|
UBND TỈNH BẾN TRE Số: 29/UB-CT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bến Tre, ngày 19 tháng 06 năm 1979 |
Năm 1980 là năm kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ II (1976 – 1980) mở đầu kế hoạch 5 năm lần thứ III (1981 – 1985), có vị trí quan trọng và đổi mới về cách làm kế hoạch.
Ban Bí thư Trung ương Đảng, Thường vụ Hội đồng Chánh phủ đã có chị đạo chung về việc tiến hành xây dựng kế hoạch năm 1980, đổi mới công tác kế hoạch hoá là phải xây dựng kế hoạch Nhà nước từ cơ sở trở lên. Đây là sự đổi mới toàn diện cả về nội dung và phương pháp kế hoạch hoá. Công tác kế hoạch ở Tỉnh ta vừa qua tuy có cố gắng nhưng chưa thật sự xây dựng từ cơ sở lên, nên còn nhiều thiếu sót. Căn cứ vào chỉ đạo của Thường vụ Hội đồng Chánh phủ, Thường vụ Tỉnh uỷ, Uỷ Ban Nhân dân Tỉnh chỉ thị những việc làm cụ thể về tiến hành xây dựng kế hoạch Nhà nước năm 1980 của Tỉnh ta như sau:
1. Mục đích, yêu cầu việc xây dựng kế hoạch ở cơ sở
Trong quá trình xây dựng và tổng hợp năm 1980, phải quán triệt sâu sắc tình hình và nhiệm vụ chánh trị chung cả nước như Nghị quyết 10 Bộ Chính trị, Nghị quyết lần thứ 7 của Tỉnh uỷ, Nghị quyết Đại hội Đảng 3 cấp của Tỉnh, phương hướng nhiệm vụ chỉ tiêu gợi ý của Uỷ ban nhân dân Tỉnh với tình hình điều tra cơ bản, tư liệu thực hiện kế hoạch trong 4 năm qua với tiềm năng của nền kinh tế như đất đai, lao động, sông biển ở địa phương, sự tiến bộ của tổ chức cải tạo xã hội chủ nghĩa xây dựng chủ nghĩa xã hội để làm căn cứ nghiên cứu vận dụng về khoa học kỹ thuật v.v… trong quá trình xây dựng kế hoạch.
Trước mắt cần tập trung cao độ giải quyết các mục tiêu cấp bách nhất là: sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, hàng xuất khẩu.
Nghị quyết 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu 3 nhiệm vụ chung:
- Đẩy mạnh sản xuất và cải tạo xã hội chủ nghĩa, ổn định và bảo đảm đời sống nhân dân.
- Tăng cường quốc phòng và an ninh bảo vệ Tổ quốc.
- Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật CNXH.
- Đồng thời với 3 nhiệm vụ chung đó, chúng ta phải làm tốt nghĩa vụ quốc tế, nghĩa vụ đối với tỉnh bạn Campuchia và những việc Trung ương, Hội đồng Chính phủ phân công.
Để kế hoạch thể hiện đầy đủ những yêu cầu của Trung ương, chủ trương Tỉnh uỷ, Đại hội Đảng đề ra mà xây dựng và tổng hợp kế hoạch năm 1980 phải được tiến hành xây dựng từ cơ sở như: tập đoàn sản xuất, hợp tác xã nông nghiệp, nơi nào chưa có tập đoàn và hợp tác xã thì lấy ấp làm đơn vị cơ sở và các xí nghiệp quốc doanh do Nhà nước quản lý.
Các đơn vị cơ sở có trách nhiệm xây dựng kế hoạch một cách toàn diện từ sản xuất đến lưu thông theo đúng các chế độ chỉ tiêu, biểu mẫu và các nội dung khác mà Nhà nước đã quy định thống nhất.
