|
UBND TỈNH BẾN TRE Số: 46/UB-CT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bến Tre, ngày 27 tháng 08 năm 1987 |
CHỈ THỊ
Về việc tồ chức xây dựng, tổng hợp kế hoạch năm 1988
Năm 1988 là năm thứ II tỉnh ta tiếp tục triển khai NQ Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ IV. Yêu cầu chung của kế hoạch năm 1988 là tạo ra một bước chuyển biến để ổn định tình hình kinh tế - xã hội, trước hết và quan trọng nhất là tình hình sản xuất, phân phối lưu thông, đời sống trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư.
Để đảm bảo việc xây dựng, tổng hợp kế hoạch năm 1988 có chất lượng, theo đúng tiến độ quy định, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở ban ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và các đơn vị sản xuất kinh doanh trong quá trình xây dựng tổng hợp và triển khai thực hiện kế hoạch phải quán triệu những vấn đề chủ yếu sau đây:
I. NẮM VỮNG TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CỦA KẾ HOẠCH 1988 LÀ:triệt để khai thác mọi năng lực sản xuất hiện có, sử dụng có hiệu quả lao động, đất đai nguồn vốn, vật tư tại chỗ của liên kết liên doanh, của TW và nước ngoài hỗ trợ để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với củng cố quan hệ sản xuất XHCN.
Xây dựng và triển khai thực hiện tốt 3 chương trình kinh tế lớn là trọng tâm của kế hoạch không những riêng trong năm 1988 mà là xuyên suốt trong thời gian dài thông qua nhiều kế hoạch dài hạn. Song vì trước nay chưa có kế hoạch đồng bộ về 3 chương trình nầy cho nên trong năm 1988 phải xây dựng tương đối hoàn chỉnh nội dung 3 chương trình để làm cơ sở thực hiện từ nay về sau. Phải có sự chuyển biến thật sự trong việc coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu LTTP quan trọng nhất. Trong bố trí kế hoạch phải ưu tiên đáp ứng yêu cầu về đầu tư và vật tư cho nông nghiệp và lương thực. Ngay từ các tháng còn lại của năm 1987 cần tập trung sức chuẩn bị các điều kiện để làm tốt vụ lúa Đông xuân 1987-1988, đồng thời chú trọng phát triển mạnh các cây màu lương thực, các cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao của tỉnh đặc biệt là thế mạnh thuỷ hải sản, dừa, mía đường.
Năm 1988 điều kiện cân đối kế hoạch sẽ còn nhiều khó khăn vì vậy các chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch phải thể hiện tính tích cực với tinh thần phấn đấu cao. Song mặt khác cũng phải được tính toán chặt chẽ, sát thực tế, bảo đảm các hoạt động nêu ra trong kỳ kế hoạch đem lại được hiệu quả thiết thực đáng tin cậy. Không ghi vào kế hoạch những việc làm, những chỉ tiêu nhiệm vụ xét thấy không đủ điều kiện triển khai thực hiện. Còn những chỉ tiêu nhiệm vụ những công trình xây dựng nào đã được ghi vào kế hoạch thì phải tạo mọi điều kiện để hoàn thành dứt điểm theo hạn định.
Theo thông báo của TW khả năng vật tư năm 1988 cũng chỉ bằng năm 1987. Còn trong phạm vi tỉnh ta do mất cân đối về ngoại tệ cho nên có khó khăn trong việc nhập vật tư đáp ứng cho các nhu cầu nhất là sắt thép, ximăng, phân đạm, thuốc trừ sâu…. Vì vậy yêu cầu đặt ra cho kế hoạch 1988 là các ngành, huyện, thị và cơ sở phải huy động nắm hầu hết các nông sản phẩm hàng hóa để tạo điều kiện có những cân đối cần thiết cho nhu cầu chung của tỉnh, đồng thời phải biết khai thác tận dụng những điều kiện sẵn có, phát huy tính năng động sáng tạo trong điều hành kế hoạch để đảm bảo cân đối phù hợp cho các nhu cầu tại chỗ, không trông chờ ỷ lại vào bên trên. Phải khắc phục cơ chế quản lý hành chánh, bao cấp chuyển sang cơ chế quản lý sản xuất kinh doanh XHCN, tăng cường chế độ trách nhiệm pháp luật và kỷ luật trong quản lý kinh tế, quản lý sản xuất kinh doanh. Hợp đồng kinh tế phải được coi là một trong những công cụ chủ yếu để xây dựng và thực hiện kế hoạch. Phải khắc phục khuynh hướng cục bộ, bản vị địa phương chủ nghĩa tự do tuỳ tiện, tăng tích lũy từ chênh lệch giá, vi phạm chế độ chính sách của nhà nước.
