Quay lại

Chỉ thị 66/UB-CT đề án tổ chức các trạm kiểm soát của tỉnh Bến Tre.

UBND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 66/UB-CT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 16 tháng 12 năm 1978

Đề án tổ chức các trạm kiểm soát của tỉnh Bến Tre.

Căn cứ vào văn bản của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre như Thông báo số 99 ngày 10 tháng 11 năm 1978. Về nghiêm cấm 02 loại tôm xuất ra khỏi tỉnh và Thông báo số 76/UB/TB ngày 20 tháng 9 năm 1978 về quản lý thu mua dừa, cơm dừa. Công văn số 64-UB/TB ngày 25 tháng 7 năm 1977 và thủ tục xuất đường ra khỏi tỉnh. Công văn số 80/UB/TB ngày 11 tháng 10 năm 1978 về cấm không cho lưu hành các loại thịt heo, trâu, bò ra khỏi tỉnh.

Nay Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định cụ thể một số mặt hàng không được xuất ra khỏi tỉnh và một số lượng hàng được xuất ra khỏi tỉnh có tính chất quà biếu. Đồng thời quy định để các trạm kiểm soát trong tỉnh thi hành.

I. Các mặt hàng nghiêm cấm xuất tỉnh:

- Tôm càng, tôm thẻ, tôm bạc kể cả nước mặn và nước ngọt, tươi và khô đều không được xuất tỉnh.

- Dừa trái, cơm dừa, dầu dừa, cám dừa.

- Các loại thịt: thịt heo, mỡ heo, thịt bò, thịt trâu, heo sống, heo con, bò sống, trâu sống kể cả thịt chế biến thành phẩm cũng không được xuất tỉnh.

- Các loại đường: đường thùng, đường tán, đường ly tâm, đường kết tinh, mật đường và cây mía đường.

- Các loại lương thực: lúa gạo, cao lương, bắp khoai kể cả chế biến ra bánh bằng các loại kể trên.

- Cá các loại: cá biển, cua biển, nghêu kể cả tươi và khô.

II. Hàng được xuất ra khỏi tỉnh có tính chất quà biếu:

- Dừa khô không quá 5 trái (năm)

- Dầu dừa không quá 1 lít (một ).

- Các loại thịt không quá 1 kg (một)

- Mỡ nước không quá 0,5kg (nữa kg)

- Các loại đường: đường thùng không quá 2 kg (hai), đường cát không quá 1kg (một).

- Lúa gạo, cao lương, bắp, khoai không quá 3kg (ba) nhưng khi đi phải có giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân xã. Riêng cán bộ công nhân viên được mang theo đúng với thời gian đi công tác và có thủ trưởng cơ quan xác nhận.

- Tôm, tép, cá biển đã chế biến kể cả khô và tươi không quá 0,5kg (nữa kg).

Ngoài các mặt hàng nói trên, muốn xuất tỉnh phải do cơ quan chủ quản của cấp tỉnh mới được quyền chuyên chở. (Nhưng phải có lệnh xuất kho, có bảng ký hợp đồng và có ghi rõ cơ quan nhận hàng).

Trên đây là một số mặt hàng Uỷ ban nhân dân tỉnh cần xuất tỉnh và một số lượng hàng nhất định cho phép xuất tỉnh nhưng có tính chất quà biếu. Đồng thời mỗi người đi chỉ mang được 03 thứ đã quy định trên. Còn ai có tính chất lợi dụng buôn bán thì kiến quyết ngăn chặn.

III Về xử lý:

A- Quyền hạn xử lý:

- Lúa, gạo, cao lương, bắp, khoai cương quyết giáo dục và yêu cầu nhân dân trở về bán lại tại địa phương. Nếu số lương thực và thực phẩm, hàng nông sản quá lớn không có giấy tờ thì có thể thu mua theo giá Nhà nước chỉ đạo thống nhất.


- Các vụ vi phạm phải lập biên bản tạp giữ hàng hoá, nếu vi phạm về thu thuế thì do Phòng Tài chính các huyện và Ty Tài chính xử lý. Nếu vi phạm về mặt hàng quản lý của tỉnh thì các trạm lập biên bản và chuyển cho Uỷ ban nhân dân huyện xử lý. Nếu trạm của tỉnh thì do Ty Tài chính xử lý, có Công an kinh tế và lương thực giám sát.


- Các trạm kiểm soát ở xa cửa hàng thương nghiệp huyện, tỉnh khi xử lý một số hàng tươi sống thì phải giao cho cửa hàng mua bán xã phân phối. Có chính quyền địa phương giám sát và thanh toán tiền lại cho tài chính của Trạm, có biên lai rõ ràng. Ngoài hàng tươi sống không được giải quyết bất kỳ loại hàng gì.

