Quay lại

Chỉ thị 26/2002/CT-UB về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2003

UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-------

Số: 26/2002/CT-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

thành phố Hà Nội, ngày 17 tháng 07 năm 2002

CHỈ THỊ CỦA UBND THÀNH PHỐ

Về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2003

Thực hiện Nghị quyết của Thành uỷ, Hội đồng nhân dân Thành phố về nhiệm vụ phát triển ke - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2002, Thành phố đã chỉ đạo, tổ chức thực hiện tập trung hơn, quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, tạo sự chuyển biến rõ rệt trên tất cả các mặt công tác. Sau 6 tháng, kinh tế - xã hội thủ đô có bước phát triển tốt, một số chỉ tiêu kế hoạch vượt ở mức cao so với các năm trước. Cải cách hành chính bước đầu có chuyển biến. Đời sống nhân dân được cải thiện. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được tăng cường; các vấn đề tồn tại, bức xúc đang được tập trung giải quyết và từng bước đẩy lùi. Những kết quả trên tạo đà để Thành phố đạt và vượt mức các chỉ tiêu của kế hoạch năm 2002.

Tuy nhiên, kinh tế - xã hội Thủ đô đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, xuất khẩu giảm, giá trị ngành dịch vụ chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch; công tác GPMB còn vướng mắc khó khăn... Để hoàn thành kê hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2002, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội cần tập trung chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm của Chính phủ và Thành phố đề ra.

Cùng với thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2002, cần tích cực triển khai xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2003 theo đúng chỉ thị số 14/2002/CT-TTg ngày 28/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ với những yêu cầu và nội dung chủ yếu sau:

I. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2003:

1. Tư tưởng chỉ đạo xây dựng kế hoạch năm 2003

Năm 2003 là năm thứ ba thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị, Pháp lệnh Thủ đô, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XIII, Nghị quyết số 19/2001/NQ-HĐ của HĐND Thành phố về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 của Thủ đô. Đây là năm có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, vì vậy trong xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2003 phải bám sát mục tiêu và những định hướng của kế hoạch 5 năm, tăng cường huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, tạo bước phát triển mạnh trong tăng trường và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tập trung chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, tăng cường quản lý và xây dựng đô thị; tạo sự chuyển biến rõ rệt và phát triển văn hoá xã hội, góp phần quan trọng và tạo đà cho thực hiện thắng lợi toàn diện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả thời kỳ 5 năm 2001 - 2005.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2003:

Mục tiêu tổng quát của KH năm 2003 là:Thúc đẩy phát triển kinh tế với nhịp độ cao và ổn định; có bước chuyển mạnh về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và cơ cấu đầu tư để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tham gia chủ động và hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu đi đôi với khai thác tốt thị trường trong nước, chú trọng cả thị trường nông thôn và thị trường thành thị. Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội, nhất là hạ tầng giao thông. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong hoạt động kinh tế - xã hội. Nâng cao đời sống nhân dân; tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc. Kết hợp tốt phát triển kinh tế, xã hội và môi trường với nâng cao khả năng quốc phòng, an ninh, giữ vững trật tự, an toàn xã hội.

Thực hiện mục tiêu trên, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2003 cần tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đảm bảo tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 10 - 11%, tạo điều kiện để tăng trưởng kinh tế ổn định, hiệu quả và bền vững; tạo điều kiện để tăng trưởng kinh tế cao hơn trong những năm tiếp theo.

Duy trì tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp 14 - 15%, tập trung phát triển những sản phẩm đang có lợi thế và có sức cạnh tranh cao; hỗ trợ để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm chủ lực. Kết hợp đầu tư chiều sâu với đầu tư mở rộng; ưu tiên đầu tư xây dựng mới các cơ sở công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và nhanh chóng cơ cấu lại sản xuất công nghiệp. Đẩy nhanh tiến độ thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp tập trung và tiến độ xây dựng các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước. Đẩy mạnh tiến độ cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê các doanh nghiệp Nhà nước mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn; đồng thời tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp đã cổ phần hoá hoạt động hiệu quả. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển, chú trọng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ, tập trung phát triển các loại hình dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, tư vấn, giáo dục đào tạo, y tế, du lịch, vận tải hành khách công cộng... Phấn đấu tăng giá trị sản xuất các ngành dịch vụ là 10-11%. Xây dựng và phát triển đồng bộ các loại thị trường, từng bước giảm chi phí trung gian để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Tiếp tục thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, an toàn, có chất lượng và hiệu quả, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước; hình thành nền nông nghiệp đô thị - sinh thái. Phấn đấu đạt tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp 2,5-3%. Tập trung phát triển các khu, các vùng sản xuất hàng hoá nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với tiềm năng và lợi thế từng huyện. Gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến. Kết hợp phát triển sản xuất với tăng cường đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - kỹ thuật - xã hội ở nông thôn để nâng cao đời sống nông dân; phát triển mạnh làng nghề và truyền thống; đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu lao động, nâng cao năng suất,. hiệu quả lao động ở nông thôn. Chủ động phòng chống bão lụt có hiệu quả.