II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH TA NĂM 1988:là bám sát nội dung NQ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, NQ Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ IV, các NQ II, II của BCH/TW Đảng (khóa VI) đã đề ra và triển khai thực hiện những nhiệm vụ, những mục tiêu cụ thể nhằm từng bước ổn định và đẩy mạnh sản xuất phát triển, nắm và sử dụng có hiệu quả sản phẩm xã hội qua đó tạo điều kiện cải thiện đời sống nhân dân, tích luỹ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật CNXH.
Những nhiệm vụ trọng tâm trong các ngành, các lĩnh vực năm 1988 là:
1. Tập trung đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp toàn diện đảm bảo cân đối được nhu cầu lương thực, thực phẩm ở địa phương. Đẩy mạnh các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, trồng dừa, mía đường, trồng rừng, trồng cây nhân dân và khai thác sử dụng có hiệu quả vốn rừng đất hoang hóa.
2. Nâng cao năng lực và hiệu quả của hoạt động của ngành công nghiệp – TTCN, nhất là công nghiệp chế biến sản xuất hàng tiêu dùng, cơ khí và sản xuất vật liệu xây dựng.
3. Huy động và bố trí sử dụng có hiệu quả tất cả các nguồn vốn do ngân sách TW, địa phương cấp vốn tự có của tỉnh, ngành, huyện, thị và vốn nhà nước nhân dân cùng làm để đầu tư xây dựng các công trình phục vụ cho 3 chương trình mục tiêu kinh tế lớn, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng như đường điện hạ thế, kho tàng, bến bãi, trạm trại, giao thông nhất là giao thông vận tải thuỷ, công trình phục vụ văn hóa giáo dục và phúc lợi của nhân dân.
4. Tiếp tục củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới XHCN, trong tất cả các ngành các lĩnh vực, đặc biệt là trong nông nghiệp, TTCN, thương nghiệp, đồng thời mạnh dạn sử dụng tốt các thành phần kinh tế khác.
5. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong khâu phân phối lưu thông bao gồm nắm hàng, nắm và sử dụng hợp lý tiền mặt, ngân sách, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu.
6. Đẩy mạnh các cuộc vận động và các hoạt động nhằm thực hiện kế hoạch hóa dân số cùng với việc bố trí sử dụng hợp lý, sử dụng hết số lao động trong toàn tỉnh.
7. Đề cao việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các ngành sản xuất, các hoạt động kinh tế nhằm sử dụng tốt và phát huy năng lực sản xuất để tăng thêm sản phẩm mới cho xã hội và nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, khoa học kỹ thuật, trước hết phải tập trung vào các mục tiêu chương trình kinh tế lớn của tỉnh là sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, khai thác và sử dụng có hiệu quả đất ven biển, đất cồn.
8. Quan tâm phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục đào tạo, phúc lợi xã hội.
9. Tổ chức tốt việc phục vụ đời sống nhân dân, CB – CNVC và các lực lượng vũ trang, các đối tượng chính sách.
10. Thực hiện có hiệu quả phong trào quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, nhất là khu vực nông thôn và đông dân cư. Các hoạt động của an ninh phải dựa vào các đoàn thể quần chúng để động viên, giáo dục vận động quần chúng tham gia bảo vệ trật tự trị an, an toàn xã hội, ngăn chặn kịp thời các tệ nạn xã hội đang còn tồn tại.
Trong công tác quốc phòng, BCH quân sự tỉnh phải kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể quần chúng, các địa phương chuẩn bị tốt tư tưởng và sức khỏe cho lực lượng thanh niên sắp tham gia quân đội và có biện pháp đấu tranh có hiệu quả với mọi hành động nhằm chống đối lệnh thi hành NVQS.
