|
BỘ TÀI CHÍNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 20895/CHQ-NVTHQ |
Hà Nội, ngày 24 tháng 8 năm 2026 |
|
Kính gửi: |
- Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; |
|
(Địa chỉ: số 9 phố Đào Duy Anh, phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội) |
|
|
|
- Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham). |
|
(Địa chỉ: Tầng 4, Khách sạn InterContinental Hanoi Westlake, số 5 từ Hoa, Quận Tây Hồ, Hà Nội.) |
|
Cục Hải quan nhận được kiến nghị của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) về việc doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu thiết bị y tế, thuốc và thực phẩm chức năng đã thực hiện khai báo mã HS căn cứ trên Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam và các Danh mục, quy định quản lý chuyên ngành do Bộ Y tế ban hành (số thứ tự 22 và 24 tại Phụ lục kèm theo Thông báo số 426/TB-VPCP ngày 15/8/2026, vấn đề 35 tại công văn số 8530/VPCP-KTTH ngày 21/08/2026). Về việc này, Cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Về việc phân loại hàng hóa
1.1 Quy định về phân loại hàng hóa:
Theo quy định tại Điều 26 Luật Hải quan thì:
1. Phân loại hàng hóa để xác định mã số hàng hóa làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa. Khi phân loại hàng hóa phải căn cứ hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để xác định tên gọi, mã số của hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.
- Theo quy định tại Khoản 4 Điều 19 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 167/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 thì:
“4. Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, tổ chức liên quan để quyết định việc phân loại hàng hóa đối với các trường hợp có sự khác biệt trong việc áp dụng Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam hoặc có sự khác biệt giữa các Danh mục hàng hóa do các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành với Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam”.
- Theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 thì:
“1. Phân loại hàng hóa để xác định tên gọi, mã số hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.
2. Việc phân loại hàng hóa căn cứ vào hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin về thành phần, tính chất lý, hóa, tính năng, công dụng của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
3. Phân loại hàng hóa để xác định mã số hàng hóa làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết việc phân loại hàng hóa”.
Căn cứ Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 14/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phân loại hàng hóa, phân tích để kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì:
“1. Một mặt hàng chỉ có một mã số duy nhất theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.”
1.2 Quy định của Bộ chuyên ngành về mã số HS:
Tại Điều 2 Thông tư số 40/2016/TT-BYT ngày 04/11/2016, Thông tư số 05/2018/TT-BYT ngày 05/2018/TT-BYT, Thông tư số 28/2021/TT-BYT ngày 20/12/2021/TT-BYT của Bộ Y tế quy định:
“1. Các sản phẩm, hàng hóa được quy định trong Danh mục trên nhưng chưa liệt kê mã số hoặc chỉ liệt kê mã 4 số hoặc 6 chữ số thì khi nhập khẩu doanh nghiệp phải cung cấp cho cơ quan hải quan các thông tin đầy đủ về hàng hóa nhập khẩu (thành phần, cấu tạo, công dụng, tài liệu kỹ thuật (nếu có) và cam kết chịu trách nhiệm về nội dung đã khai báo và sử dụng hàng hóa nhập khẩu đúng mục đích.
2. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan đến mã số HS trong Danh mục ban hành kèm theo Thông tư này, Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) sẽ chủ trì phối hợp với Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) xem xét lại để thống nhất và quyết định mã số.”
- Tại Điều 3 của Thông tư số 15/2024/TT-BYT ngày 19/9/2024, Thông tư số 09/2024/TT-BYT ngày 11/6/2024, Thông tư số 19/2024/TT-BYT ngày 01/10/2024 của Bộ Y tế quy định:
“Trường hợp có sự khác biệt, không thống nhất trong việc phân loại và xác định mã số hàng hóa đối với các hàng hóa thuộc Danh mục ban hành kèm theo Thông tư này, việc xác định mã số hàng hóa thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan.”
Căn cứ các quy định nêu trên thì Bộ Y tế là cơ quan quản lý chuyên ngành chịu trách nhiệm xây dựng và ban hành Danh mục hàng hóa quản lý chuyên ngành về các sản phẩm thiết bị y tế, thuốc, nguyên liệu sản xuất thuốc và thực phẩm chức năng, Bộ Tài chính (Cơ quan Hải quan) có trách nhiệm phân loại hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam để xác định mã số hàng hóa làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa.
Trong trường hợp có sự không thống nhất về mã số, Bộ Tài chính (Cục Hải quan) có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, để xác định mã số hàng hóa theo quy định của pháp luật hải quan.
Theo các quy định nêu trên, Bộ Tài chính (Hải quan) là cơ quan có trách nhiệm cuối cùng về xác định mã số hàng hóa để tính thuế.
2. Về xử lý thuế.
Căn cứ quy định tại tiết c Khoản 2 Điều 18 Luật Hải quan thì người khai hải quan có nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình; về sự thống nhất nội dung thông tin giữa hồ sơ lưu tại doanh nghiệp với hồ sơ lưu tại cơ quan hải quan.
- Việc ấn định thuế được thực hiện theo Điều 25 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, Điều 39 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ, Điều 33 Thông tư số 86/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
- Việc xử phạt vi phạm hành chính
Một trong những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính là “Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định” (điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý VPHC).
Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý VPHC quy định về khái niệm vi phạm hành chính: “1. Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.”
Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan được quy định tại Điều 7 Nghị định 169/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
Việc xem xét không xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp doanh nghiệp đã kê khai đầy đủ, trung thực theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành căn cứ vào các quy định nêu trên và hồ sơ vụ việc cụ thể để thực hiện.
Cục Hải quan có ý kiến để Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) được biết./.
|
|
TL. CỤC TRƯỞNG |