Quay lại

Chỉ thị 59/UB-CT về việc tổ chức lực lượng thanh niên xung phong xây dựng kinh tế và bảo vệ Tổ quốc

UBND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 59/UB-CT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 28 tháng 11 năm 1978

CHỈ THỊ

Về việc tổ chức lực lượng thanh niên xung phong

xây dựng kinh tế và bảo vệ Tổ quốc

Ba năm qua, các tầng lớp thanh niên trong tỉnh ta cùng đồng bào trong tỉnh phát huy truyền thống “anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt nguỵ” đã hăng hái đi đầu các phong trào cách mạng sản xuất - xây dựng và sẵn sàng chiến đấu.

Đại bộ phận thanh niên trong tuổi hoặc ngoài tuổi nghĩa vụ quân sự cũng tỏ ý chí cao đẹp và đã có vinh dự lớn được Đảng giao cho nhiệm vụ hết sức quang vinh và trọng đại là “thế hệ thứ tư có nhiệm vụ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”.

Tuy nhiên cũng có một số thanh niên chưa tự giác làm nghĩa vụ của mình, còn tránh né, thoái thoát, làm ảnh hưởng không tốt đến vinh dự của tuổi trẻ, của gia đình trên quê hương Đồng Khởi hoặc còn một số thanh niên vì nhiều lý do khác nhau nên chưa được vào quân đội chiến đấu.

Để phát huy vai trò xung kích của giới thanh niên trên mặt trận sản xuất - xây dựng và chiến đấu, đồng thời để đáp ứng ngày càng cao các yêu cầu cách mạng mới hiện nay và tạo điều kiện cho các tầng lớp thanh niên lập công với Tổ quốc xây dựng cho mình thành con người mới, thành người tương lai của xã hội.

Thi hành Chỉ thị số 460/TTg ngày 23 tháng 9 năm 1978 của Thủ tướng Chính phủ và các Chỉ thị số 38/TW ngày 08 tháng 11 năm 1978 của Ban TV/TW, Chỉ thị số 49/UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh và Quyết nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh kỳ họp lần thứ IV tháng 10 năm 1978 về tổ chức lực lượng thanh niên xung phong làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế và phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Nay Uỷ ban nhân dân tỉnh Chỉ thị cho các cấp chính quyền đoàn thể, quân sự, Công an và các ngành có liên quan trong toàn tỉnh khẩn trương tập hợp thanh niên trong hạn tuổi nghĩa vụ quân sự của năm 1976, 1977 và năm 1978 mà chưa đi làm nghĩa vụ quân sự vào các đội thanh niên xung phong, thực hiện nghĩa vụ lao động phục vụ sản xuất và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc theo các nguyên tắc và chế độ như sau:

I. Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ và biện pháp tổ chức thực hiện:

a) Mục đích:

1. Động viên và tổ chức lực lượng thanh niên trong toàn tỉnh gia nhập vào đội ngũ thanh niên xung phong để làm nồng cốt cho phong trào quần chúng đi khai hoang, mở rộng diện tích xây dựng vùng kinh tế mới phục vụ sản xuất và phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời góp phần thúc đẩy việc tổ chức thực hiện sự phân bố lao động trong xã hội.

2. Thông qua tổ chức và hoạt động của đội ngũ thanh niên xung phong mà đào tạo và bồi dưỡng thanh niên trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa.

3. Tổ chức một đợt vận động tất cả thanh niên hạng tuổi nghĩa vụ quân sự năm 1976, 1977 và 1978 (từ ….tuổi đến ….tuổi) nhưng chưa được tuyển vào quân đội nay được gia nhập vào tổ chức thanh niên xung phong để làm nhiệm vụ sản xuất và phục vụ chiến đấu. Trước mắt vận dộng tổ chức đến ngày 05 tháng 12 năm 1978 cho được một khối lượng thanh niên xung phong gồm 6.760 lực lượng, lực lượng này được bố trí thành những đại đội, liên đội, bắt tay ngay vào nhiệm vụ sản xuất và phục vụ chiến đấu, góp phần mau chóng ổn định từng bước đời sống nhân dân trong tỉnh, giảm bớt khó khăn chung cho cả nước.

