Quay lại

Công văn 1824/TCT/NV7 của Tổng cục Thuế về việc thu tiền sử dụng đất

TỔNG CỤC THUẾ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 1824/TCT/NV7

Hà Nội, ngày 02 tháng 5 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TỔNG CỤC THUẾ - BỘ TÀI CHÍNH SỐ 1824 TCT/NV7 NGÀY 02 THÁNG 5 NĂM 2002 CỦA TỔNG CỤC THUẾ VỀ VIỆC THU TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Ninh Thuận

Trả lời công văn số 133/CT-TBTK ngày 29-3-2002 của cục thuế về chính sách thu tiền sử dụng đất, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:

1- Theo quy định tại điểm 2.1 Mục II phần B Thông tư số 115/2000/TT-BTC ngày 112-2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23-8-2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất thì hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất ao, đất vườn nằm trong khu dân cư mà diện tích đất ao, đất vườn này trước đây nộp thuế nông nghiệp nay chuyển sang nộp thuế nhà đất và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho chuyển mục đích sử dụng sang đất ở thì hộ gia đình, cá nhân này không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích trong hạn mức.

Theo quy định tại khoản 1b Điều 6 Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23-8-2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất thì diện tích đất ao, vườn trong khu dân cư thuộc đất nông nghiệp và nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp nhưng không gắn với diện tích đất ở của hộ đang sử dụng khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển sang làm đất ở thì hộ phải nộp 40% mức thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất này.

2- Trường hợp hộ kinh doanh mua đất sản xuất nông nghiệp và nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp nhưng tự ý chuyển mục đích sử dụng cho sản xuất kinh doanh dịch vụ mà không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép là vi phạm luật đất đai. Cơ quan thuế vẫn thu thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích này; đồng thời kiến nghị với cơ quan Địa chính và chính quyền địa phương để có biện pháp xử lý vi phạm Luật đất đai, làm cơ sở để cơ quan thuế thu các khoản thu về đất theo đúng chế độ.

3- Trường hợp người nhận chuyển nhượng đất ở do thừa kế, cho tặng từ ngày 15-10-1993 trở đi mà người cho thừa kế, cho tặng không có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất; nếu diện tích đất thừa kế cho tặng phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp thì người nhận quyền sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm 1.3 Mục III Phần B Thông tư số 115/2000/TT-BTC trên khi đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

4- Theo quy định tại điểm 1 Mục V Phần A, điểm 2.1 Mục II Phần B Thông tư số 115/2000/TT-BTC nêu trên thì trường hợp hộ gia đình, cá nhân vừa có diện tích đất ở tại một xã nông thôn vừa có diện tích đất nông nghiệp nằm trong khu dân cư thuộc phường, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển diện tích đất nông nghiệp sang đất ở thì hạn mức diện tích đất ở để tính thu tiền sử dụng đất đối với trường hợp này là diện tích đất ở do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định gắn với nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của hộ đó.

Tổng cục thuế thông báo để cục thuế biết, kiểm tra thực hiện.


Phạm Văn Huyến

(Đã ký)

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu1824/TCT/NV7
Ngày ban hành02/05/2002
Loại văn bảnCông văn
Ngày có hiệu lực02/05/2002
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýTổng cục Thuế / Phạm Văn Huyến
Phạm viTrung ương, Tổng cục Thuế
Trích yếuCủa Tổng cục Thuế về việc thu tiền sử dụng đất
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.