Các chỉ tiêu, kế hoạch phải thể hiện cho được tính vững chắc, tự lực phấn đấu cao nhất trên cơ sở khai thác tận dụng khả năng, tài nguyên hiện có như: sức lao động, đất đai, rừng, biển … và các dụng cụ, tư liệu sản xuất đã có để đẩy mạnh sản xuất bằng cách tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều của cải, sản phảm nhằm giải quyết đời sống nhân dân, tạo nhiều nguồn hàng xuất khẩu và làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Trong xây dựng kế hoạch năm 1980 cần kết hợp chặt chẽ việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm 1979 ở cơ sở và huyện nhằm tập trung giải quyết các mục tiêu quan trọng và cấp bách nhất là: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, nguyên liệu cho sản xuấtv.v… kết hợp kinh tế với an ninh quốc phòng.
2. Nội dung và phương pháp xây dựng kế hoạch ở cơ sở:
Kế hoạch của các đơn vị cơ sở, trong từng ngành từng cấp huyện, xã, xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, xí nghiệp xây lắp - quốc doanh, xí nghiệp vận tải quốc doanh, nông trường quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã diêm – ngư cũng như của cơ sở của ngành văn hoá, giáo dục, y tế, bảo vệ bà mẹ trẻ em… tuy chức năng và nhiệm vụ có khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất cơ cấu trong nền kinh tế của tỉnh. Do đó trong việc xây dựng kế hoạch phải bao gồm nội dung toàn diện, được quy định cụ thể trong chế độ báo cáo, biểu mẫu do Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước đã ban hành cho từng loại đơn vị cơ sở. Vì vậy trong quá trình triển khai, xây dựng và tổng hợp bảo vệ kế hoạch các Ty, ban ngành, cũng như huyện, thị cần làm những việc cụ thể như sau:
a) Uỷ ban Kế hoạch tỉnh chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân tỉnh về chỉ tiêu, kế hoạch, biểu mẫu cho từng cấp kế hoạch trong tỉnh. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, phương pháp xây dựng kế hoạch và các biện pháp triển khai thực hiện. Trong quá trình triển khai, xây dựng và tổng hợp kế hoạch, Uỷ ban Kế hoạch phải thường xuyên theo dõi, uốn nắn, giúp đỡ cho các đơn vị cơ sở kịp thời đề xuất, giải quyết tạo mọi điều kiện thuận lợi về nghiệp vụ cho các đơn vị cơ sở xây dựng kế hoạch có chất lượng và đảm bảo đúng thời gian quy định.
b) Các Ty, ban ngành chung quanh tỉnh căn cứ vào chức năng hoạt động của Ty, ngành và số kiểm tra của Uỷ ban nhân dân tỉnh giao mà tiến hành xây dựng, tổng hợp kế hoạch. Đồng thời giao số kiểm tra và hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc Ty, ngành xây dựng kế hoạch.
- Đối với các Ban, ngành ở huyện, thị các Ty, ban ngành không được giao số kiểm tra mà có tính cách gợi ý kết hợp chặt chẽ giữa ngành và huyện giúp đỡ, hỗ trợ cho các ban, ngành ở huyện xây dựng kế hoạch.
- Trong khi gợi ý số kiểm tra các đơn vị cơ sở chung quanh Ty, ngành cũng như các ban ở huyện nhất thiết không được tự giảm những chỉ tiêu của Uỷ ban nhân dân tỉnh đã giao. Trên tinh thần tự lực, tự cường dựa vào sức mình là chính phấn đấu vượt chỉ tiêu của tỉnh giao càng nhiều càng tốt.
- Các ban ngành ở huyện, trước khi tổng hợp ở huyện cần trực tiếp bảo vệ trước với Ty, ngành chủ quản ở tỉnh để các Ty, ngành xem xét, tổng hợp, cân đối trước khi các Ty, ban ngành bảo vệ kế hoạch với Uỷ ban nhân dân tỉnh.
