|
UBND TỈNH NINH THUẬN Số: 25/2003/CT-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Ninh Thuận, ngày 17 tháng 07 năm 2003 |
CHỈ THỊ CỦA CHỦ TỊCH UBND TỈNH NINH THUẬN
Về việc Xây dựng kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2004
Ngày 12/06/2003 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 15/2003/CT-TTg về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2004. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản số 69 BKH/TH ngày 5/6/2003 hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2004.
Tỉnh Uỷ, Hội đồng nhân dân tỉnh có Nghị quyết về tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm và các công tác lớn 6 tháng cuối năm, trong đó có nhiệm vụ xây dựng và tổng hợp kế hoạch năm 2004.
Để việc xây dựng và tổng hợp kế hoạch năm 2004 của tỉnh kịp tiến độ chung của cả nước, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu các Sở, Ngành, UBND các huyện, thị xã trên cơ sở thực hiện 6 tháng cuối năm, phát huy tinh thần sáng tạo, năng động, vượt qua khó khăn, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội năm 2003, đồng thời triển khai xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2004 với những yêu cầu và nội dung chủ yếu sau:
I. Nội dung nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch năm 2004:
1. Mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch năm 2004:
Năm 2004 là năm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thành các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, Ngành, UBND các huyện, thị xã cần tập trung thực hiện tốt các mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu sau:
a) Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế (GDP) từ 8,5 – 9%, giá trị sản xuất các ngành nông lâm nghiệp tăng thấp nhất 5%, thuỷ sản 12 – 12,5%, công nghiệp 20 – 22% và ngành giá trị các ngành dịch vụ tăng 8,5 – 9%. Tạo các điều kiện cần thiết để nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn trong năm 2005.
b) Khẩn trương rà soát lại các quy hoạch đã được duyệt, nhất là các qui hoạch cây trồng, các sản phẩm chủ lực. Đẩy mạnh việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu sản phẩm theo hướng khai thác các tiềm năng và lợi thuế; trong nông nghiệp thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng để tăng thu nhập trên đơn vị diện tích, nhanh chóng hình thành các vùng cây công nghiệp tập trung cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Trong công nghiệp phát triển những sản phẩm có lợi thế, khả năng cạnh tranh cao. Thực hiện có hiệu quả giảm chi phí sản xuất, để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
c) Thực hiện có hiệu quả công tác cải cách các thủ tục hành chính: Ban hành và bổ sung các dự án chính sách ưu đãi đầu tư để thu hút vốn đầu tư; tạo các điều kiện thuận lợi cho các đăng ký triển khai đúng tiến độ, nhất là các dự án có qui mô lớn. Phấn đấu tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 7 – 8% GDP: thực hiện tốt luật ngân sách Nhà nước sửa đổi; tăng chi cho đầu tư phát triển, cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế , khoa học công nghệ, … thực hiện tốt các chính sách xã hội và xoá đói giảm nghèo.
d) Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu: giải quyết triệt để tình trạng trì trệ kéo dài Công ty xuất nhập khẩu, tạo các điều kiện cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đầu tư vào lĩnh vực chế biến hàng xuất khẩu nhất là thủy sản xuất khẩu. Ban hành danh mục các dự án để xúc tiến kêu gọi đầu tư. Thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), tranh thủ nguồn vốn NGO tập trung vào lĩnh vực y tế, giáo dục và xoá đói giảm nghèo.
đ) Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến căn bản và toàn diện về phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo và dạy nghề. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất: tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên môi trường.
e) Giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội bức xúc: đẩy nhanh tiến độ thực hiện các mục tiêu của chương trình xoá đói giảm nghèo, việc làm và chương trình 135. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, củng cố tổ chức bộ máy, xây dựng và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công chức, cải cách tài chính công.
g) Tiếp tục củng cố quốc phòng và an ninh, kết hợp giữa quốc phòng và an ninh với phát triển kinh tế – xã hội. Tăng cường công tác đấu tranh với các hoạt động tội phạm có tổ chức, đảm bảo trật tự kỷ cươngtrong xã hội.
2. Nhiệm vụ xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước năm 2004:
Năm 2004 là năm đầu tiên thực hiện Luật ngân sách Nhà nước (sửa đổi). đồng thời củng là năm triển khai thực hiện luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng; luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi). Vì vậy yêu cầu các ngành, các cấp quán triệt đầy đủ, tổ chức triển khai thực hiện đúng theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước và các Luật thuế nêu trên. Mọi nguồn thu, nhiệm vụ chi phải được đưa vào cân đối ngân sách địa phương.
Dự toán thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn: Trên cơ sở dự báo tăng trưởng kinh tế và nguồn thu năm 2004 đối với từng ngành, từng lĩnh vực, các cơ sở kinh tế và các nguồn thu mới phát sinh trên địa bàn để tính đúng, tính đủ từng lĩnh vực, khoản thu theo chế độ. Dự toán thu phải bao gồm đầy đủ cả nguồn thu trên địa bàn xã, phường, thị trấn theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước và phấn đấutăng thu bình quân trên 12% so với ước thực hiện năm 2003.
