|
UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Số: 18/1998/CT-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- thành phố Đà Nẵng, ngày 01 tháng 07 năm 1998 |
CHỈ THỊ
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
V/ v chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chínhtrên địa bàn thành phố
________________________
Từ sau khi chia tách và hoạt động với tư cách là một đơn vị hành chính trực thuộc TW cho đến nay, lề lối làm việc của UBND thành phố, các Sở ban ngành và tương đương, UBND các quận, huyện và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố ĐN đã đi dần vào nề nếp hơn so với trước, góp phần dáng kể vào việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của thành phố, từng bước nâng cao hiệu quả trong việc chỉ đạo, điều hành của UBND thành phố và các ngành, các cấp.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị thời gian qua cọn tồn tại nhiều mặt yếu kém. Việc chấp hành các quyết định hành chính của cấp trên trong nhiều trường hợp không nghiêm; tình trạng hội họp nhiều, thông báo nhiều nhưng hiệu quả triển khai kém, các quy định về họp hội, đi học, đi công tác không được chấp hành nghiêm túc; Công tác phối kết hợp giữa các ngành, địa phương còn yếu; Chế độ thông tin, báo cáo chưa được chấp hành nghiêm chỉnh; Chế độ trách nhiệm, chế độ kỷ luật, chế độ phục vụ nhân dân trong một bộ phận cán bộ, công chức một số cơ quan, đơn vị còn nhiều vi phạm...
Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do nhận thức về trách nhiệm, ý thức tự giác chấp hành của một bộ phận cán bộ, công chức chưa cao; Kiến thức quản lý Nhà nước, năng lực chuyên môn, năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo các ngành, địa phương còn hạn chế; Công tác kiểm tra, quản lý cán bộ nhiều nơi còn bị buông lỏng; Đặc biệt, việc đôn đốc, kiểm tra thực hiện các chủ trương, quyết định đã ban hành còn chậm và kém hiệu quả, việc chấn chỉnh, xử lý các hành vi vi phạm không được tiến hành thường xuyên và không nghiêm.
Tình trạng trên đây đã làm cho trật tự, kỷ cương hành chính trên địa bàn thành phố từng lúc, từng nơi bị buông lỏng, gây trở ngại cho sự chỉ đạo, điều hành của các cấp lãnh đạo, hiệu lực quản lý của bộ máy hành chính thành phố bị giảm sút, các yêu cầu về cải cách hành chính không đạt được, đặc biệt, đã làm phát sinh những hiện tượng tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, công chức, làm giảm lòng tin của nhân dân vào bộ máy chính quyền.
Để chấn chỉnh tình trạng trên đây, nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương hành chính trên địa bàn thành phố đi vào nề nếp, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền, các ngành, các đơn vị, UBND thành phố chỉ thị:
1/ Từ nay cho đến hết tháng 7/1998, Giám đốc các Sở ban ngành và tương đương, Chủ tịch UBND các quận, huyện, Thủ trưởng các cơ quan hành chính sự nghiệp, Giám đốc các doanh nghiệp Nhà nước do UBND thành phố quản lý (sau đây gọi tắt là Thủ trưởng các ngành, địa phương, đơn vị) phải triển khai ngay việc học tập các văn bản pháp luật có liên quan đến kỷ luật, kỷ cương hành chính trong cán bộ, công chức thuộc mình quản lý, bao gồm: Pháp lệnh cán bộ, công chức; Pháp lệnh chống tham nhũng; Pháp lệnh thực hành tiết kiệm;
Chỉ thị số 40/TTg ngày 29.10.1992 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số điểm trong quan hệ làm việc giữa các đồng chí phụ trách bộ máy hành chính các cấp; Quy chế làm việc của UBND thành phố, Quyết định số 3763/1998/QĐ-UB ngày 07/1998 của UBND thành phố v/v xử lý các vi phạm trong việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính trên địa bàn thành phố, các văn bản khác của Nhà nước và của ngành có liên quan đến vấn đề trên.
Việc triển khai học tập phải nghiêm túc, thiết thực. Sau học tập, tất cả cán bộ, công chức phải làm bản cam kết trước Thủ trưởng ngành, địa phương, đơn vị về việc thực hiện nghiêm túc kỷ luật, kỷ cương hành chính.
2/ Căn cứ Quy chế làm việc của UBND thành phố ban hành kèm theo Quyết định số 2125/QĐ-UB ngày 21/4/1998 của UBND thành phố và các văn bản có liên quan, Thủ trưởng các ngành, địa phương, đơn vị chỉ đạo việc xây dựng và ban hành ngay Quy chế làm việc, nội quy cơ quan của ngành, địa phương và các đơn vị thuộc ngành, địa phương, đồng thời triển khai ngay việc công khai các thủ tục hành chính trong việc giải quyết các yêu cầu của công dân, tổ chức. Các việc trên đây phải hoàn thành trong tháng 7/1998. Quy chế làm việc, nội quy cơ quan của ngành, địa phương, đơn vị phải gửi cho UBND thành phố sau khi ban hành.
3/ Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các chủ trương, biện pháp, quyết định của UBND thành phố (sau đây gọi tắt là quyết định của UBND thành phố), của các cấp, các ngành trên địa bàn thành phố theo nguyên tắc: UBND thành phố thực hiện kiểm tra đối với các ngành, địa phương, đơn vị. Thủ trưởng ngành, địa phương, đơn vị kiểm tra đối với các đơn vị, bộ phận trực thuộc, cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình. Việc kiểm tra phải tiến hành thường xuyên, bám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, đặc biệt chú trọng đến việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính.
