|
UBND TỈNH QUẢNG BÌNH Số: 21/2005/CT-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Quảng Bình, ngày 23 tháng 06 năm 2005 |
V/ v Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
và dự toán ngân sách năm 2006
________________
Năm 2006 là năm đầu của kế hoạch 5 năm 2006-2010, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo đà tăng trưởng cao và bền vững cho cả giai đoạn 2006-2010, nâng cao thêm một bước chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Thực hiện Chỉ thị số 18/2005/CT-TTg ngày 31/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2006, Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban ngành, đơn vị, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố triển khai xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2006 với những yêu cầu và nội dung chủ yếu sau:
a- Mục tiêu, Nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch năm 2006
I- Mục tiêu
1- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm để nâng cao khả năng hội nhập của nền kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Thực hiện có hiệu quả các chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh, khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch. Quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái.
2- Huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội. Thu hút mạnh hơn vốn đầu tư của khu vực kinh doanh và vốn đầu tư nước ngoài, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.
3- Đẩy mạnh xã hội hoá trong các lĩnh vực văn hoá xã hội. Cần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, trong việc nâng cao mức sống nhân dân nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tiếp tục xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội bền vững, giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc như: xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, phòng chống các tệ nạn xã hội.
4. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, phát huy dân chủ cơ sở. Giữ vững an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.
II- Nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch năm 2006
- Phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 10-10,5%. Tạo các điều kiện cần thiết để nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững và đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn trong những năm tiếp theo.
- Tập trung rà soát và bổ sung điều chỉnh quy hoạch tổng thể toàn tỉnh, các huyện, thành phố, quy hoạch xây dựng các trung tâm huyện lỵ, chú trọng quy hoạch chi tiết các vùng, các cụm dân cư, trong đó cần đẩy nhanh tiến độ quy hoạch các khu du lịch, đặc biệt quy hoạch khu du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng, bổ sung điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đồng Hới, xây dựng và bổ sung quy hoạch chi tiết các phường, thị trấn, thị tứ, các trung tâm cụm xã; đẩy nhanh quy hoạch sử dụng đất các huyện, xã.
- Phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ, đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, xây dựng nhiều cánh đồng đạt giá trị 40-50 triệu đồng/ha/năm. Tích cực xây dựng các biện pháp phòng chống, thiên tai, dịch bệnh. Phấn đấu đưa giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng từ 4,5 - 5%.
- Duy trì tốc độ tăng trưởng cao của ngành công nghiệp, tích cực đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất công nghiệp gắn với giảm chi phí sản xuất để tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế về thị trường tiêu thụ như: xi măng, bia...; chú trọng công nghiệp chế biến, sản xuất từ nguồn nguyên liệu địa phương như: thuỷ sản, mộc mỹ nghệ, dân dụng... Phấn đấu đưa giá trị sản xuất công nghiệp tăng từ 18,5-19%.
- Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ. Khai thác tốt tiềm năng của các thành phần kinh tế để mở rộng thị trường nội địa, ưu tiên thị trường nông thôn, miền núi, vùng sâu. Tích cực mở rộng quan hệ thương mại với các nước trong khu vực và quốc tế để tăng nhanh các mặt hàng xuất khẩu. Phát triển mạnh du lịch đặc biệt là khu du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng, Bang, Hòn La, đa dạng hoá các hình thức và sản phẩm du lịch, nâng cao chất lượng phục vụ của hệ thống dịch vụ, du lịch. Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội tăng 18%, giá trị xuất khẩu đạt 30 triệu USD.
- Đẩy mạnh việc đổi mới, sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước, triển khai thực hiện tốt quyết định số 119/2005/QĐ-TTg ngày 27/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh hình thức sắp xếp đối với một số công ty nhà nước thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại. Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (ODA, FDI, NGO) và vốn đầu tư trong nước. Đẩy mạnh giải ngân và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA.
- Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến rõ nét về phát triển giáo dục đào tạo; phát triển hệ thống dạy nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý. Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá, thông tin cho nhân dân nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Nâng cao chất lượng, hiệu quả và cải thiện các dịch vụ y tế. Đẩy mạnh xã hội hoá trong lĩnh vực văn hoá xã hội để huy động thêm nguồn lực đầu tư cho các lĩnh vực này. Tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường.
- Giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội bức xúc. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các mục tiêu của chương trình xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, chương trình 135, chương trình đầu tư cho các xã nghèo bãi ngang, cồn bãi và các chương trình mục tiêu khác. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chiến lược tăng trưởng, xoá đói giảm nghèo và Mục tiêu thiên niên kỷ.
- Đẩy nhanh tiến trình cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế hành chính, củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao đạo đức và năng lực đội ngũ cán bộ công chức, đổi mới phong cách làm việc, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và chế độ trách nhiệm. Nâng cao hiệu lực quản lý và điều hành của chính quyền các cấp, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở.
-Tăng cường củng cố quốc phòng an ninh, kết hợp tốt giữa phát triển kinh tế xã hội với quốc phòng an ninh, đảm bảo trật tự an toàn và kỷ cương trong xã hội, đặc biệt là các khu vực trọng điểm, vùng biên giới, tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Tăng cường các biện pháp có hiệu quả để ngăn ngừa và hạn chế tai nạn giao thông, tội phạm và ma tuý.
III- Nhiệm vụ xây dựng dự toán ngân sách địa phương năm 2006
Năm 2006 là năm thứ 3 trong thời kỳ ổn định ngân sách 2004-2006 theo quy định của Luật Ngân sách. Trên cơ sở nguồn thu, nhiệm vụ chi đã được phân cấp ổn định, do vậy trong việc lập dự toán ngân sách năm 2006 các ngành, các địa phương bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ sau:
1- Dự toán thu NSNN năm 2006 phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ thu năm 2005 để tính đúng, tính đủ các khoản thu đối với từng lĩnh vực, từng khoản thu theo quy định trên cơ sở phân tích dự báo các yếu tố về tăng trưởng kinh tế, thị trường giá cả. Phải đảm bảo tính tích cực trên cơ sở thực hiện các biện pháp khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường, phát triển nguồn thu. Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp tăng cường quản lý thu, quản lý việc hoàn thuế GTGT, chống thất thu, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Xây dựng dự toán thu ngân sách với mức động viên phấn đấu đạt 112% GDP và tăng 16-17% so với thực hiện năm 2005, trong đó thu nội địa tăng 15-16%.
2- Dự toán chi ngân sách tập trung bố trí để thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Dự toán chi phải căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng huyện, thành phố, đơn vị năm 2006, căn cứ vào chế độ chính sách, định mức chi hiện hành; căn cứ dự toán thu ngân sách trên địa bàn, xác định nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp, trên cơ sở đó dự toán chi hợp lý cụ thể đối với từng lĩnh vực và xếp thứ tự ưu tiên theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Ngoài ra cần bố trí kinh phí dự phòng theo quy định của Luật Ngân sách.
- Chủ động bố trí nguồn ngân sách Trung ương bổ sung và ngân sách địa phương để trả nợ các khoản đã vay, đã huy động đến hạn trả, các khoản đã ứng vốn và ưu tiên trả nợ tồn đọng các công trình xây dựng cơ bản hoàn thành.
- Xây dựng dự toán chi đầu tư phát triển cần ưu tiên bố trí vốn cho các công trình trọng điểm của tỉnh, vốn cho các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, vốn thực hiện Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ, vốn thực hiện 5 chương trình kinh tế xã hội của tỉnh, chương trình kiên cố hoá trường học, dự án định canh định cư, dự án 661, đảm bảo vốn cho công tác quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, vốn đối xứng cho các dự án ODA, tiếp tục bố trí vốn thực hiện kiên cố hoá kênh mương, phát triển giao thông nông thôn, hạ tầng du lịch, hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản, hạ tầng làng nghề, hạ tầng các khu công nghiệp, hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại, mở rộng tìm kiếm thị trường...
