Quay lại

Công văn 3392TCT/NV6 số 3392 TCT/NV6 ngày 19/09/2003 của Tổng cục thuế về việc thuế giá trị gia tăng

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 3392 TCT/NV6
V/v Thuế giá trị gia tăng

Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2003

Kính gửi:

Doanh nghiệp tư nhân sản xuất tôn Bình Minh
(41/4 đường DT 743, khu 10, phường Phú Hoà, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương)

Trả lời công văn số 2 ngày 18 tháng 08 năm 2003 của DNTN sản xuất tôn Bình Minh về thuế suất thuế GTGT đối với sản phẩm chậm tôn sơ chế, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:

Theo Điểm 3.3, Mục II, phần B, Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2000 của Bộ Tài chính quy định mức thuế suất thuế GTGT đối với sản xuất phần cơ khí tiêu dùng là 10%.

Theo Điểm 1.1, Mục II, phần B, Thông tư số 122/TT-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2000 của Bộ Tài chính quy định mức thuế suất thuế GTGT đối với hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% phải có các hồ sơ, chứng từ chứng minh là hàng thực tế đã xuất khẩu, cụ thể sau đây:

- Hợp đồng bán hàng hoá hoặc hợp đồng gia công, sản xuất hàng xuất khẩu ký với nước ngoài, hợp đồng uỷ thác xuất khẩu đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu.

- Hoá đơn GTGT bán hàng hoặc xuất trả hàng gia công cho nước ngoài, doanh nghiệp chế xuất và cho các đối tượng khác được xác định như xuất khẩu theo quy định của Chính phủ.

- Hàng hoá xuất khẩu cho thương nhân nước ngoài, doanh nghiệp chế xuất phải thanh toán qua Ngân hàng. Chứng từ thanh toán với thương nhân nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

- Tờ khai hải quan về hàng xuất khẩu có xác nhận đã xuất khẩu của cơ quan hải quan về hàng hoá xuất khẩu của bên nhận uỷ thác, nếu là bản sao phải có đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu ký, đóng dấu.

Căn cứ các quy định trên, DNTN sản xuất tôn Bình Minh sản xuất sản phẩm chậu tôn (đây là mặt hàng cơ khí tiêu dùng) ở dạng bán thành phẩm; sau đó án lại cho các doanh nghiệp, các Công ty để tiếp tục sản xuất tạo ra thành phẩm phục vụ xuất khẩu. Do đó, giai đoạn sản xuất của DNTN sản xuất tôn Bình Minh chưa phải trực tiếp xuất khẩu và chưa đủ các điều kiện nêu trên để được áp dụng thuế suất 0% mà là tiêu dùng trong nước. Do đó, mặt hàng chậu tôn của DNTN sản xuất tôn Bình Minh khí bán phải chịu thuế suất thuế GTGT 10% theo quy định tại Điểm 3.3, Mục II, phần B Thông tư 122/2000/TT-BTC nêu trên.

Theo quy định của Luật thuế GTGT thì người tiêu dùng phải nộp thuế GTGT và được thể hiện trên hoá đơn GTGT giữa người mua thanh toán với người bán (bao gồm cả tiền thuế GTGT). Người bán có trách nhiệm thay mặt người mua để nộp tiền thuế GTGT đó vào ngân sách nhà nước sau khi người bán được trừ đi thuế GTGT đó vào ngân sách Nhà nước sau khi người bán được trừ đi thuế GTGT đầu vào đã nộp ở khâu mua nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm đó. Như vậy, về bản chất không phải DNTN sản xuất tôn Bình Minh chịu thuế GTGT của sản phẩm mà mình bán ra.

Tổng cục Thuế trả lời để Doanh nghiệp biết và thực hiện.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG Phạm Duy Khương

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu3392TCT/NV6
Ngày ban hành19/09/2003
Loại văn bảnCông văn
Ngày có hiệu lực19/09/2003
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýTổng cục Thuế / Phạm Duy Khương
Phạm viTrung ương, Tổng cục Thuế
Trích yếuSố 3392 TCT/NV6 ngày 19/09/2003 của Tổng cục thuế về việc thuế giá trị gia tăng
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.