Quay lại

Công văn 807TCT/DNK số 807TCT/DNK về việc chính sách thuế giá trị gia tăng trong trường hợp xuất khẩu hàng hóa do Tổng cục Thuế ban hành

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-----

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------

Số: 807TCT/DNK
V/v: Chính sách thuế giá trị gia tăng trong trường hợp xuất khẩu hàng hóa

Hà Nội, ngày 22 tháng 03 năm 2005

Kính gửi:

Hợp tác xã sản xuất xuất khẩu tơ tằm Nội Duệ
(Huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh)

Trả lời văn thư đề ngày 20/2/2005 của Hợp tác xã hỏi về chính sách thuế giá trị gia tăng trong trường hợp xuất khẩu hàng hóa, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại Điểm d Khoản 1 Điều 9 Chương II Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng quy định:

“Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được khấu trừ hoặc hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào phải có đủ Điều kiện, thủ tục sau:

- Tờ khai hàng hóa xuất khẩu có xác nhận của cơ quan Hải quan về hàng hóa đã làm thủ tục xuất khẩu (áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu);

- Hợp đồng bán hàng hóa, gia công hàng hóa (đối với trường hợp gia công hàng hóa), cung ứng dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài;

- Thực hiện thanh toán qua Ngân hàng và các trường hợp được coi như thanh toán qua Ngân hàng như: cấn trừ vào khoản tiền vay nợ nước ngoài, phía nước ngoài ủy quyền cho bên thứ 3 là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thanh toán qua Ngân hàng (trừ trường hợp xuất khẩu thanh toán theo hình thức hàng đổi hàng, trả nợ cho Nhà nước, xuất khẩu lao động thu tiền trực tiếp của người đi xuất khẩu lao động; hàng hóa xuất khẩu bán tại hội chợ, triển lãm ở nước ngoài và một số hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu có hình thức thanh toán đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định);

- Hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân nước ngoài.

Trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu đã có xác nhận của cơ quan Hải quan (đối với hàng hóa xuất khẩu) nhưng không đủ một trong các điều kiện, thủ tục còn lại nêu trên thì cơ sở kinh doanh không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào mà tính vào chi phí kinh doanh. Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể thủ tục, điều kiện áp dụng trường hợp này.”

Căn cứ quy định trên, trường hợp Hợp tác xã xuất khẩu sang Lào nhưng hàng hóa xuất khẩu lại thanh toán bằng tiền mặt (tức không được thực hiện thanh toán qua ngân hàng và các trường hợp được coi như thanh toán qua ngân hàng) hoặc xuất khẩu hàng hóa nhưng không có hợp đồng bán hàng hóa cho khách hàng nước ngoài thì các trường hợp này được coi là không đủ một trong các thủ tục, điều kiện nêu trên do đó hàng xuất khẩu không thuộc diện được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nhưng cũng không phải tính thuế GTGT đầu ra. Hợp tác xã không được khấu trừ hoặc hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của các chi phí liên quan đến hàng xuất khẩu mà phải tính vào chi phí kinh doanh.

Tổng cục thuế trả lời để Hợp tác xã được biết và thực hiện./.

Nơi nhận: - Như trên; - Cục thuế tỉnh Bắc Ninh; - Lưu: VP (HC); DNK (2b).

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG Phạm Văn Huyến

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu807TCT/DNK
Ngày ban hành22/03/2005
Loại văn bảnCông văn
Ngày có hiệu lực22/03/2005
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýTổng cục Thuế / Phạm Văn Huyến
Phạm viTrung ương, Tổng cục Thuế
Trích yếuSố 807TCT/DNK về việc chính sách thuế giá trị gia tăng trong trường hợp xuất khẩu hàng hóa do Tổng cục Thuế ban hành
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.