- Dự toán chi phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, văn hoá, y tế, khoa học công nghệ, môi trường, đảm bảo quốc phòng, an ninh, chi quản lý hành chính nhà nước, Đảng, đoàn thể theo hướng: đảm bảo kinh phí thực hiện chế độ chính sách và ưu tiên kinh phí để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng đã được quyết định.
- Các địa phương và các đơn vị sử dụng ngân sách cần quán triệt mục tiêu cải cách tiền lương, coi đây là nhiệm vụ quan trọng của cơ quan, đơn vị và địa phương; phải cân đối nguồn thực hiện cải cách tiền lương ở từng cơ quan, đơn vị theo các văn bản quy định hiện hành.
B- Tiến độ xây dựng kế hoạch và phân công nhiệm vụ
I- về tiến độ xây dựng kế hoạch năm 2006:
- Cuối tháng 6/2005 Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính hướng dẫn xây dựng kế hoạch kinh tế xã hội và dự toán ngân sách năm 2006 cho các Sở, ban ngành, các huyện, thành phố, các doanh nghiệp cấp tỉnh để làm căn cứ xây dựng kế hoạch.
- Từ cuối tháng 6 đến 10/7/2005 các Sở, ban ngành, huyện, thành phố, doanh nghiệp xây dựng và báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư, dự toán ngân sách gửi Sở Tài chính.
- Từ ngày 11/7-18/7/2005 Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, Sở Tài chính tổng hợp kế hoạch ngân sách để báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thường vụ Tỉnh uỷ.
- Từ ngày 18/7-20/7/2005 Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài chính hoàn chỉnh báo cáo gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.
II- Phân công thực hiện:
1- Sở Kế hoạch và Đầu tư:
- Chủ trì phối hợp với Sở Tài chính tính toán xây dựng các phương án, các cân đối lớn để làm cơ sở hướng dẫn cho các Sở, ngành, huyện thành phố xây dựng kế hoạch năm 2006.
- Tổ chức hội nghị hướng dẫn xây dựng và tổng hợp kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2006.
- Chủ trì phối hợp với Sở Tài chính dự kiến về Kế hoạch đầu tư phát triển, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn chương trình mục tiêu quốc gia và vốn chương trình dự án khác.
2- Sở Tài chính:
- Hướng dẫn các Sở, ngành, huyện thành phố xây dựng dự toán ngân sách năm 2006.
- Chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục thuế, các đơn vị có liên quan xây dựng và tổng hợp dự toán ngân sách Nhà nước năm 2006.
3- Các Sở, ban, ngành, Uỷ ban nhân dân các huyện thành phố.
- Chủ động phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách năm 2006 sát đúng với thực tế và đảm bảo tính khả thi cao, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Tiến hành xây dựng các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế xã hội, các giải pháp, đề xuất các cơ chế chính sách nhằm hoàn thành tốt mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra.
- Các ngành, huyện, thành phố, các doanh nghiệp thuộc Tỉnh cần có sự hướng dẫn cụ thể và có kế hoạch làm việc với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính để báo cáo đầy đủ tình hình và dự kiến kế hoạch cho sát đúng.
Việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2006 là công việc quan trọng và cấp bách. Do vậy kế hoạch của các ngành, huyện thành phố, các doanh nghiệp phải được xây dựng từ cơ sở, phải được bàn bạc, thảo luận trong Lãnh đạo Sở, đơn vị, trong Thường vụ huyện uỷ, Thường trực Uỷ ban nhân dân huyện để có sự thống nhất, quyết tâm cao trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
- Uỷ ban nhân dân Tỉnh yêu cầu Lãnh đạo các sở, ban, ngành, đơn vị thuộc tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức thực hiện ngay khi nhận được Chỉ thị này. Giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị và tổng hợp báo cáo các Bộ đúng tiến độ./.