhà nước; quản lý, khai thác và sử dụng họp lý nguồn tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội; xóa đói, giảm nghèo; bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

1.3. Tiêp tục hoàn chỉnh cơ chê, chính sách đê tạo môi trường đâu tư thuận lợi. Phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế, trong đó đặc biệt chú trọng đến phát triển thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực dân doanh.

1.4. Tăng cường thực hiện xã hội hóa trong các lĩnh vực: Giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, vệ sinh môi trường. Giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc như xóa đói, giảm nghèo; việc làm; tai tệ nạn xã hội; di dịch cư tự do... Nâng cao khả năng phòng tránh và hạn chế tác động của thiên tai, dịch bệnh; ứng cứu kịp thời và khắc phục hậu quả do thiên tai, dịch bệnh gây ra.

1.5. Đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính. Thực hiện cơ chế tự chủ về biên chế và tài chính. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.

2. Nhiệm vụ chủ yếu

(1) Đối với nông, lâm, ngư nghiệp và đời sống dân cư:

Chú trọng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp nhằm tăng nhanh giá trị sản xuất trên đơn vị canh tác; gàn sản xuất với thị trường tiêu thụ sản phàm. Tập trung đâu tư xây dựng các cơ sở chê biến nông, lâm sản để tạo sự chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh giá trị về công nghiệp chế biên, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; nâng cao hiệu quả kinh tế trong khu vực nông thôn. Phấn đấu giá trị gia tăng của ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng trên 6% (giá trị sản xuất tăng trên 8%).

- Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội ngành nông nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng ngành trồng trọt và tăng nhanh tỷ trọng chăn nuôi, dịch vụ. Hình thành rõ nét các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh, thâm canh; mở rộng diện tích canh tác ở vùng cao phù hợp với khả năng tưới của hệ thống thủy lợi hiện có. Tập trung phát triển đại gia súc đi đôi với tăng cường các biện pháp chăm sóc và phòng chống dịch bệnh. Đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản, tập trung vào mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản trên diện tích hiện có, chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản; nhân rộng mô hình nuôi trồng thủy sản có hiệu quả như nuôi cá Hồi nước lạnh, cá chép lai, cá rô phi đơn tính...

- Phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, quy mô hợp lý trên cơ sở rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng. Tăng cường công tác bảo vệ diện tích rừng hiện có, chú trọng trồng rừng sinh thái ở các huyện: Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai; không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế rừng. Từng bước xã hội hóa nghề rừng, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng kinh tế, rừng trang trại, cây lâm nghiệp; đưa sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trở thành một nghề có thu nhập cao; cải thiện đời sống nhân dân; góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định dân cư trên địa bàn.

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình quy hoạch sản xuất gắn với sắp xếp dân cư theo đề án được duyệt đến năm 2010, trong đó tập trung vào việc sắp xếp bố trí dân cư thuộc vùng tiềm ẩn thiên tai, nguy hiểm; những hộ thiếu đất sản xuất, cư trú phân tán, thiếu nước ăn, sinh sống trong vùng không đúng quy hoạch... đến các nơi có điều kiện thuận lợi như gần đường giao thông, có nguồn nước và đất sản xuất..., từng bước hoàn thiện các công trình phúc lợi, đảm bảo cho nhân dân yên tâm định cư lâu dài, nâng cao đời sống nhân dân.

- Từng bước hòan thiện hệ thống tổ chức các hoạt động dịch vụ nông nghiệp trong nông thôn bao gồm: Dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm; bảo vệ thực vật, thú y và dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp. Tiếp tục thực hiện các chính sách trợ giúp phát triển kinh tế và hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội... tạo điều kiện cho người nghèo tự chủ trong sản xuất, tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo nhằm giảm nhanh số hộ đói nghèo trên địa bàn, nâng cao hơn nữa chất lượng xóa đói giảm nghèo, giảm khoảng cách chênh lệch về tỷ lệ số hộ đói nghèo giữa các địa phương, phấn đấu tỷ lệ đói nghèo giảm 5%.