Xây dựng các cơ chế, chính sách và giải pháp để huy động mọi nguồn lực, tăng nhanh đầu tư xã hội, điều chỉnh cơ cấu đầu tư nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế Thủ đô.

Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại, tập trung tháo gỡ những khó khăn trong xuất khẩu, tăng cường xúc tiến thương mại, củng cố thị trường truyền thống, quan tâm mở rộng và phát triển thị trường Mỹ, Nhật Bản. Nâng cao nhận thức của các ngành, địa phương, đặc biệt là các doanh nghiệp về sự cấp bách và tính cạnh tranh ngày càng gay gắt trong hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Từng bước nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu, tăng nhanh tỷ lệ hàng xuất khẩu qua chế biến tinh, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và thu hút công nghệ hiện đại.

Tăng cường xây dựng và quản lý đô thị. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ GPMB, tiến độ triển khai 9 cụm công trình trọng điểm, công trình phục vụ Seagames 2 Tăng cường quản lý các khu đô thị, đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu đô thị mới. Giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc về nhà ở, cấp nước sinh hoạt, thoát nước, thu gom xử lý rác thải và bảo vệ môi trường. Phát triển mạnh vận tải hành khách công cộng, tiếp tục tập trung giải quyết tình trạng ách tắc giao thông.

Tăng cường quản lý đất đai, quản lý nhà ở, thực hiện nghiêm các quy định của Chính phủ và của UBND Thành phố về tăng cường quản lý đất đai, ngăn chặn, xử lý việc mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái pháp luật, cấp đất không đúng thẩm quyền. Tiếp tục kiểm tra, xử lý, thu hồi diện tích đất sử dụng sai mục đích, bỏ hoang hoá trên địa bàn.

Tiếp tục đổi mới, phát triển giáo dục đào tạo. Tích cực thực hiện cải cách và nâng cao chất lượng chương trình; đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục đào tạo, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu xoá phòng học cấp 4 ở bậc phổ thông vào năm 2003. Quan tâm đẩy mạnh đào tạo nghề chất lượng cao; từng bước điều chỉnh cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đẩy mạnh các hoạt động khoa học công nghệ, ứng dụng nhanh các công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất; tăng cường công tác bảo vệ và cải thiện môi trường.

Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc; thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia; quan tâm mục tiêu giảm nghèo, giải quyết việc làm; đẩy mạnh phòng chống các tệ nạn xã hội: ma tuý, mại dâm, cờ bạc...

Đẩy mạnh cải cách hành chính, làm rõ trách nhiệm của từng ngành, từng cấp, từng cá nhân trong thực thi nhiệm vụ. Tiếp tục kiện toàn, sắp xếp lại tổ chức bộ máy hành chính các cấp theo chức năng, nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu lực chỉ đạo điều hành, bám sát cơ sở, theo sát những công việc để có các giải pháp thích hợp đẩy nhanh tiến độ công việc.

Kết hợp tốt phát triển kinh tế, xã hội và môi trường với nâng cao khả năng quốc phòng, an ninh, tăng cường trấn áp các hoạt động tội phạm, giữ vững trật tự, an toàn xã hội.

3. Nhiệm vụ Ngân sách Nhà nước của Thành phố năm 2003

Dự toán thu ngân sách Nhà nước phải được xây dựng trên cơ sở tính đúng, tính đủ các khoản thu theo quy định của pháp luật hiện hành, trên cơ sở phân tích, dự báo các yếu tố về tăng trưởng kinh tế, thị trường, giá cả... Đẩy mạnh công tác đấu giá quyền sử dụng đất để bổ sung nguồn đầu tư phát triển.

Thực hiện đầy đủ các quy định về khuyến khích sản xuất, kinh doanh, tăng xuất khẩu, mở rộng thị trường; thực hiện các biện pháp tăng cường quản lý thu, quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng, chống thất thu, thất thoát thuế, chống buôn lậu và gian lận thương mại.

Bố trí dự toán chi phải đảm bảo các nguyên tắc:

Tổng số chi không được vượt qua tổng thu ngân sách địa phương được hưởng.

Dự toán chi ngân sách Nhà nước tập trung thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo; đảm bảo nguồn lực thực hiện các Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nướckinh tế tập thể; đổi mới cơ chế, chính sách khuyên khích và tạo điều kiệ; Nghị quyết Trung ương 5 (khoá Ĩ) về đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiệnphát triển kinh tế tư nhân.

Các đơn vị sự nghiệp thực hiện theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu cần quản lý, sử dụng có hiệu quả ngân sách và nguồn thu theo chế độ quy định, đảm bảo phát triển sự nghiệp được phân công và đảm bảo nguồn kinh phí thực hiện những nhiệm vụ quan trọng được giao.