II. Công tác tổ chức thực hiện:

1. Tiêu chuẩn tuyển chọn thanh niên xung phong:

Số thanh niên đúng tuổi nghĩa vụ quân sự của các năm 1976, 1977 và 1978 mà chưa đi làm nghĩa vụ quân sự hoặc đã đi làm nghĩa vụ quân sự mà tuỳ tiện bỏ hàng ngũ quân đội trở về địa phương đều được tuyển vào lực lượng thanh niên xung phong.

2. Tổ chức lực lượng:

Hình thức tổ chức lực lượng thanh niên xung phong dựa vào hình thức tổ chức của quân đội để đảm bảo tốt các nhiệm vụ nói trên, cơ cấu tổ chức từ tiểu đội đến đại đội, trên đại đội là liên đội hay tổng đội của một xã hay liên xã.

Số quân cấp tiểu đội từ 10 đến 15 người.

Số quân cấp trung đội từ 40 đến 50 người.

Cấp đại đội từ 100 đến 150 người.

Cấp liên đội hay tổng đội từ 400 đến 1500 người.

Mỗi liên đội hay tổng đội cần tổ chức 1 trung đội vũ trang để làm công tác bảo vệ trị an trong quá trình hoạt động sản xuất và phục vụ chiến đấu. Đơn vị này do BCHQS tỉnh và Ty Công an và Ban Chỉ huy tổng đội nghiên cứu, bố trí người trang bị.

3. Tổ chức bộ máy lãnh đạo và quản lý:

Công tác tổ chức lãnh đạo và bộ máy quản lý cần có:

- Cấp tiểu đội (tiểu đội trưởng, tiểu đội phó) phải là đoàn viên thanh niên cộng sản tích cực.

- Cấp trung đội (Trung đội trưởng, Trung đội phó, CTV, phải là xã Uỷ viên, Công an xã là Đảng viên, cán bộ BCH xã đoàn TNCSHCM).

- Cấp đại đội (đại đội trưởng, đại đội phó, CTV C) phải là 1 TV/HU đoàn, 1 Công an huyện.

- Cấp liên đội hay tổng đội do BCHQS tỉnh, Ty Công an và Tỉnh đoàn TNCSHCM nghiên cứu bố trí.

4. Thành lập BCĐ từ tỉnh đến cơ sở:

Đây là một công tác vừa có tầm vóc lớn về chính trị và kinh tế, vừa có tính chất quân sự đặc biệt sẽ mở đầu và tạo điều kiện cho thanh niên tỉnh nhà có dịp tốt để rèn luyện và cống hiến tài năng sức lực của mình cho lợi ích chung, cho tương lai và vinh dự bản thân và gia đình, do đó chúng ta cần phải có bộ máy tổ chức chỉ đạo chặt chẽ công tác này để đạt được kết quả cao nhất theo yêu cầu hiện nay. Vì vậy, cần thành lập 1 BCĐ trực tiếp, thống nhất điều khiển công tác này từ tỉnh đến huyện, xã phường.

Thành phần bộ máy chỉ đạo gồm:

a) Cấp tỉnh, huyện:

- Một đồng chí Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân làm Trưởng ban.

- Một đồng chí Bộ Chỉ huy quân sự làm Phó ban.

- Một đồng chí Đoàn TNCSHCM làm Phó ban.

- Một đồng chí BLĐ Ty Công an làm Phó ban.

- Một đồng chí BLĐ Ty Lao động (ở cấp tỉnh), Phòng lao động (ở cấp huyện) làm uỷ viên.

- Một đồng chí lãnh đạo Uỷ ban kế hoạch (cấp tỉnh), Uỷ ban kế hoạch huyện làm uỷ viên.

- Một đồng chí lãnh đạo Ty Lương thực (tỉnh), Phòng lương thực (cấp huyện) làm uỷ viên.

- Một đồng chí lãnh đạo Ty Thương nghiệp (cấp tỉnh), Phòng thương nghiệp (cấp huyện) làm uỷ viên.

- Một đồng chí lãnh đạo Ty Nông nghiệp (cấp tỉnh), Phòng nông nghiệp (cấp huyện) làm uỷ viên.

b) Bộ máy lãnh đạo ở cấp xã gồm:

- Đồng chí Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã làm Trưởng ban.

- Đồng chí Trưởng ban quân sự (xã đội trưởng, phó đội trưởng) làm phó ban.