(2) Đối với công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào các cụm công nghiệp địa phương và Khu thương mại Kim Thành và các cụm TTCN. Xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về quản lý, đổi mới công nghệ, giảm chi phí để nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm.

Đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, thúc đẩy công nghiệp có bước phát triển đột phá mới: Tập trung khai thác và chế biến khoáng sản gồm: Apatít, đồng, cao lanh, phen phát; thành lập và sớm đưa Dự án mỏ sát Quí Xa vào hoạt động ổn định để khai thác quặng sắt phục vụ nhu cầu xuất khẩu và sản xuất trong nước; đây mạnh tiến độ đầu tư các công trình thủy điện đã khởi công để sớm đưa vào hoạt động; tiến hành rà soát lại các dự án đã được chấp thuận đầu tư, kiên quyêt thu hồi và giao lại chủ đầu tư đối với các dự án không có khả năng thực hiện. Phấn đấu giá trị gia tăng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng trên 21,5% (giá trị sản xuất tăng trên 31 %).

- Triển khai thực hiện quy hoạch và khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả các mỏ khoáng sản theo phân cấp của Trung ương và bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Phát triển các làng nghề truyền thống như: Dệt, may, thêu thổ cẩm, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Từng bước hình thành và phát triển một số ngành nghề mới sử dụng nguyên liệu tại chỗ như: Mộc, sừng, xương, đá mỹ nghệ, đúc đồng, chạm bạc... phục vụ cho du lịch và xuất khẩu, tạo nhiều việc làm mới và tăng thêm thu nhập cho người dân.

(3) Đối với lĩnh vực xây dựng cơ bản

- Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành Trung ương, tỉnh bạn để triển khai việc cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 70, Quốc lộ 4D, Quốc lộ 4 đoạn nối Hà Giang -Lào Cai, nâng cấp tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai. Chỉ đạo xây dựng hoàn thành cầu Kim Thành. Xúc tiến thủ tục cần thiết để khởi công xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai phía hữu ngạn sông Hồng.

- Hoàn thành đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại Cụm công nghiệp Bắc Duyên Hải và Đông Phố Mới, Khu thương mại Kim Thành (giai đoạn 1) để đưa các khu này vào hoạt động. Chỉ đạo thực hiện quy hoạch Khu công nghiệp Tằng Loỏng. Triển khai rà soát lại quy hoạch và thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các cụm tiểu thủ công nghiệp tại các huyện, thành phố theo đề cương đề án, dự án được duyệt. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai thực hiện quy hoạch chi tiết các cụm công nghiệp Sin Quyền và Quý Xa.

- Khởi công toàn bộ các trụ sở làm việc hợp khối, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đang triển khai tại Khu đô thị mới, đảm bảo hoàn thành theo yêu cầu đề ra tại Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 01/10/2005 của Tỉnh ủy. Chú trọng triển khai đầu tư xây dựng khu dân cư, các công trình văn hóa - xã hội.

- Đầu tư, nâng cấp sửa chữa cơ bản hoàn thành các tuyến giao thông Tỉnh lộ (153, 155, 154, 151). Chú trọng đầu tư đường đến trung tâm cụm xã, đường giao thông liên, đường biên giới phù hợp với nguồn lực và yêu cầu thực tế.

(4) Đối với thương mại, du lịch, dịch vụ

- Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ mà tỉnh có tiềm năng và lợi thế như: Xuất nhập khẩu, du lịch; từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, tài chính, bưu chính viễn thông... Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, dịch vụ và đầu tư, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu; tiến hành rà soát lại các loại phí, lệ phí đang áp dụng để bãi bỏ các loại phí không cần thiết, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu. Phấn đấu giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng trên 21%.