B- Hình thức xử lý cụ thể:


Tất cả các tổ chức không có chức năng kinh doanh, mọi tư nhân đều không được mua bán lưu thông, tàng trữ những mặt hàng thuộc diện Nhà nước quản lý. Mọi hoạt động vi phạm phải tuỳ theo lỗi nặng nhẹ mà vận dụng xử lý theo những hình thức xử phạt đã được quy định trong Chỉ thị 146/TTg ngày 05 tháng 6 năm 1974 của Thủ tướng Chính phủ như sau:


a) Đối với người sản xuất và người tiêu dùng: lần thứ nhất vi phạm thì cảnh cáo, lần thứ hai thì trưng mua hàng hoá theo giá chỉ đạo của Nhà nước và thông báo cho địa phương để giáo dục.


b) Đối với người buôn bán chuyên nghiệp:


- Nếu vi phạm thì tịch thu hàng hoá. Nếu tái phạm thì ngoài việc tịch thu hàng hoá còn phạt tiền từ 1đ – 1.000đ và thu hồi có thời hạn hoặc vĩnh viễn giấy phép kinh doanh hay vận chuyển.


Riêng đối với những trường hợp đầu cơ có tình tiết nghiêm trọng thì cần phối hợp với Sở Ty Công an và Viện kiểm soát lập hồ sơ pháp lý để xét việc truy tố về hình sự (Thông tư số 97/7 ngày 08 thnág 10 năm 1964 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao).


Cơ quan tài chính (thuế vụ) chịu trách nhiệm lập biên bản ở các trạm kiểm soát (biên bản thống nhất theo mẫu của Bộ in sẵn) đồng thời chịu trách nhiệm làm thủ tục để Uỷ ban nhân dân huyện hoặc Ty Tài chính xử lý (trừ những vụ nghi có liên quan đến chính trị, hoặc các cơ quan kinh tế thì do Công an chịu trách nhiệm điều tra xác minh, kết luận và xin ý kiến chỉ đạo xử lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh). Hàng hoá thuộc ngành nào thì giao cho ngành đó quản lý giải quyết.

IV. Đề nghị:

1. Để tránh phiền phức cho nhân dân đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh cho phép các trạm được quyền xử lý các trường hợp có tính chất nhỏ như những điều quy định ở trên nhưng phải được 03 cơ quan công an, tài chính, lương thực nhất trí ghi vào biên bản. Các vi phạm lớn có tính chất nghiêm trọng, phải được Uỷ ban nhân dân huyện, tỉnh phê duyệt và ra Quyết định.

2. Trạm trưởng do Ty Tài chính chịu trách nhiệm, Trạm trưởng chịu trách nhiệm chung và chịu trách nhiệm thanh quyết toán hàng hoá với các cơ quan có liên quan.

3. Ty Công an có một đồng chí Trạm phó chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn trong khi làm nhiệm vụ kiểm soát trên bộ và dưới sông. Đồng thời có trách nhiệm kiểm tra đôn đốc chấp hành và thực hiện đúng chủ trương chính sách của Tỉnh uỷ - Uỷ ban nhân dân tỉnh và Nhà nước đã quy định.

4. Ty Lương thực chịu trách nhiệm giải quyết về lương thực và đảm bảo toàn bộ sinh hoạt của trạm.

V. Bố trí tạm:

Tỉnh: 1 trạm Tân Thạch (do tỉnh chịu trách nhiệm).

Châu Thành: 02 trạm Cồn Lát thuộc xã Phú Đức.

02 trạm Rạch Điều xã Phú Túc.

Bình Đại: 01 trạm Giao Hoà (xã Định Hoà).

02 trạm Vàm Bình Thắng.

Chợ Lách: 01 trạm Phú Phụng (xã Phú Phụng).

02 trạm Vàm Lách (xã Sơn Định).

03 trạm Vàm Lách (xã Hoà Nghĩa, sông Cổ Chiên).

Mỏ Cày: 01 trạm Vàm Thơm (xã An Thạnh).

02 trạm Vàm Đồn (xã Hương Mỹ).

Thạnh Phú: 01 Vàm Khâu Băng.

Tổng cộng là 11 trạm.

Nhận được đề án này, Ty Tài chính, Ty Công an, Ty Lương thực và các cơ quan có liên quan nhanh chóng tổ chức thực hiện. Trong quá trình thực hiện có gì khó khăn, trở ngại, kịp thời báo về Thường trực Uỷ ban nhân dân tỉnh./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu66/UB-CT
Ngày ban hành16/12/1978
Loại văn bảnChỉ thị
Ngày có hiệu lực16/12/1978
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Vĩnh Long / Nguyễn Văn Thành
Phạm viBến Tre
Trích yếuĐề án tổ chức các trạm kiểm soát của tỉnh Bến Tre.
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.