4/ Các hành vi vi phạm trong việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính và việc xử lý các vi phạm đó được thực hiện theo các quy định chung của Nhà nước và Quyết định số 3763/1998/QĐ-UB ngày 01/7/1998 của UBND thành phố.
5/ Thẩm quyền xử lý đối với các hành vi vi phạm trong việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức trong các ngành, địa phương, đơn vị được thực hiện phù hợp với việc phân cấp quản lý cán bộ của Đảng (tại Quyết định số 48/QĐ-TU ngày 18/2/1998 của Ban Thường vụ Thành ủy về việc quản lý cán bộ), của Nhà nước và các quy định có liên quan của UBND thành phố.
6/ Nguyên tắc xử lý:
a- Thủ trưởng các ngành, địa phương, đơn vị là người chịu trách nhiệm trước UBND thành phố về việc tổ chức thực hiện các quyết định của UBND thành phố. Khi có sai phạm, Thủ trưởng ngành, địa phương, đơn vị phải chịu trách nhiệm trước UBND thành phố;
b- Trường hợp do thiếu trách nhiệm để cấp phó hoặc cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có vi phạm, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của ngành, địa phương, đơn vị thì Thủ trưởng ngành, địa phương, đơn vị vẫn phải chịu trách nhiệm theo Điều 7 pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 22/1998.
c- Nếu Thủ trưởng ngành, địa phương, đơn vị xử lý không nghiêm đối với cán bộ, công chức thuộc mình quản lý, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của ngành, địa phương thì phải chịu trách nhiệm trước chủ tịch UBND thành phố.
7/ Quá trình xử lý:
a- Các hành vi vi phạm của ngành, địa phương được tính theo thời gian một năm, từ ngày 01/01 cho đến hết ngày 31/12 của năm;
b- Khi có đủ cơ sở để kết luận về những vi phạm trên đây của ngành, địa phương, đơn vị, UBND thành phố có Thông báo về việc vi phạm. Thông báo được coi là hình thức văn bản để ghi nhận về việc vi phạm, được gửi trực tiếp đến ngành có vi phạm và phải được lưu giữ, theo dõi đầy đủ tại Văn phòng UBND thành phố. Tùy từng trường hợp vi phạm của ngành, địa phương, đơn vị, Thông báo có thể được gửi rộng rãi đến tất cả các ngành, địa phương
trong thành phố.
c- Sau 3 lần có thông báo của UBND thành phố về việc vi phạm thì:
+ Hội đồng kỷ luật của UBND thành phố xem xét hình thức kỷ luật đối với các đối tượng vi phạm thuộc quyền quản lý của mình theo phân cấp trên cơ sở bản kiểm điểm và tự đề xuất hình thức kỷ luật của người vi phạm, đề xuất UBND thành phố ra quyết định kỷ luật theo thẩm quyền;
+ Sau khi đã có quyết định kỷ luật của UBND thành phố mà ngành, địa phương, đơn vị còn tiếp tục vi phạm thì mỗi lần vi phạm tiếp theo đều phải được xử lý kỷ luật ở hình thức cao hơn theo quy định tại Điều 39 Pháp lệnh cán bộ, công chức.
+ Tùy tính chất và mức độ vi phạm cũng như hậu quả xảy ra, có những trường hợp vi phạm tuy vi phạm lần đầu nhưng phải bị xử lý kỷ luật ngay, không cần qua 3 lần thông báo của UBND thành phố. Việc xử lý trong trường hợp này do Hội đồng kỷ luật UBND thành phố thông nhất đề xuất UBND thành phố quyết định.
d- Khi Thủ trưởng ngành, địa phương bị áp dụng hình thức kỷ luật thì ngành, địa phương bị trừ điểm thi đua khi xét thi đua hàng năm. Riêng đối với Thủ trưởng ngành thì sẽ bị kéo dài thời hạn nâng lượng thêm một năm và có thể xem xét cho thôi giữ chức vụ hoặc chuyển công tác khác.
8/ Đối với ngành, địa phương, đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, không có sai phạm trong suốt một năm thì căn cứ vào kết quả cụ thể, sẽ được xem xét khen thưởng thích đáng. Giao Sở Tài chính-Vật giá chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan đề xuất UBND thành phố quy định mức trích thưởng cụ thể bằng tiền đối với ngành, địa phương, trong đó quy định rõ tỷ lệ trích thưởng đối với Thủ trưởng ngành, địa phương trong tổng số tiền thưởng của ngành, địa phương, đơn vị.
9/ Căn cứ Chỉ thị này và các văn bản có liên quan của UBND thành phố về kỷ luật, kỷ cương hành chính, Thủ trưởng ngành, địa phương, đơn vị chấn chỉnh ngay và có biện pháp kiên quyết trong việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính trong ngành, địa phương mình, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm theo thẩm quyền.
10/ Giao Văn phòng UBND thành phố chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các ngành, địa phương, đơn vị thực hiện Chỉ thị này, xây dựng các loại biểu mẫu theo dõi việc thực hiện và thường xuyên báo cáo với UBND thành phố về tiến dộ thực hiện của ngành, địa phương, đơn vị.
Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/1998. Riêng việc xử lý vi phạm đối với các trường hợp cụ thể được thực hiện kể từ ngày 1/8/1998.
Nhận được Chỉ thị này, yêu cầu Thủ trưởng ngành, địa phương, dơn vị tổ chức quán triệt, triển khai ngay và phải chịu trách nhiệm trước UBND thành phố về việc thực hiện của mình. Kết quả thực hiện phải báo cáo UBND thành phố theo định kỳ hàng tháng trong báo cáo tháng của ngành, địa phương, đơn vị. Giao Văn phòng UBND thành phố theo dõi và báo cáo UBND thành phố việc thực hiện Chỉ thị này của các ngành, các cấp.