- Tăng cường công tác quản lý và đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch theo quy hoạch được duyệt. Phát triển đa dạng các loại hình, mở rộng các điểm du lịch và nâng cao chất lượng, sản phẩm dịch vụ để phát triển du lịch. Phấn đấu thu hút khách du lịch tăng 11%, doanh thu từ du lịch tăng 30% so với năm 2006.

(5) Về phát triển các thành phần kinh tế

- Tiếp tục thực hiện sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo đề án được duyệt đến năm 2010. Phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế, trong đó chú trọng phát triển thành phần kinh tế ngoài quốc doanh; chuyển đổi, khuyến khích thành lập mới hợp tác xã nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của kinh tế tập thể vào tăng trưởng kinh tế. Chú trọng định hướng các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào các lĩnh vực mà tỉnh ưu tiên, tập trung vào sản xuất hàng hóa và dịch vụ, hạn chế đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản. Có chính sách hỗ trợ đặc biệt đối với các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ, những lĩnh vực ít hấp dẫn, khó thu hồi vốn đầu tư nhưng cần thiết cho phát triển kinh tế của địa phương.

- Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh; quan tâm giúp đỡ doanh nghiệp về đào tạo chuyên môn, quản lý; vốn để phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp trong việc xây dựng và đăng ký thương hiệu hàng hóa, tuyên truyền về sở hữu trí tuệ nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

(6) Về khoa học, công nghệ và môi trường

- Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ; tập trung vào sản xuất giống, cây, con phù hợp với điều kiện địa phương và tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao để phát triển. Tăng cường ứng dụng công nghệ bảo quản nông sản sau thu hoạch. Đẩy mạnh việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.

- Tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng thông tin để từng bước đáp ứng yêu cầu thông tin của toàn xã hội và yêu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng. Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin theo hướng hội nhập, đẩy mạnh thực hiện Dự án công nghệ thông tin trong trường học, Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước (Đề án 112), Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin (Đề án 191), đáp ứng yêu cầu về việc hình thành và phát triển của chính quyền điện tử, giao dịch thương mại điện tử trong thời gian tới.

- Kết hợp hài hòa giữa phát triển sản xuất công; nông, lâm, ngư nghiệp và dịch vụ với bảo vệ và cải thiện môi trường đảm bảo phát triển bền vững. Tăng cường công tác quy hoạch, quản lý nhà nước và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên. Từng bước ứng dụng công nghệ trong xử lý rác thải, nước thải ở những khu đô thị, khu công nghiệp, bệnh viện. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, tăng cường xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.

(7) Các vấn đề xã hội

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, từng bước đa dạng hóa các loại hình trường lớp. Tiếp tục quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục, chú trọng đào tạo và bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên. Đẩy mạnh hình thức đào tạo tại chỗ và tăng cường liên kết đào tạo với các trung tâm có uy tín trong và ngoài nước để đào tạo và nâng cao chất lượng lao động, đội ngũ công nhân kỹ thuật tiêp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới; gắn đào tạo với giải quyết việc làm. Phấn đấu hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2007.

- Từng bước củng cố, phát triển hệ thống y tế toàn tỉnh, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế thực hiện bảo vệ, chăm sóc và nâng cao. Triển khai thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực y tế như nghiên cứu từng bước chuyển các bệnh viện công lập tuyến tỉnh, thành phố sang hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ; khuyến khích mở bệnh viện liên doanh, phòng khám tư nhân, bác sỹ gia đình... để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân.

- Đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hóa, trọng tâm là vận động nhân dân các dân tộc cải tạo tập quán, thủ tục lạc hậu; quan tâm đầu tư các thiết chế văn hóa, đẩy mạnh nhiệm vụ sưu tầm, phát huy bản sác văn hóa dân tộc để từng bước nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân. Phát triển mạnh mẽ các phong trào thể dục thể thao, trong đó chú trọng phát triển ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; quan tâm đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao. Đầu tư xây dựng mới các trạm truyền thanh, trạm phát lại truyền hình để tăng khả năng phủ sóng phát thanh truyền hình, tăng thời lượng phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc...

- Đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội. Giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc như di dịch cư tự do, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm; phòng, chống các tệ nạn xã hội...

(8) Về kinh tế đối ngoại và quốc phòng - an ninh

- Chủ động tăng cường quan hệ hợp tác với tỉnh Vân Nam và Miền Tây (Trung Quốc). Tích cực triển khai có hiệu quả Đề án "Khu hợp tác kinh tế Lào Cai – Hồng Hà". Phối hợp chặt chẽ với các tỉnh, thành phố trên tuyến Hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng để khai thác lợi thế nhằm phát triển kinh tế.

Mở rộng và phát triển quan hệ đối ngoại với các nước, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Chú trọng nâng cao hiệu quả hợp tác vùng, các tổ chức quốc tế đã có quan hệ truyền thống; mở rộng thêm quan hệ hợp tác với các nước, các vùng phù hợp với khả năng hợp tác của tỉnh để thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ (NGO).

- Hoàn thành việc phân giới cắm mốc Việt - Trung thuộc địa phận tỉnh Lào Cai quản lý theo đề án được duyệt. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Từng bước xây dựng các xã, phường biên giới mạnh vê kinh tế, vững về an ninh, quốc phòng. Duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội, giảm tội phạm, tai tệ nạn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyên phổ biến pháp luật, kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân để tạo môi trường xã hội ổn định.

(9) Về cải cách hành chỉnh

Đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là việc thực hiện cơ chế "Một cửa" tại trụ sở UBND các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn và tất cả các sở, ban, ngành. Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức biên chế và tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao; thực hiện khoán chi đối với tất cả các cơ quan sự nghiệp có thu, mở rộng hình thức khoán chi đối với các cơ quan hành chính cấp tỉnh, huyện.

3. Nhiệm vụ xây dựng dự toán ngân sách năm 2007

Năm 2007 là năm đầu tiên của thời kỳ ổn định ngân sách mới theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; dự toán ngân sách năm 2007 được xây dựng theo hướng đảm bảo sự phát triển ngân sách địa phương, tăng khả năng tự cân đối, giảm số bổ sung từ ngân sách cấp trên; tăng quyền tự chủ và tính chủ động của các cấp, các ngành trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước.

Các sở, ban, ngành, huyện, thành phố và các doanh nghiệp nhà nước tổ chức xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2007 theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan, trong đó chú ý một số nội dung sau:

3.1. Xây dựng dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn:

Căn cứ mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 -2010 đã được Đại hội Đảng các cấp thông qua, khả năng thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và ngân sách năm 2006, dự báo tăng trưởng kinh tế và nguồn thu năm 2007 đối với từng ngành, từng lĩnh vực, các cơ sở kinh tế trên địa bàn và những nguồn thu mới phát sinh trên địa bàn địa phương để tính đúng, tính đủ nguồn thu đối với từng lĩnh vực, từng khoản thu theo chế độ. Dự toán phải bảo đảm khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường, thực hiện các cam kết quốc tế về thuế; đồng thời có các giải pháp hiệu quả, hợp lý trong việc tăng cường quản lý thu, chống thất thu, trốn lậu thuế, chống buôn lậu và gian lận thương mại, hạn chế nợ đọng thuế.

Dự toán thu nội địa (không kể thu tiền sử dụng đất, thu san tạo mặt bằng, bán trụ sở gắn với quyền sử dụng đất của các đơn vị HCSN và các khoản thu đóng góp) tăng tối thiểu 16% so với ước thực hiện năm 2006.

3.2. Xây dựng dự toán chi ngân sách địa phương:

Căn cứ tiêu chí, định mức phân bổ chi ngân sách năm 2007, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương để lập dự toán chi ngân sách địa phương cụ thể đối với từng lĩnh vục chi theo quy định.

