|
UBND TỈNH BẾN TRE Số: 24/CT-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bến Tre, ngày 24 tháng 06 năm 1983 |
Kế hoạch Nhà nước năm 1894 có vị trí rất quan trọng trong việc hoàn thành những mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1981-1985 của đại hội lần thứ V của Đảng và Nghị quyết của Tỉnh ủy.
Kế hoạch năm 1984 vừa phải đáp ứng những nhu cầu kinh tế- xã hội của năm 1984, vừa phải tích cực chuẩn bị cho việc hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch năm 1985 và kế hoạch 5 năm 1986-1990.
Để đảm bảo việc xây dựng kế hoạch năm 1984 có chất lượng tốt, vừa tích cực, vừa vững chắc theo yêu cầu đổi mới kế hoạch hóa và quản lý kinh tế đã nêu trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 của BCH TW Đảng (khóa V). Song song với việc thực hiện Chỉ thị số ……./CT-TU của Ban thường vụ Tỉnh ủy về việc lãnh đạo tốt công tác xây dựng, tổng hợp KH năm 84 UBND tỉnh yêu cầu các ngành, sở, huyện, thị xã cần nắm vững những điểm sau đây:
I. XÂY DỰNG VÀ TỔNG HỢP KẾ HOẠCH TỪ CƠ SỞ VÀ HUYỆN LÊN
1. Các họat động sản xuất, kinh doanh đều phải đưa vào cân đối và tổng hợp, từ cơ sở lên và phản ánh trong kế hoạch kinh tế quốc dân, nhằm mở rộng quyền chủ động của các ngành, các địa phương và cơ sở, đồng thời đảm bảo sự quản lý thống nhất xóa bỏ cơ chế hành chính, quan liêu, bao cấp, khắc phục tình trạng phân tán, tùy tiện, chạy theo cơ chế thị trường và từng bước xây dựng cơ chế quản lý mới.
2. Kế hoạch của mỗi ngành, mỗi cấp, đều phải bao gồm: cả tiêu sản xuất gắn liền với kế hoạch cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất XHCN trong nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp, nâng cao vai trò chỉ đạo của kinh tế quốc doanh trong mọi lĩnh vực. Chú trọng kế hoạch phân bổ và phân công lao động, bảo đảm việc làm cho lao động xã hội, nâng cao thu nhập của người lao động, xây dựng cuộc sống mới về văn hóa và tinh thần. Trong kế hoạch Nhà nước, cần giành một phần vốn, vật tư thích đáng cho công tác xã hội, đồng thời huy động sự đóng góp của nhân dân.
3. Kế hoạch của mỗi ngành, mỗi cấp là một kế hoạch thống đối một số điều kiện chủ yếu; phần kế hoạch do ngành, địa phương và cơ sở tự cân đối thêm, thông qua việc khai thác các tiềm năng vốn tự có, hợp tác liên kết bổ sung; xuất nhập khẩu thêm của địa phương … sau khi đã hoàn thành chỉ tiêu của cấp trên giao.
Với khả năng vật chất có hạn, phần kế hoạch do ngành, địa phương và cơ sở cân đối them phải nhằm ưu tiên bảo đảm hoàn thành vượt mức những nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của cấp trên giao; nhất thiết không được rút bớt nhiệm vụ, nhất là các chỉ tiêu giao mua, giao nộp sản phẩm, để làm kế hoạch bổ sung hoặc trông chờ ở trên cung cấp thêm các điều kiện vật chất.
4. Các huyện thực hiện việc tổng hợp kế hoạch từ cơ sở lên bao gồm phần kế hoạch do địa phương trực tiếp quản lý và phần kế hoạch cân đối trên địa bàn lãnh thổ. các ngành, sở phải tổng hợp cho được kế hoạch toàn ngành bao gồm phần kế hoạch do ngành trực tiếp quản lý và phần kế hoạch ngành do địa phương trực tiếp quản lý.
UBND tỉnh phải tổ chức tốt việc tổng hợp kế hoạch Nhà nước thành kế hoạch kinh tế quốc dân bao gồm cả kế hoạch bổ sung của các ngành, các cấp. Trong quá trình xây dựng kế hoạch. UBKH tỉnh cùng các ngành, sở, địa phương, huyện, thị tổ chức các đoàn công tác về các XN, cổng trường và cơ sở nhất là các cơ sở trọng điểm như vùng cao sản Châu Thành…để chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng và tổng hợp kế hoạch từ dưới lên.