Kết hợp chặt chẽ và có hiệu quả giữa kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế.
Củng cố và tăng cường mối quan hệ bền chặt về mọi mặt với Kandal.
III. VỀ TỔ CHỨC XÂY DỰNG, TỔNG HỢP KẾ HOẠCH
1. Biện pháp.
Trong năm 1988 hoàn cảnh kinh tế của cả nước vẫn còn nhiều khó khăn, tiền vốn, vật tư hàng hóa… chưa đáp ứng yêu cầu các mặt cân đối. Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho toàn bộ nội dung kế hoạch là phải phấn đấu đạt hiệu quả cao nhầt trong sản xuất xây dựng, trong phân phối lưu thông với điều kiện vật tư tiền vốn có bị hạn chế. Các ngành, các địa phương, các đơn vị cơ sở phải phát huy tính tích cực chủ động khai thác các tiềm năng sẵn có hợp tác chặt chẽ với các ngành các địa phương khác, đẩy mạnh xuất khẩu và nhập khẩu nâng cao khả năng tự cân đối về các mặt để phát triển sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao nhất mà không đòi hỏi thêm vật tư tiền vốn.
Trong quá trình triển khai xây dựng, tổng hợp kế hoạch, Uỷ ban kế hoạch tỉnh phải từng bước đổi mới phương thức giao, điều hành thực hiện kế hoạch. Trong khi chờ có sự đổi mới toàn diện trong lĩnh vực kế hoạch hóa, tỉnh sẽ giao cho các cơ sở ngành huyện thị các chỉ tiêu nhiệm vụ chủ yếu. Các chỉ tiêu nghĩa vụ sẽ được cân đối với vật tư tiền vốn và những loại vật tư tiền vốn ghi trong chỉ tiêu kế hoạch cũng chỉ được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ được giao. Những việc làm ngoài chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh. Những chỉ tiêu khác của các sở ngành, huyện, thị, các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ nêu trong chỉ thị nầy mà đề ra kế hoạch phấn đấu cụ thể. Mặc dù vậy khi tổng hợp và bảo vệ kế hoạch với tỉnh, các sở, ngành, huyện, thị vẫn phải trình bày đầy đủ những chỉ tiêu hoạt động thuộc chức năng quản lý, thực hiện.
- Các chỉ tiêu kế hoạch phải được tính toán vững chắc, phải căn cứ vào số liệu điều tra, số liệu thống kê, tiềm năng đất đai và khả năng vật tư tiền vốn (kể cả khả năng xuất nhập và liên doanh liên kết kinh tế), để thực hiện cân đối đồng bộ giữa các chỉ tiêu với nhau. Đặc biệt phải coi trọng việc áp dụng những thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, gắn kế hoạch phát triển sản xuất, kế hoạch phát triển KHXH với kế hoạch KHKT nhằm sử dụng tiết kiệm năng lượng, vật tư, nguyên liệu, tiền vốn…. Cùng với việc tính toán các chỉ tiêu kế hoạch, phải đề ra các biện pháp thực hiện. Các vấn đề nầy phải được trình bày rõ khi thuyết minh nhiệm vụ kế hoạch cũng như lúc bảo vệ kế hoạch.
- Trong khi sản xuất có khó khăn, cung cầu mất cân đối phải đặc biệt quan tâm đến công tác phân phối lưu thông. Kế hoạch phải được làm rõ, cụ thể vấn đề nầy phải bám sát vào sự chỉ đạo của UBND tỉnh để thực hiện. Đặc biệt cần kết hợp tốt kế hoạch hóa với thị trường, phải làm tốt kế hoạch hóa tài chánh, lưu thông tiền tệ. Các sở ngành chức năng, ngành tài chánh, ngân hàng phải có biện pháp hướng dẫn, giám sát, kiểm tra các đơn vị cơ sở thực hiện đúng các chế độ hạch toán kinh tế phấn đấu hạ giá thành sản phẩm, ngăn chặn các hiện tượng vi phạm kỷ luật về giao nộp sản phẩm, giao nộp tiền mặt, tuỳ tiện trao đổi vật tư, sản phẩm cho nhau và chiến dụng vốn của nhau.