(1) Các huyện, thành phố căn cứ dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán chi ngân sách của địa phương được tính trên cơ sở tiêu chí, định mức phân bổ chi ngân sách giai đoạn 2007 - 2010, xác định nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp; xác định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia đối với các nguồn thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, số bổ sung cân đối từ ngân sách tỉnh cho ngân sách huyện, thành phố năm 2007 và được ổn định trong thời kỳ ngân sách mới.

(2) Các đơn vị dự toán ngân sách căn cứ định mức phân bổ dự toán ngân sách địa phương, các chính sách, chế độ hiện hành và nhiệm vụ được giao để xây dựng dự toán thu, chi ngân sách. Trong quá trình lập dự toán ngân sách, các đơn vị chịu trách nhiệm trong việc chủ động, dự kiến đầy đủ các nhu cầu chi thực hiện chính sách chế độ, nhiệm vụ mới; không để xảy ra tình trạng sau khi dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, thiếu kinh phí thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên, các chế độ chính sách đó ban hành và các nhiệm vụ mới phát sinh.

(3) Cùng với việc xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2007, các cấp, các ngành, các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước chủ động thực hiện đánh giá, phân tích cụ thể kết quả chi tiêu ngân sách năm 2006; tập trung chỉ đạo, tố chức thực hiện công tác quyết toán và kiểm tra phê duyệt quyết toán ngân sách năm 2005 theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước; tiến hành xử lý, giải quyết những tồn tại, sai phạm đó được cơ quan thanh tra, kiểm toán phát hiện và kiến nghị.

(4) Trong quá trình xây dựng dự toán ngân sách nhà nước, phải quán triệt thực hiện Chương trình hành động của UBND tỉnh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo Quyết định số 40/2006/QĐ-UBND ngày 04 tháng 5 năm 2006; bảo đảm việc xây dựng dự toán ngân sách, bố trí, sử dụng ngân sách thực sự tiết kiệm và có hiệu quả.

(5) Trong dự toán chi đầu tư phát triển phải bảo đảm đủ vốn đối ứng cho các dự án ODA; bảo đảm vốn cho các công trình, dự án chuyển tiếp (đặc biệt là các dự án, công trình trọng điểm của địa phương; các dự án, công trình xây dựng cơ bản dở dang sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm); bảo đảm vòn cho công tác quy hoạch và chuẩn bị đầu tư; thanh toán khoản nợ khối lượng xây dựng cơ bản đã hoàn thành; hoàn trả ngân sách nhà nước các khoản đã ứng trước. Phần còn lại bố trí cho các dự án, công trình mới, quan trọng, trong đó ưu tiên vốn các dự án, công trình trọng điểm, phát triển hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, khắc phục hậu quả thiên tai...

Xây dựng phương án huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng ở địa phương, bố trí ngân sách tỉnh đảm bảo hoàn trả đầy đủ các khoản vay đến hạn phải trả (cả gốc và lãi) theo đúng quy định tại khoản 3, điều 8 Luật Ngân sách nhà nước.

(6) Năm 2007, tiếp tục thực hiện cơ chế đầu tư trở lại cho các huyện, thành phố đối với nguồn thu tiền sử dụng đất. Danh mục dự án, mức vốn đầu tư từ nguồn thu tiền sử dụng đất do UBND tỉnh quyết định. Nguồn thu từ tiền sử dụng đất của các huyện, thành phố được bố trí theo thứ tự ưu tiên sau:

- Chi cho công tác chuẩn bị đầu tư, đền bù, giải phóng mặt bằng, san tạo mặt bằng để thực hiện Chương trình kiên cố hóa trường lớp học và đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu gồm: nền và mặt đường, vỉa hố, cấp thoát nước.

- Chi đầu tư xây dựng trụ sở đối với những cơ quan phải di chuyển địa điếm mới (trụ sở cũ nằm trong diện tích dự án tạo quỹ đất).