Bố trí dự phòng ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước và đảm bảo chủ động đối phó với thiên tai, lũ lụt và xử lý những nhiệm vụ đột xuất phát sinh.

Dự toán chi thường xuyên được xây dựng ở mức cần thiết, hợp lý, tiết kiệm. Đảm bảo tỷ trọng ưu tiên chi ngân sách cho các nhiệm vụ chi đầu tư phát triển, cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, môi trường. Chi thường xuyên phải tăng thấp hơn tốc độ tăng chi đầu tư phát triển. Nghiên cứu mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước theo Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ.

Đối với các chương trình mục tiêu quốc gia: thực hiện theo Quyết định số 42/2002/QĐ-TTg ngày 19/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý và điều hành các chương trình mục tiêu quốc gia.

Dự toán chi đầu tư phát triển thuộc vốn ngân sách Nhà nước năm 2003 tập trung ưu tiên vốn cho các công trình trọng điểm; đảm bảo đủ vốn chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, và các công trình hoàn thành sẽ đưa vào sử dụng trong năm; bố trí đủ vốn đối ứng các dự án ODA; không bố trí vốn cho các công trình chưa đủ điều kiện theo đúng quy định; thực hiện hỗ trợ cho sản xuất các sản phẩm chủ lực, chế biến nông sản, sản xuất hàng xuất khẩu; phát triển giống cây, giống con; chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp; phát triển cơ sở hạ tầng; tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng và tìm kiếm thị trường xuất khẩu; tạo việc làm, giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội.

Dự toán thu - chi ngân sách của Thành phố và các quận, huyện phải xây dựng trên cơ sở thực hiện mở rộng phân cấp ngân sách cho các quận, huyện theo đúng tinh thần các Nghị quyết của HĐND Thành phố.

II. TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH VÀ PHÂN CÔNG THỰC HIỆN:

1. Tiến độ:

Trước ngày 20/7/2002, Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài chính vật giá hướng dẫn khung kế hoạch và hướng phân bổ ngân sách Nhà nước năm 2003 cho các Sở, Ngành, Quận, Huyện để làm căn cứ xây dựng kế hoạch.

Trước ngày 6/8/2002 các Sở, Ngành, Đoàn thể và UBND Quận, Huyện gửi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2003 về Uỷ ban nhân dân Thành phố, đồng thời gửi Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài chính - vật giá để tổng hợp trình UBND Thành phố.

Sở Kế hoạch và đầu tư phối hợp với Sở Tài chính vật giá làm việc với các Sở, Ngành, Quận, Huyện và các đơn vị có liên quan để kịp tổng hợp kế hoạch trình Thành phố và báo cáo Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính đúng thời gian quy định (trước ngày 15/8/2002).

2. Phân công thực hiện:

1. Sở Kế hoạch & Đầu tư:

Hướng dẫn các Sở, Ngành, Quận, Huyện xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2003.

Chủ trì phối hợp với Sở Tài chính - vật giá xây dựng các phương án, các cân đối lớn làm căn cứ hướng dẫn xây dựng kế hoạch KT-XH năm 2003; dự kiến kế hoạch đầu tư phát triển và phan bổ vốn đầu tư phát triển năm 2003. Phối hợp với Sở Tài chính - vật giá và các Sở quản lý các Chương trình quốc gia và Chương trình mục tiêu xây dựng các nội dung để triển khai trong năm 2003.

Chủ trì tổng hợp kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2003 của Thành phố trình UBND Thành phố và báo cáo Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính.

2. Sở Tài chính - Vật giá:

Chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và đầu tư đánh giá tình hình thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước của Thành phố năm 2002, xây dựng và tổng hợp dự toán ngân sách địa phương năm 2003.

Hướng dẫn các Sở, ngành, Quận, Huyện đánh giá tình hình thực hiện dự toán ngân sách năm 2002, xây dựng dự toán ngân sách năm 2003 và dự toán của các chương trình mục tiêu và chương trình quốc gia.

Thông báo số kiểm tra về dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước năm 2003 cho Sở, Ngành, Đoàn thể, Quận, Huyện.

3. Các Sở, Ngành, Quận, Huyện phối hợp với Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài chính vật giá xây dựng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách. Các Sở, Ngành quản lý các Chương trình mục tiêu phối hợp với Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài chính vật giá làm việc với các đơn vị liên quan về nhiệm vụ và dự toán kinh phí năm 2003 để thực hiện tốt các chương trình mục tiêu.

Uỷ ban nhân dân Thành phố yêu cầu Giám đốc các Sở, Ban, Ngành, Đoàn thể, Chủ tịch UBND các Quận, Huyện tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu26/2002/CT-UB
Ngày ban hành17/07/2002
Loại văn bảnChỉ thị
Ngày có hiệu lực17/07/2002
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND thành phố Hà Nội / Hoàng Văn Nghiên
Phạm viHà Nội
Trích yếuVề việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2003
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.