Dự toán chi ngân sách tỉnh và huyện: Căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, huyện năm 2004, các chế độ chính sách, định mức chi hiện hành, dự kiến nhu cầu chi hợp lý, cụ thể đối với từng lĩnh vực, bố trí dự phòng theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước, trả nợ các khoản đã vay … để xây dựng dự toán chi ngân sách năm 2004. Dự toán chi ngân sách huyện, thị xã phải bao gồm cả nhiệm vụ chi của ngân sách xã, phường, thị trấn.
Thực hiện tốt cải cách tiền lương nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, thúc đẩy cải cách hành chính. Các Sở, Ngành và các huyện, thị xã cần quán triệt mục tiêu cải cách, coi đây là nhiệm vụ quan trọng của cơ quan, đơn vị và địa phương.
3. Nhiệm vụ xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển:
Đầu tư phát triển năm 2004 phải đảm bảo thực hiện các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2001-2005, trước hết tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Thực hiện kế hoạch hoá trong đầu tư, ưu tiên công trình trọng điểm, công trình chuyển tiếp, hạn chế công trình khởi công mới. Tiếp tục phân cấp cho các huyện, thị xã vốn đầu tư hoàn chỉnh các công trình trụ sở xã, giáo dục, y tế và một số các công trình khác. Trong cân đối vốn đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách, dành tỷ lệ thích đáng cho đầu tư phát triển theo nguyên tắc tốc độ tăng chi đầu tư phát triển cao hơn tốc độ tăng chi thường xuyên và cao hơn tốc độ tăng thu của ngân sách địa phương.
Trên cơ sở mục tiêu cơ bản trên, kế hoạch đầu tư phát triển năm 2004 các Sở, Ngành, các huyện, thị phải bao gồm tất cả các nguồn vốn: Vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước, vốn đầu tư của DNNN, vốn ODA, vốn đầu tư huy động từ khu vực dân cư và tư nhân và các nguồn vốn huy động khác.
Nguồn vốn ngân sách tập trung trước hết cân đối cho các dự án chuyển tiếp, dự án trọng điểm và các dự án có ý nghĩa tích cực trong công việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Bố trí đủ vốn đối ứng cho các dự án ODA, các dự án khởi công mới chỉ thi công các dự án búc xúc và có nguồn vốn đầu tư. Vốn chương trình mục tiêu Quốc gia và chương trình 135 tiếp tục được đầu tư theo các mục tiêu của chính phủ đã xác định.
Tranh thủ tối đa nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu của chính phủ nhất là chương trình hỗ trợ đầu tư hạ tầng công nghiệp, du lịch, hạ tầng làng nghề, hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản, hạ tầng nghề muối, phủ sóng truyền hình, nguồn vốn thuộc chương trình kiên cố hóa trường học của Chính phủ…
II. Tiến độ xây dựng kế hoạch và phân công thực hiện:
1) Về tiến độ xây dựngkế hoạch :
Trung tuần tháng 7/2003 Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính – Vật giá hướng dẫn khung kế hoạch và hướng phân bổ ngân sách năm 2004 cho các Sở, Ngành và các huyện thị làm căn cứ xây dựng kế hoạch.
Các Sở, Ngành và các huyện, thị xã xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2004 và gửi về Sở kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính – Vật giá để tổng hợp trình UBDN tỉnh trước ngày 15/8/2003.
Trong tháng 8/2003 Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính – Vật giá tổng hợp xong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2004 trình UBND tỉnh, thường vụ Tỉnh Uỷ trước khi trình Bộ Kế hoạch và Đầu tưvà Bộ Tài chính,
Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2004 Chính phủ giao cho tỉnh, các hướng dẫn chi tiết của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, trước ngày 10/12/2003 UBND tỉnh giao xong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước cho các Sở, Ngành và các huyện thị để triển khai thực hiện.
2. Về phân công thực hiện:
a) Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hướng dẫn xây dựng và tổng hợp kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2004; Chủ trì phối hợp sở Tài chính – Vật giá dự kiến kế hoạch đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách tập trung và lập phương án phân bổ vốn cho đầu tư phát triển; Xây dựng và tổng hợp phương án phân bổ dự toán chi chương trình mục tiêu Quốc gia, chương trình 135 và các chương trình mục khác.
b) Sở Tài chính – Vật giá tổ chức hướng dẫn các Sở, Ngành các đơn vị sự nghiệp và các huyện, thị xã đánh giá tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2003 và xây dựng dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước năm 2004. Chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan có liên quan xây dựng và tổng hợp dự toán ngân sách Nhà nước tỉnh năm 2004, làm việc với các Sở, Ngành và các huyện, thị xã về dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước năm 2004.
c) Các Sở, Ngành và các DNNN; Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính – Vật giá xây kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
Các Sở quản lý chương trình mục tiêu Quốc gia và dự án 5 triệu ha rừng phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính – Vật giá xây dựng kế hoạch các chương trình mục tiêu Quốc gia thuộc lĩnh vực mình quản lý gửi về Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính – Vật giá và các Bộ, Ngành có liên quan quản lý chương trình.
d) UBND các huyện, thị xã hướng dẫn các phòng chuyên môn thuộc huyện, thị phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính – Vật giá và các Sở, Ngành khác xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2004, kế hoạch các chương trình mục tiêu Quốc gia, chương trình 135 và các chương trình mục tiêu khác trình cấp có thẩm quyền quyết định.
Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Giám đốc các Sở, Ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, Giám đốc các DNNN triển khai thực hiện tốt chỉ thị này.