- Chi thực hiện nhiệm vụ về quản lý đất đai: khảo sát, đo đạc, lập các loại bản đồ về đất đai; đánh gia phân hạng đất; lập, thẩm định, công bố và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thống kê, kiểm kê đất đai và các hoạt động sự nghiệp địa chính khác.

- Ưu tiên bố trí đủ vốn thanh toán cho các công trình XDCB, có tính chất XDCB thuộc ngân sách huyện, xã (những năm trước do tỉnh bổ sung ngân sách hoặc huyện tự bố trí) đã quyết toán hoặc chuyển tiếp từ những năm trước.

- Số tiền còn lại bố trí để hỗ trợ làm nhà ở cho giáo viên; xây dựng, sửa chữa trụ sở và trạm xá xã; xây dựng đường giao thông; kiến thiết thị chính và các công trình phục vụ công cộng; sửa chữa lớn trụ sở các cơ quan hành chính sự nghiệp do huyện quản lý...

(7) Trong quá trình xây dựng dự toán chi thường xuyên, các đơn vị, địa phương phải gắn với việc thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với tất cả các cơ quan nhà nước; đối với các đơn vị sự nghiệp công lập phải gắn với việc thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

(8) Tiếp tục bố trí ngân sách và huy động các nguồn tài chính khác theo quy định để thực hiện cải cách tiền lương theo nguyên tắc:

Tiết kiệm tối thiểu 10% chi thường xuyên (không kể tiền lương và các khoản có tính chất lương); thực hiện chuyển các nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm trước chưa sử dụng hết sang năm 2007 để tiếp tục thực hiện; ngân sách địa phương sử dụng tối thiểu 50% tăng thu, đồng thời sử dụng nguồn tăng thu các năm trước chưa sử dụng hết chuyển sang (không kể tăng thu tiền sử dụng đất); các cơ quan quản lý hành chính, đơn vị sự nghiệp dành 40% số thu được để lại theo chế độ (riêng ngành y tế dành 35% thu viện phí, sau khi đã trừ tiền thuốc, máu, dịch truyền và hóa chất) thực hiện cải cách tiền lương trong năm 2007.

Sau khi đã sử dụng các nguồn trên mà còn thiếu, ngân sách tỉnh hỗ trợ cho các đơn vị, huyện, thành phố bảo đảm đủ nguồn để thực hiện cải cách tiền lương theo quy định.

(9) Ngân sách các cấp bố trí dự phòng ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Nghị quyết của HĐND tỉnh về định mức phân bố dự phòng để chủ động đối phó với thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh và thực hiện những nhiệm vụ quan trọng cấp bách phát sinh ngoài dự toán.

III. TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH VÀ PHÂN CÔNG THỰC HIỆN

1. Tiến độ xây dựng kế hoạch

- Chậm nhất đến ngày 10 tháng 7 năm 2006: Các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, các DNNN xây dựng xong kế hoạch năm 2007 của đơn vị và báo cáo đánh giá tình hình thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình 135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Nghị quyết 37 và các chương trình, dự án, đề án khác; kiến nghị những chương trình, dự án, đề án tiếp tục thực hiện trong năm 2007 và giai đoạn tiếp theo gửi về Sở kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính để tổng hợp;

- Chậm nhất đến ngày 15 tháng 7 năm 2006: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính tổng hợp kế hoạch năm 2007 của các đơn vị, trình UBND tỉnh xem xét, cho ý kiến chỉ đạo.

- Từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 7 năm 2006: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính hoàn chỉnh kế hoạch năm 2007 theo ý kiến chỉ đạo UBND tỉnh; tổng hợp, báo cáo tình hình thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình 135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Quyết định 186 của Chính phủ và các chương trình, dự án, đề án khác giai đoạn 2001 - 2005; kiến nghị những chương trình, dự án, đề án tiếp tục thực hiện trong năm 2007 và giai đoạn tiếp theo trên địa bàn trình UBND tỉnh phê duyệt, gửi Bộ Kê hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trước ngày 20 tháng 7 năm 2006 để tổng hợp trình Chính phủ.

