Quay lại

Chỉ thị 19/CT-UB năm học 1991-1992 của UBND tỉnh Bến Tre

UBND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 19/CT-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 19 tháng 08 năm 1991

CHỈ THỊ

“Năm học 1991-1992 của UBND tỉnh Bến Tre”

Năm học 1990-1991: tình hình kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn thử thách ngành giáo dục, tất cả cán bộ, thầy cô giáo trong tỉnh nhà đã có nhiều nỗ lực, phấn đấu vươn lên và hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học, thực hiện tốt chỉ thị 28/CT của Ban thường vụ Tỉnh ủy về công tác giáo dục. Sự nghiệp giáo dục tỉnh ta tiếp tục được củng cố, ổn định và có bước phát triển. Chất lượng, giáo dục được nâng lên. Tỉ lệ học sinh thi đậu ở các cấp trong các kỳ thi năm học 90-91 cao hơn những năm học trước. Cuộc vận động dân chủ hoá nhà trường đã tạo được không khí dân chủ tác động tích cực đến quá trình dạy và học. Sự cộng đồng trách nhiệm của các lực lượng xã hội ngày càng cao, phát huy được phong trào Nhà nước và nhân dân cùng xây dựng, sửa chữa trang bị thêm cơ sở vật chất trường học, tạo điều kiện bồi dưỡng nâng cao trình độ, tay nghề, giải quyết đời sống giáo viên yên tâm đứng lớp, nâng cao chất lượng dạy và học.

Mặc dù các cấp Ủy Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể các cấp đã cố gắng chăm lo sự nghiệp giáo dục, song do nền kinh tế xã hội chưa thoát khỏi khủng hoảng, ngành giáo dục còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất phục vụ giảng gạy, học tập còn thiếu thốn, đời sống giáo viên còn không ít vất vả, tình trạng giáo viên nghỉ dạy học sinh bỏ học vẫn còn nhiều. Công tác phổ cập giáo dục cấp 1, xoá mù chữ đạt kết quả thấp. Chất lượng dạy và học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục.

Năm học 1991-1992 có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng: Năm học đầu tiên chưa thực hiện nghị quyết đại hội lần thứ VII của Đảng. Ngành giáo dục Bến Tre cần tiếp tục phát huy kết quả, kinh nghiệm trong những năm vừa qua, phấn đấu cùng với Đảng và Nhà nước khắc phục khó khăn, tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong năm học mới:

I. Tiếp tục duy trì, ổn định, phát triển các ngành học:

1. Ngành học Mầm non:

Tiếp tục duy trì, ổn định, phát triển các loại hình nhà trẻ, nhóm trẻ, trường lớp mẫu giáo ở những nơi có nhu cầu và có điều kiện. Chú trọng việc huy động trẻ 5 tuổi ra lớp mẫu giáo để chuẩn bị cho lớp 1 phổ thông. Thực hiện tốt vệ sinh môi trường trong trường học, phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ đến các bậc cha me, chống suy sinh dưỡng, tiêm phòng 6 bệnh nguy hiểm cho trẻ em.

2. Ngành học phổ thông:

Trọng tâm của ngành học phổ thông là công tác phổ cập giáo dục cấp 1, cần làm tốt việc tách cấp I ra khỏi trường phổ thông cơ sở. Xây dựng cơ sở vật chất chuẩn bị những điều kiện cho việc hình thành bậc tiểu học. Điều tra nắm chắc đối tượng PCGDC 1 – XMC. Huy động hết trẻ từ 6-11 tuổi đi học. Tích cực chống bỏ học, hạn chế lưu ban. Đẩy mạnh chương trình giáo dục sức khoẻ trong trường học.

Đa dạng hoá loại hình đào tạo và loại hình trường lớp, từng bước phát triển trường bán công, dân lập, tư thục (dạy nghề). Điều chỉnh mạng lưới trường cấp 2, Cấp 3 một cách hợp lý theo xã (phường) hoặc cụm xã. Đẩy mạnh hướng nghiệp và dạy nghề khuyết tật, trẻ em mồ côi…Sở giáo dục có kế hoạch quản lý các lớp dạy thêm văn hoá các cấp, lớp dạy nghề trong toàn tỉnh. Sở Giáo dục phải chủ động kết hợp với Sở VHTT –TT và Tỉnh Doàn TNCS toàn quốc. Kết hợp với Sở tư pháp có kế hoạch cụ thể giáo dục pháp luật cho học sinh một cách thiết thực ngăn chặn hành vi phạm pháp xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật.

3. Ngành học Bổ túc Văn hoá:

Đẩy mạnh công tác xoá mù chữ. Năm học 1991-1992 cần tập trung xoá mù chữ cho đối tượng 15-25 tuổi. Mở rộng các hình thức học tập, duy trì hình thức học theo chuyên đề, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Ở các huyện xây dựng trung tâm hướng nghiệp- dạy nghề và bổ túc văn hoá theo hướng vừa học văn hoá vừa học nghề.