- Đồng chí Trưởng ban Công an (xã, phường) làm phó ban.

- Đồng chí Bí thư (hay Phó Bí thư) Đoàn TNCSHCM xã hay phường làm phó ban.

Ban chỉ đạo các cấp được thành lập sau khi các Uỷ ban nhân dân huyện, thị nhận được Chỉ thị này. Đồng thời, mỗi huyện, thị trực tiếp chỉ đạo các xã, phường trực ngày 30 tháng 11 năm 1978. Đến ngày 01 tháng 12 năm 1978 các huyện, thị báo cáo danh sách Ban Chỉ huy với tỉnh.

Ngoài ra, từng cấp phải bố trí một bộ phận thường trực giúp việc có đủ chức năng để giải quyết kịp thời các yêu cầu trong quá trình thực hiện. Bộ phận này giao cho Tỉnh đội, Ty Công an và Tỉnh đoàn TNCSHCM đảm nhiệm.

III. Chế độ đãi ngộ và chính sách đối với thanh niên xung phong:

Căn cứ vào Chỉ thị số 460/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã quy định thời gian phục vụ, chế độ đãi ngộ và chính sách đối với thanh niên xung phong như sau:

a) Thời gian phục vụ của mỗi thanh niên xung phong là 3 năm.

b) Chế độ đãi ngộ:

- Lương căn bản: mỗi người thanh niên xung phong từ đội viên đến cán bộ chỉ huy tiểu đội, đại đội, liên đội và tổng đội đều hưởng sinh hoạt phí một ngày là 1đ50 (một đồng rưởi) tính một tháng là 30 ngày, mỗi người thu nhập sinh hoạt phí chính thức là 45đ (bốn mươi lăm đồng).

- Tiền trách nhiệm: cán bộ tiểu đội mỗi người 5đ00 (năm đồng) một tháng, cán bộ đại đội mỗi người 8đ00 (tám đồng) một tháng, cán bộ liên đội 12đ00 (mười hai đồng) một tháng, cán bộ phụ trách tổng đội 16đ (mười sáu đống) một tháng.

- Đối với cán bộ công nhân viên Nhà nước được điều động sang làm công tác lãnh đạo, quản lý đơn vị thanh niên xung phong được hưởng nguyên lương cấp chức và mọi chế độ như cán bộ công nhân viên Nhà nước.

- Mỗi thanh niên xung phong được hưởng các khoản như tiền thuốc và tiền bồi dưỡng khi đau ốm, tiền trợ cấp khi tai nạn, bị chết, chi phí về ánh sáng, giường, màn, nước uống, sinh hoạt, nghỉ lễ, nghỉ phép, tiền tàu xe, tiền ăn dọc đường, tiêu chuẩn về lương thực, thực phẩm, công nghệ phẩm, cung cấp bữa ăn sáng, bồi dưỡng bằng hiện vật, bồi dưỡng làm ca đêm, trang bị bảo hộ lao động, quần áo làm việc theo quy định hiện hành như công nhân viên chức Nhà nước.

- Được cấp 1 lần bằng hiện vật mỗi người một bộ quần áo sơ mi, (quần dài bằng loại vải dày thông thường như kaki hoặc xăngai), một đôi dép lốp, một tấm chăn, một chiếu, một mùng cá nhân, một ba lô, một nón, mũ để dùng trong 03 năm, 2m nilon, khoản chi phí này được thanh toán vào khoản chi trợ cấp một lần là 50đ một người.

Được áp dụng các chế độ tiền thưởng theo quy định hiện hành đối với công nhân viên Nhà nước.

Hàng tháng, bình quân 1 người được cấp 2đ để tập thể chi về học tập và sinh hoạt văn hoá.

Ngoài chế độ đãi ngộ trên, Uỷ ban nhân dân tỉnh có thể trích quỹ phúc lợi hoặc ngân sách địa phương để mua sắm trang bị cần thiết cho hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, quỹ lộc cho các ngày lễ, ngày tết,…

c) Chính sách đối với thanh niên xung phong:

Sau khi hết thời hạn 03 năm phục vụ, tuỳ theo yêu cầu khả năng của từng người, đội viên sẽ được xét tuyển vào cơ quan, xí nghiệp Nhà nước hay chọn vào trường đào tạo nghiệp vụ và được tính liên tục thời gian công tác từ ngày tuyển vào thanh niên xung phong – thanh niên xung phong đã hết thời hạn 03 năm hoặc có lý do chính đáng được xuất ngũ về địa phương nên trong quá trình công tác trong thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ được giao thời khi xuất ngũ được cấp mỗi năm bằng 1 tháng lương tại ngũ và tiền tàu xe, phụ cấp đi đường từ đơn vị đến gia đình.