- Trong tháng 8 và tháng 9 năm 2006: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tổng hợp, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2007 báo cáo Chính phủ trình Quốc hội.

- Trước ngày 20 tháng 11 năm 2006: Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2007 cho các Bộ, ngành, địa phương trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội.

- Trước ngày 25 tháng 11 năm 2006: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2007 cho các Bộ, ngành, địa phương.

- Từ ngày 25 thảng 11 năm 2006 đến trước ngày 05 tháng 12 năm 2006: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính tổng hợp kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2007 tỉnh Lào Cai trên cơ sở chỉ tiêu giao của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn chi tiết của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, báo cáo UBND tỉnh trình HĐND tỉnh.

- Chậm nhất đến ngày 10 tháng 12 năm 2006: UBND tỉnh giao chi tiết kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2007 cho các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố; các DNNN trên địa bàn.

- Trước ngày 23 tháng 12 năm 2006: UBND các huyện, thành phố giao kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2007 cho các xã, phường, thị trấn.

- Chậm nhất đến ngày 30/12/2006: Các xã, phường trên địa bàn hoàn thành giao kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2007.

2. Về phân công thực hiện:

2.1. Sở Kế hoạch và Đầu tư:

(1) Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Cục Thống kê xây dựng hệ thông chỉ tiêu, biếu mẫu để hướng dẫn cho các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, các DNNN xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2007.

(2) Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, các cơ quan có liên quan dự kiến kế hoạch đầu tư phát triển và phương án phân bố vốn đầu tư phát triển trên địa bàn.

2.2. Sở Tài chính:

(1) Hướng dẫn các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, các DNNN xây dựng dự toán thu, chi ngân sách năm 2007 của đơn vị mình.

(2) Chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan có liên quan tổng hợp, lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán chi ngân sách địa phương và phương án phân bổ ngân sách tỉnh năm 2007.

2.3. Các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, các DNNN:

(1) Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính xây dựng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2007 thuộc lĩnh vực mình phụ trách.

(2) Các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, các DNNN, các cơ quan quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 5 triệu ha rừng và các chương trình, dự án lớn khác chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính làm việc với Bộ, cơ quan Trung ương có liên quan về nhiệm vụ và dự toán kinh phí năm 2007 đối với các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 5 triệu ha rừng thuộc lĩnh vực mình phụ trách gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính theo thời gian quy định nêu trên.

(3) Các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, các DNNN theo chức năng, trên cơ sở tính toán các nguồn lực có thể khai thác được, xây dựng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, đề xuất các giải pháp, cơ chế chính sách, chế độ mới hoặc kiến nghị sửa đổi gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, các ban ngành có liên quan làm căn cứ xây dựng kế hoạch và dự toán.

(4) UBND các huyện, thành phố chỉ đạo phòng Tài chính - Kế hoạch phối hợp chặt chẽ với các phòng, ban chuyên môn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà trên địa bàn trình cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ thực hiện. Hướng dẫn các xã, phường, thị trấn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2007 của địa phương mình.

Việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2007 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, là cơ sở đánh giá mức hoàn thành nhiệm vụ của các cấp, các ngành năm 2006; UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Thủ trưởng các sở, ban, ngành; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố; Giám đốc các DNNN trên địa bàn thực hiện nghiêm túc nội dung Chỉ thị này.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu09/CT-UBND
Ngày ban hành24/06/2006
Loại văn bảnChỉ thị
Ngày có hiệu lực04/07/2006
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Lào Cai / Nguyễn Hữu Vạn
Phạm viLào Cai
Trích yếuVề việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2007 tỉnh Lào Cai
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.