|
TÒA
ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
*******
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
*******
|
|
Số:
62/2001/KHXX
|
Hà
Nội, ngày 13 tháng 06 năm 2001
|
CÔNG VĂN
TRẢ
LỜI MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP LY HÔN
1. Trường hợp người chồng bỏ đi khỏi nơi cư trú, người vợ không tìm được địa chỉ của người chồng và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với người chồng, thì về nguyên tắc Tòa án vẫn phải thụ lý vụ án theo thủ tục chung quy định tại Điều 37 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Sau khi thụ lý vụ án phải tiến hành các biện pháp cần thiết để xác định địa chỉ của bị đơn. Nếu tìm được địa chỉ của bị đơn, nhưng bị đơn cố tình trốn tránh, thì Tòa án có quyền xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 48 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Nếu không tìm được địa chỉ của bị đơn thì áp dụng điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án. Trong trường hợp có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 88 Bộ luật dân sự thì Tòa án giải thích cho đương sự biết là họ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người chồng mất tích đồng thời xin ly hôn. Trong trường hợp này Tòa án áp dụng các quy định tại Điều 88 Bộ luật dân sự và Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.
Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn mà có yêu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản khi ly hôn phải theo đúng các quy định tại các điều 95, 96, 97, 98 và 99 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Việc quản lý tài sản của người chồng vắng mặt hoặc bị Tòa án tuyên bố mất tích được thực hiện theo quy định tại Điều 85 hoặc Điều 89 của Bộ luật Dân sự.
2. Trong trường hợp cả hai vợ chồng cùng viết chung một đơn xin thuận tình ly hôn, thì họ là đồng nguyên đơn. Khi thụ lý vụ án tuy chỉ có một bên nộp tiền tạm ứng án phí nhưng cần hiểu là họ đã có sự thỏa thuận với nhau; do đó, nếu trong quá trình giải quyết vụ án người đã nộp tiền tạm ứng án phí lại khước từ giấy triệu tập của Tòa án và cố tình lẫn tránh, thì Tòa án cần hỏi người còn lại có tiếp tục xin ly hôn nữa hay không. Nếu họ vẫn tiếp tục xin ly hôn, thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung như trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên. Trong trường hợp họ không có yêu cầu xin ly hôn nữa, thì Tòa án căn cứ vào điểm 2 Điều 46 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Bộ luật Không số dân sự
Luật 22/2000/QH10 hôn nhân và Gia đình 2000
Điều 99. Giải quyết quyền lợi của vợ, chồng khi ly hôn trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên
Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.
Điều 95. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn
Điều 88.Tuyên bố mất tích
Điều 98. Chia nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng
Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này; nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng.
Điều 85.Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú
Điều 89. Căn cứ cho ly hôn
Điều 96. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn
Điều 97. Chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn
1- Khi một người biệt tích đã hai năm mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng, thì thời hạn hai năm được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng, thì thời hạn được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
Điều 89.Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích
Người đang quản lý tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 86 và Điều 87 của Bộ luật này.
Trong trường hợp Toà án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn, thì tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này, thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích, thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.
Bộ luật Không số dân sự
Luật 22/2000/QH10 hôn nhân và Gia đình 2000
Điều 99. Giải quyết quyền lợi của vợ, chồng khi ly hôn trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên
Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.
Điều 95. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn
Điều 88.Tuyên bố mất tích
Điều 98. Chia nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng
Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này; nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng.
Điều 85.Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú
Điều 89. Căn cứ cho ly hôn
Điều 96. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn
Điều 97. Chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn
1- Khi một người biệt tích đã hai năm mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng, thì thời hạn hai năm được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng, thì thời hạn được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
Điều 89.Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích
Người đang quản lý tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 86 và Điều 87 của Bộ luật này.
Trong trường hợp Toà án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn, thì tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này, thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích, thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.