- Trong xây dựng kế hoạch cần nêu rõ chủ trương, biện pháp; tài nguyên, vật liệu, lao động cần cân đối tính toán cụ thể. Các chỉ tiêu chủ yếu cần nêu rõ kết quả thực hiện kế hoạch như: sản phẩm, lao động, nguyên vật liệu v.v…Cần nói rõ nguyên vật liệu trong nước thay thế hàng nhập khẩu, tận dụng phế liệu, phế phẩm phân tích cụ thể phần tự lực và yêu cầu trên chi viện một cách có tính toán, cân nhắc, hợp lý.
- Đối với các cơ sở quốc doanh, công ty hợp doanh chủ yếu chỉ tiêu giao nộp sản phẩm, giao hàng xuất khẩu, tuyển quân, điều lao động khi cần và đóng góp tích luỹ cho Nhà nước.
- Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định lấy 2 Ty: Ty Nông nghiệp và Ty Thương nghiệp làm 2 điểm xây dựng kế hoạch để rút kinh nghiệm chỉ đạo chung. Mỗi Ty, ngành cần chọn một hoặc hai điểm trong Ty làm điểm để rút kinh nghiệm chỉ đạo cho toàn Ty, ngành.
c) Các huyện, thị trong việc xây dựng kế hoạch năm 1980 thời gian rất hạn chế. Vì vậy việc xây dựng kế hoạch hết sức khẩn trương, phải tiến hành đồng thời và xen kẻ việc xây dựng kế hoạch của các xã và các đơn vị cơ sở quốc doanh trực thuộc huyện quản lý. Các đơn vị cơ sở ban ngành xây dựng kế hoạch song song với các xã, không nên chờ đợi các xã xây dựng tổng hợp xong rồi các ban ngành ở huyện xây dựng vì làm như thế không đảm bảo được thời gian tổng hợp chung toàn tỉnh cụ thể:
- Sau khi nhận số kiểm tra của tỉnh giao tập thể Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện thảo luận, đề ra phương pháp, mục tiêu chủ yếu cho dự án tổng hợp kế hoạch của huyện.
- Sau đó Uỷ ban nhân dân huyện triệu tập các Chủ tịch xã, Chủ tịch các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, Thủ trưởng các đơn vị kinh tế quốc doanh trực thuộc huyện quản lý để phổ biến mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu, nghĩa vụ mà các cơ sở cần thực hiện đối với Nhà nước, hướng dẫn các biểu mẫu lập kế hoạch và thống nhất thời gian hoàn thành.
- Ban Kế hoạch huyện chủ trì phối hợp với các ban ngành khác ở huyện nghiên cứu, cụ thể hoá có dự kiến gợi ý nhiệm vụ cụ thể cho từng xã và đơn vị cơ sở trực thuộc huyện. Không phải phân bổ và giao số kiểm tra như các năm trước đây.
- Trong quá trình xây dựng và tổng hợp kế hoạch ở huyện, Ban Kế hoạch huyện có trách nhiệm theo dõi, giúp đỡ các xã, ấp, đơn vị cơ sở xây dựng và tổng hợp kế hoạch, kịp thời đề xuất Uỷ ban nhân dân huyện điều động những cán bộ có nghiệp vụ xuống xã, ấp, hợp tác xã… giúp đỡ giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc để tiến hành được thuận lợi.
- Những xã, ấp chưa có hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, nên lấy ấp làm đơn vị cơ sở để xây dựng kế hoạch.
- Các ban, phòng ở huyện trước khi bảo vệ, tổng hợp ở Uỷ ban nhân dân huyện cần tranh thủ trình với ngành chủ quản ở tỉnh xem xét và cho ý kiến về các biện pháp, chỉ tiêu chủ yếu.
- Trong việc xây dựng kế hoạch ở cơ sở và huyện năm nay, chúng ta không quá nặng nề về các chỉ tiêu cao, thấp mà điều chủ yếu là cần bàn thật kỹ, cụ thể về biện pháp xây dựng kế hoạch từ cơ sở như thế nào. Xây dựng chỉ tiêu thế nào vừa phải, vững chắc trên cơ sở tận dụng tài nguyên, lao động, đất đai, rừng, biển với dụng cụ, máy móc, phương tiện hiện có với tinh thần tự lực, tự cường không chờ đợi, ỷ lại trên. Mạnh dạn suy nghĩ đầu tư khoa học kỹ thật, tăng năng suất lao động, không ngừng cải tiến công tác quản lý kinh tế để tạo nhiều sản phẩm nhằm ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn huyện, làm tròn nghĩa vụ với tỉnh, Trung ương và đóng góp nhiều hàng xuất khẩu.