- Thực tế điều hành kế hoạch trong thời gian qua cho thấy rằng trong quá trình thực hiện kế hoạch có rất nhiều việc đòi hỏi phải giải quyết mà không có trong kế hoạch. Nguyên nhân là một số ngành đơn vị không xây dựng kế hoạch, một số khác không tính toán đầy đủ và do đó không đưa hết những việc cần phải làm trong kỳ kế hoạch vào kế hoạch. Việc làm này có ảnh hưởng đến tính cân đối điều hành kế hoạch, chưa làm kế hoạch trở thành đòn bẩy trong thúc đẩy sản xuất và là công cụ để quản lý kinh tế. Từ nay về sau Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở ngành tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện thị xã khi xây dựng kế hoạch phải xem xét cân nhắc toàn bộ những công việc có liên quan đến hoạt động của ngành, đơn vị trong kỳ kế hoạch nầy.
- Tất cả các chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch quan trọng của nền kinh tế cần phải được thể hiện bằng các bảng cân đối, Uỷ ban kế hoạch tỉnh phải trình với Uỷ ban nhân dân tỉnh các bảng cân đối khi tổng hợp và thông qua kế hoạch và Uỷ ban kế hoạch cũng có quyền yêu cầu các ngành, huyện, thị xã trình bày các bảng cân đối trên phạm vi ngành, địa phương.
- Uỷ ban kế hoạch tỉnh, các sở, ngành chức năng có trách nhiệm chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng, tổng hợp kế hoạch từ cơ sở và huyện nhất là những cơ sở, những huyện đang khai thác phát huy các thế mạnh của tỉnh như lúa, dừa, mía, cá tôm, những đơn vị cơ sở có trọng trách trong công tác xuất nhập khẩu, phân phối lưu thông. Phải có biện pháp giúp các đơn vị cơ sở chấn chỉnh và cải tiến công tác tổ chức quản lý, tổ chức lại sản xuất để khai thác tốt mọi tiềm năng hiện có. Phải thông qua việc chỉ đạo, việc xây dựng và tổng hợp kế hoạch mà hướng dẫn huyện tổ chức lại sản xuất trên địa bàn huyện sao cho phù hợp với những điều kiện tự nhiên – kinh tế của mỗi huyện. Trong chỉ đạo cần kết hợp chỉ đạo toàn diện với chỉ đạo điểm. Ngay trong chỉ đạo toàn diện cũng phải biết tập trung vào những vấn đề có then chốt những đặc trưng kinh tế của mỗi ngành, mỗi địa phương nhằm khai thác tốt nhất, phát huy cao nhất hiệu quả kinh tế hiệu suất lao động.
2. Về tiến độ xây dựng tổng hợp và triển khai thực hiện kế hoạch 1988.
Để có điều kiện thuận lợi cho các ngành, huyện, thị xã và cơ sở chủ động trong xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch Uỷ ban nhân dân tỉnh nêu dưới đây lịch xây dựng, tổng hợp như sau:
- Tháng 8 Uỷ ban kế hoạch tỉnh trình dự án kế hoạch với TT. Uỷ ban và chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc thông báo chỉ tiêu hướng dẫn kế hoạch.
- Tháng 9 các ngành, huyện, thị xã và cơ sở xây dựng và tổng hợp kế hoạch trong phạm vi ngành, huyện, thị đảm nhiệm đồng thời báo cáo Uỷ ban kế hoạch tỉnh những chỉ tiêu nhiệm vụ chủ yếu của ngành, đơn vị trong 1988 để Uỷ ban kế hoạch có cơ sở tổng hợp trình thông qua TT. Uỷ ban trước khi đi bảo vệ với TW.
- Tháng 10 các sở ngành tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã bảo vệ kế hoạch với TT. Uỷ ban nhân dân tỉnh.
- Tháng 11 Uỷ ban nhân dân tỉnh chính thức gaio kế hoạch 1988.
Giao cho Uỷ ban kế hoạch tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn các sở ban ngành tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã xây dựng và tổng hợp có chất lượng kế hoạch 1988.
Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở ban ngành tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã khắc phục khó khăn bố trí xắp xếp thời gian hợp lý xây dựng có chất lượng và triển khai thực hiện kế hoạch năm 1988./.