4. Các trường trung học chuyên nghiệp:

Điều chỉnh hệ thống trường lớp phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thực hiện tốt chỉ tiêu đào tạo, phục vụ cho yêu cầu xã hội có tập trung đào tạo theo địa chỉ. Tích cực xây dựng cơ sở vật chất nhà trường. Thực hiện tốt 5 chương trình mục tiêu của Bộ giáo dục và Đào tạo. Ngành sư phạm thực hiện tốt chỉ tiêu đào tạo, đẩy mạnh công tác bồi dưỡng chuẩn hoá đội ngũ giáo viên.

II. Xây dựng, củng cố đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục:

Trong khi chờ đợi hướng dẫn của Hội đồng Bộ trưởng về sắp xếp bộ máy quản lý ngành giáo dục, tạm thời ghi giảm biên chế đối với những người kém về phẩm chất đạo đức và năng lực công tác. Sở Giáo dục lập kế hoạch để chuẩn bị thực hiện biên chế ngành; bồi dưỡng chuẩn hoá đội ngũ giáo viên các cấp và hiệu trưởng phổ thông; bồi dưỡng giáo viên dạy kiêm môn ngoại ngữ, nhạc, hoá, thể dục thể thao; có kế hoạch củng cố, bổ sung đội ngũ giáo viên cấp 1. Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ cùng các ngành chức năng và Sở Giáo dục nghiên cứu giải quyết chế độ phụ cấp thêm lương cho giáo viên dạy 2 lớp nhằm khắc phục tình trạng thiếu giáo viên hiện nay.

III. Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trường học:

Tình hình cơ sở vật chất trang thiết bị trường học xuống cấp nhanh hơn tốc độ xây dựng sửa chữa. Thiết bị thí nghiệm và đồ dùng dạy học rất thiết, không đồng bộ, không đáp ứng hoạt động giáo dục, từng bước phải đầu tư. Sở Giáo dục đảm bảo sử dụng và bảo quản các nguồn kinh phí chống xuống cấp, kinh phí cho giáo dục vùng sâu đúng mục tiêu. Các địa phương tăng cường huy động nhiều nguồn kinh phí để xây dựng, sửa chữa phòng học; phấn đấu trong năm học này không còn phòng học 3 ca, đóng mới bàn ghế học sinh và giáo viên, bảng đen, trang thiết bị dạy học. Sở Giáo dục phải chỉ đạo cụ thể cho ban Giám hiệu, giáo viên nhà trường về kế hoạch xây dựng hàng rào trồng hoa, trồng cây xanh trong khuôn viên trường và trách nhiệm bảo quản cơ sở vật chất trường học. Chính quyền địa phương gắn chặt với nhà trường đề ra biện pháp cụ thể giáo dục quần chúng nhân dân, ngăn chặn xâm phạm tài sản của nhà trường góp phần tích cực thiết thực bảo vệ trưởng sở, nhất là trong những dịp lễ, tết, hè.

IV. Tiếp tục đổi mới quản lý công tác giáo dục:

1. Tổ chức tốt đợt sinh hoạt chính trị trong toàn ngành giáo dục nhằm quán triệt các văn kiện đại hội VII của Đảng, nghị quyết lần thứ V của TỉnhĐảng bộ để xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục đào tạo 1991-1995 của Tỉnh. Mở rộng vận động tuyên truyền giải thích về đường lối, quan điểm, kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo nhằm chuyển biến về nhận thức của toàn xã hội:”Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là một động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”.

2. Sở Giáo dục có kế hoạch tiến hành tổng kết 2 năm thực hiện chỉ thị 38/CT của Ban Thường vụ về công tác giáo dục.

3. Tiếp tục cuộc vận động dân chủ hoá trường học; dân chủ hóa quá trình đào tạo; phát huy tính tích cực của học sinh, giáo viên trong học tập và giảng dạy.

4. Sở Giáo dục lập đề án quản lý ngân sách giáo dục theo ngành trong toàn tỉnh và trình Ủy ban nhân dân tỉnh; kết hợp với Sở Tài chánh- vật giá lập kế hoạch thu chi quỹ học phí năm 1991-1992.

5. Phát động phong trào thi đua dạy tốt, học tốt; nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập; khuyến khích và bồi dưỡng tài năng mở rộng trường chuyên, phát triển lớp học; xây dựng quỹ học bỗng cho học sinh giỏi; giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong các nhà trường; tăng cường nghiên cứu khoa học. Các địa phương phát động phong trào thi đua toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục.

Năm học 1991-1992 có ý nghĩa quan trọng, là năm đầu tiên thực hiện kỳ kế hoạch 5 năm 1991-1995, Sở Giáo dục phải triển khai chỉ thị này đến các cơ quan giáo dục và các trường học trong toàn tỉnh, tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ năm học.

Ủy ban nhân dân các ban ngành, đoàn thể các cấp có hành động thiết thực cụ thể hỗ trợ, tăng cường đầu tư giúp đỡ mọi mặt tạo điều kiện thuận lợi cho ngành giáo dục hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học “Tiếp tục đổi mới, ổn định, phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo”.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu19/CT-UB
Ngày ban hành19/08/1991
Loại văn bảnChỉ thị
Ngày có hiệu lực19/08/1991
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Vĩnh Long / Trần Văn Ngẫu
Phạm viBến Tre
Trích yếuNăm học 1991-1992 của UBND tỉnh Bến Tre
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.