IV. Mức độ chi tiêu cho từng huyện thị:

Đến tháng 12 năm 1978 phải vận động tổ chức, tập hợp hết đối tượng thanh niên trên vào lực lượng thanh niên xung phong.

Châu Thành: 2 đại đội gồm: 300 TNXP

2 đại đội 450 TNXP

Thị xã: 1 đại đội 150 TNXP

1 đại đội 200 TNXP

Giồng Trôm: 2 đại đội 300 TNXP

2 đại đội 400 TNXP

Ba Tri: 1 đại đội 150 TNXP

2 đại đội 450 TNXP

Thạnh Phú: 1 đại đội 150 TNXP

2 đại đội 300 TNXP

Mỏ Cày: 3 đại đội 350 TNXP

4 đại đội 500 TNXP

Chợ Lách: 1 đại đội 150 TNXP

2 đại đội 350 TNXP

Bình Đại: 1 đại đội 150 TNXP

2 đại đội 300 TNXP

Về hình thức cấp liên đội và tổng đội như tập trung sẽ hình thành tổ chức lực lượng và Ban Chỉ huy.

V. Tổ chức thực hiện

- Các Ty, ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh và Uỷ ban nhân dân huyện, thị khẩn trương triển khai tinh thần nội dung Chỉ thị này cho nội bộ thông suốt để chỉ đạo thực hiện ngay, đồng thời căn cứ vào Chỉ thị này mà các Ty liên quan như lao động tiền lương, Ban kinh tế mới, Ty nông nghiệp, Bộ CHQS, Ty Công an thống nhất với Tỉnh đoàn TNCSHCM, Uỷ ban kế hoạch tỉnh,… có phối hợp chặt chẽ trong việc động viên, tuyển lựa, huấn luyện, điều động và sắp xếp cán bộ, tổ chức quản lý và thực hiện các chế độ chính sách, chăm lo đời sống vật chất và văn hoá, nhằm bảo đảm cho thanh niên xung phong hoàn thành tốt nhiệm vụ, đồng thời chăm sóc giúp đỡ gia đình thanh niên xung phong cũng như đối với gia đình công nhân viên chức Nhà nước.

- Ty lao động có trách nhiệm phối hợp với Tỉnh đoàn TNCSHCM, và Ban CHQS, Ty Công an hướng dẫn tiêu chuẩn, cơ cấu tổ chức lao động phù hợp với yêu cầu của vùng sản xuất và phục vụ, tham gia vào việc xác định chỉ tiêu tổ chức lực lượng thnah niên xung phong của các huyện, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các chế độ chính sách đối với thanh niên xung phong.

- Ty Nông nghiệp, thương nghiệp, lương thực, thương binh xã hội, tài chính, Uỷ ban kế hoạch, Ban Kinh tế mới và các ngành có liên quan tuỳ chức năng có trách nhiệm hướng dẫn và thông qua cơ quan quản lý cấp dưới của mình giúp cho Uỷ ban nhân dân huyện, thị và đơn vị quản lý trực tiếp thanh niên xung phong thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức và sử dụng thanh niên xung phong, đồng thời để đảm bảo cho thanh niên xung phong phấn khởi, hăng hái làm tốt nghĩa vụ học tập và rèn luyện.

Trong quá trình thực hiện kết quả từng bước, có gì trở ngại khó khăn, cần báo cáo gấp về tỉnh để Uỷ ban nhân dân tỉnh có chỉ đạo tiếp./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu59/UB-CT
Ngày ban hành28/11/1978
Loại văn bảnChỉ thị
Ngày có hiệu lực28/11/1978
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Vĩnh Long / Lê Minh Đào
Phạm viBến Tre
Trích yếuVề việc tổ chức lực lượng thanh niên xung phong xây dựng kinh tế và bảo vệ Tổ quốc
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.