II. KẾT HỢP VỚI KẾ HOẠCH HẠCH TOÁN KINH TẾ, TĂNG CƯỜNG CÁC CHỈ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
1. Việc xây dựng kế hoạch của các ngành, các cấp phải đặc biệt coi trọng về quản lý, chặt chẽ cao chỉ tiêu chất lượng và hiệu quả kinh tế, đưa các chỉ tiêu này vào hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh của kế hoạch Nhà nước. Soát xét, bổ sung và kiểm tra nghiêm ngặt việc thực hiện các chỉ tiêu và chất lượng sản phẩm (sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm xuất khẩu), chất lượng công trình và chất lượng phục vụ,…
Có biện pháp tích cực và cụ thể giảm mức tiêu hao năng lượng, điện than, nhiên liệu, vật tư, giảm giá thành và chi phí lưu thông. Sửa đổi phương pháp kế hoạch hóa và hạch toán giá thành bảo đảm phản ánh đúng đắn các chi phí hợp lý của sản xuất, từng bước xóa bỏ những chi phí bất hợp lý trong giá thành.
2. Quản lý chặt chẽ và thống nhất kế hoạch, xuất nhập khẩu các ngành và các huyện, thị xã một mặt phải đảm bảo hoàn thành kế hoạch xuất nhập khẩu của TW giao, song song đó khuyến khích các ngành, các địa phương tận dụng mọi khả năng để đẩy mạnh tạo nguồn và châm hàng xuất khẩu thêm. Phần xuất, nhập khẩu thêm ngoài kế hoạch tỉnh giao cũng phải được tổng hợp vào kế hoạch của từng ngành và từng cấp theo sự hướng dẫn của Bộ Ngoại thương, Công ty liên hiệp xuất khẩu và UBKH tỉnh. Quả lý chặt chẽ chỉ tiêu thu chi ngoại tệ, qua các khoản thu chi bằng nguồn ngoại tệ tự có của một số ngành vào vế hoạch chung của tỉnh do UBKH tỉnh cân đối và phải được UBND tỉnh xét duyệt từng phương án một. Chú trọng hiệu quả kinh tế trong xuất, nhập khẩu phải cân nhắc kỹ, tập trung cho vật tư kỹ thuật, nguyên liệu thiết bị cần thiết để mở rộng hay đổi mới sản xuất. Hết sức hạn chế nhập các mặt hàng tiêu dùng.
3. Kế hoạch hóa và quyết toán chặt chẽ ngân sách, phản ánh đầy đủ các khoản thu chi vào ngân sách của tỉnh và huyện, thị, quy định rõ nguồn vốn đầu tư tập trung của ngân sách (bao gồm ngân sách TW giao và ngân sách địa phương) và nguồn vốn tự có của các ngành, các địa phương và cơ sở, kiểm tra việc sử dụng các quỹ ngoài ngân sách (các quỹ của XN, của tổ chức đoàn thể xã hội).
4. Kế hoạch hoa1 và hạch toán rõ ràng giữa tỉnh và các ngành, sở, giữa tỉnh và TW về kết quả sản xuất kinh doanh, cố gắng làm rõ ngành nào làm đủ ăn và có hiệu quả; địa phương nào hoàn thành tốt nghĩa vụ giao nộp sản phẩm cho tỉnh.
Đối với các cơ sở quốc doanh, cần kế hoạch hóa và hạch toán khối lượng vật tư, tiền vốn, ngoại tệ với khối lượng sản phẩm giao nộp, xuất khẩu và tích luỹ nộp ngân sách (chú trọng việc giao nộp sản phẩm của phần kế hoạch bổ sung và sản xuất phụ của XN).
Kế hoạch hoá và hạch toán quỹ vật tư, hàng hoá Nhà nước cung cấp cho nông dân với khối lượng sản phẩm nông dân bán cho Nhà nước theo hợp đồng kinh tế 2 chiều (trừ phần thu thuế hiện vật).
5. Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ quyết toán, xét duyệt kết quả thực hiện kế hoạch hàng nămở tất cả các đơn vị cơ sở, huyện, thị xã. Chú trọng việc quyết toán vật tư, tiền vốn; ngoại tệ với khối lượng sản xuất kinh doanh, quyết toán vật tư trong XDCB; kiên quyết thu và cho tỉnh hoặc thu vào kế hoạch năm sau số vật tư, tiền vốn, ngoại tệ thuộc phần nhiệm vụ không hoàn thành trong năm kế hoạch.
III. XÚC TIẾN MỘT SỐ CÔNG VIỆC CẦN THIẾT NHẰM PHỤC VỤ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
1. Trước hết phải tiến hành sơ kết, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước trong 3 năm (81-83), xác định rõ những mặt đã làm được, những mặt chưa làm được và nguyên nhân. Đối chiếu với những nhiệm vụ còn lại của 2 năm 84-85. Có biện pháp tập trung cao độc để giải quyết những nhiệm vụ, sản phẩm trọng yếu và mức độ thực hiện còn thấp.
2. Xúc tiến điều tra cơ bản đất đai, tài nguyên cơ sở vật chất kỹ thuật và triển khai công tác phân vùng quy hoạch, xây dựng các phương án kinh tế kỹ thuật của từng sản phẩm để phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch 84-85, chuẩn bị điều kiện cho việc xây dựng kế hoạch 5 năm 86-90 và việc nghiên cứu chiến lược dài hạn.
3. Soát xét lại, bổ sung và ban hành các tiêu chuẩn định mức kinh tế kỹ thuật; trước hết là định mức tiêu hao, xăng dầu, điện than; định mức chi phí tiền lương trên một đơn vị sản phẩm. Xác định giá tính toán kế hoạch để làm cơ sở các việc xây dựng kế hoạch và hạch toán kinh tế.
4. Đồng thời với việc xây dựng kế hoạch bằng chỉ tiêu số liệu cụ thể, năm nay phải hết sức coi trọng việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp và chính sách rất thiết thực và rất cụ thể, nhằm bảo đảm thực hiện các chỉ tiêu số lượng và chất lượng, nghiên cứu đề xuất các chế độ quản lý mới để tỉnh xem xét và quyết định.
Kiên quyết khắc phục hiện tượng tuỳ tiện trong việc chấp hành chính sách Nhà nước, tự ý sửa đổi hoặc ban hành chính sách riêng biệt.
IV. TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
Đầu tháng 7 phổ biến sổ kiểm tra các sở, huyện, thị đồng thời tổ chức hội nghị về cải tiến kế hoạch hoá. Sau khi nhận được sổ kiểm tra các sở, ngành và huyện thị phải nhanh chóng phổ biến sổ kiểm tra đến cơ sở.
Tháng 7 và 8 các cơ sở xây dựng kế hoạch.
- Đến 20/8 các sở, huyện thị tổng hợp kế hoạch và bảo vệ kế hoạch trước Thường trực UBND và UBKH tỉnh.
- Đầu tháng 9 UBND tỉnh sẽ tổng hợp toàn bộ kế hoạch kinh tế quốc dân và báo cáo Thường vụ Tỉnh uỷ và Thường trực UBND tỉnh để đi bảo vệ với Hội đồng Bộ trưởng và UBKH Nhà nước.
- Cuối tháng 12 (phấn đấu từ 15-20 than1g 12) sẽ giao kế hoạch chính thức năm 84 để sở, ngành, huyện thị triển khai thực hiện, giao kế hoạch cho cơ sở.
Việc xây dựng kế hoạch trong năm 1984, phải kết hợp chặt chẽ với việc sắp xếp lại kinh tế, bố trí lại sản xuất, cải tiến cơ chế, quản lý và kế hoạch hoá/ Vì vậy cần có sự lãnh đạo chặt chẽ của các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, các đồng chí Giám đốc sở, Chủ nhiệm các Công ty trực thuộc UBND tỉnh, Chủ tịch UBND huyện thị phải trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng và tổng hợp kế hoạch từ cơ sở lên, báo cáo kịp thời lên thường trực UBND và UBKH tỉnh./.