Để giúp các huyện và các đơn vị ở cơ sở xây dựng tổng hợp được kế hoạch, bảo đảm có chất lượng và đúng thời gian. Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định lấy 2 huyện Giồng Trôm – Ba Tri làm 2 điểm xây dựng và tổng hợp kế hoạch huyện để rút kinh nghiệm chỉ đạo chung. Mỗi huyện nên chọn 2 xã làm điểm, rút kinh nghiệm chỉ đạo trong toàn huyện.
Trong quá trình xây dựng kế hoạch ở huyện, Uỷ ban Kế hoạch và các Ty, ban ngành như: Ty Nông nghiệp, Thuỷ sản, Công nghiệp, Giao thông Vận tải, Tài chánh, Ngân hàng, Lao động, Thống kê, phân vùng kinh tế, mỗi Ty ban ngành cần cử một cán bộ có năng lục do Uỷ ban Kế hoạch tỉnh chủ trì dưới sự chỉ đạo trực tiếp của thường trực Uỷ ban tỉnh để theo dõi giúp đỡ các ngành và huyện, thị trong tỉnh triển khai xây dựng và tổng hợp kế hoạch. Việc này cần được tổ chức thành đoàn do Uỷ Ban Kế hoạch chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân tỉnh.
3. Trình tự, tiến độ lập và giao kế hoạch:
Sau khi Uỷ ban nhân dân tỉnh giao số kiểm tra kế hoạch năm 1980 cho các ngành và huyện, thị trước ngày 20/6/1979. Các Ty, ban ngành và các huyện, thị giao số kiểm tra và gợi ý cho các đơn vị cơ sở trước ngày 10/7/1979.
- Từ ngày 10/7/1979 đến ngày 10/8/1979 các ban ngành ở tỉnh và cơ sở huyện, thị xây dựng và tổng hợp kế hoạch.
- Từ ngày 10 đến 15/8/1979 các ban ngành ở huyện, thị bảo vệ kế hoạch với Ty, ngành chủ quản.
- Từ ngày 15 đến ngày 23/8/1979 các huyện, thị bảo vệ kế hoạch với Uỷ ban nhân dân tỉnh.
- Từ ngày 23 đến 30/8/1979 các Ty, ban ngành ở tỉnh bảo vệ kế hoạch với Uỷ ban nhân dân tỉnh.
- Từ 30/8/1979 đến 10/9/1979 tỉnh tổng hợp cân đối toàn tỉnh.
- Từ ngày 10 đến ngày 15/9/1979 Uỷ ban Kế hoạch thông qua Thường trực Uỷ ban và Thường trực Tỉnh uỷ.
- Từ ngày 15 đến ngày 20/9/1979 Uỷ ban Kế hoạch hoàn thành văn bản chính thức, xem xét, cân đối lại lần cuối cùng và chuẩn bị bảo vệ kế hoạch với Trung ương.
- Từ ngày 20 đến ngày 30/9/1979 bảo vệ kế hoạch với Trung ương.
Kế hoạch năm 1980 có vị trí quan trọng làm năm bản lề cho kế hoạch 5 năm lần thứ III (1981 – 1985).
Uỷ ban nhân dân tỉnh mong các Ty, ngành và huyện, thị cần quán triệt hơn nữa tính chất và tác dụng của kế hoạch Nhà nước năm 1980, ra sức khắc phục mọi khó khăn, chỉ đạo tập trung xây dựng kế hoạch năm 1980 tiến bộ, vững chắc, có chất lượng cao và bảo đảm đúng thời gian giao nộp kế hoạch theo lịch trình của Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định./.