Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Bồi thường nhà nước.
Chương I:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án của Nhà nước gây ra; thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.
Điều 2. Đối tượng được bồi thường nhà nước
Mọi cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trong các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước theo quy định của Luật này thì được Nhà nước bồi thường.
Điều 3. Chính sách bồi thường nhà nước
1. Nhà nước chỉ bồi thường đối với những thiệt hại do những hoạt động của Nhà nước được quy định trong Luật này gây ra.
2. Chính sách bồi thường nhà nước được xây dựng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ.
3. Nhà nước xây dựng cơ chế thuận lợi để bảo đảm cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình.
Điều 4. Áp dụng pháp luật
Việc giải quyết bồi thường đối với các thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này. Trong trường hợp Luật này không có quy định cụ thể về việc xác định trách nhiệm bồi thường và thủ tục giải quyết bồi thường đối với các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước thì áp dụng các quy định có liên quan của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 5. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Bồi thường nhà nước là việc Nhà nước phải bồi thường cho cá nhân, tổ chức những thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra theo quy định tại Luật này.
2. Cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước là cơ quan đại diện cho Nhà nước thực hiện việc giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, thi hành án và hoạt động tố tụng.
3. Cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước, có trách nhiệm xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, trong hoạt động thi hành án khi có yêu cầu và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
4. Người thi hành công vụ là người được bầu cử hoặc tuyển dụng, bổ nhiệm vào một vị trí trong các cơ quan của bộ máy nhà nước để thực hiện nhiệm vụ có liên quan trực tiếp đến việc thực thi quyền lực Nhà nước hoặc những người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện các nhiệm vụ có liên quan đến việc thực thi quyền lực nhà nước.
5. Người bị thiệt hại là cá nhân, tổ chức có thiệt hại về vật chất, thiệt hại do tổn thất về tinh thần thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước.
Điều 6. Quyền yêu cầu bồi thường nhà nước
Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước thực hiện việc giải quyết bồi thường khi cho rằng mình bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra mà hành vi đó đã được xác định tại văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự.
Điều 7. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường nhà nước
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết bồi thường nhà nước chỉ ra quyết định bồi thường khi có đủ các căn cứ sau đây:
1. Có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, trừ các trường hợp bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự. Hành vi trái pháp luật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định bằng văn bản theo quy định của pháp luật;
2. Có thiệt hại thực tế xảy ra đối với cá nhân, tổ chức yêu cầu bồi thường;
3. Có quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra với hành vi đã gây ra thiệt hại đó;
4. Người thi hành công vụ có lỗi vô ý hoặc cố ý, trừ các trường hợp bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự.
Điều 8. Nguyên tắc giải quyết bồi thường nhà nước
Việc giải quyết bồi thường nhà nước phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
1. Kịp thời, công khai và đúng pháp luật;
2. Bồi thường bằng tiền, được chi trả một lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thoả thuận khác;
3. Thiệt hại về vật chất thực tế được bồi thường toàn bộ; thiệt hại về tinh thần được bồi thường theo mức quy định tại Luật này;
4. Việc bồi thường thiệt hại được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan giải quyết bồi thường với người bị thiệt hại, thân nhân của người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ; nếu không thương lượng được thì người bị thiệt hại, thân nhân của người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
Điều 9. Cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước
1. Cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường.
2. Cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận, thụ lý đơn yêu cầu bồi thường nhà nước của người bị thiệt hại;
b) Thực hiện việc giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước; thông báo kịp thời các thông tin về việc giải quyết bồi thường theo yêu cầu của người bị thiệt hại;
c) Ban hành quyết định giải quyết bồi thường nhà nước;
d) Cử đại diện tham gia tố tụng tại Toà án với tư cách là bị đơn trong trường hợp bên bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường;
đ) Yêu cầu người thi hành công vụ có lỗi hoàn trả cho Nhà nước một phần hoặc toàn bộ kinh phí đã bồi thường thiệt hại;
e) Báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước về việc thực hiện công tác giải quyết bồi thường theo quy định của Luật này;
g) Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc giải quyết bồi thường nhà nước theo thẩm quyền.
Điều 10. Nội dung quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước
1. Ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bồi thường nhà nước.
2. Bồi dưỡng, hướng dẫn kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường nhà nước.
3. Theo dõi, thống kê việc thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước;
4. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về bồi thường nhà nước và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
5. Hợp tác quốc tế về giải quyết bồi thường nhà nước.
Điều 11. Trách nhiệm quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Thực hiện các nội dung quản lý nhà nước theo quy định tại Điều 10 của Luật này;
b) Xác định cơ quan giải quyết bồi thường đối với các trường hợp thiệt hại do người thi hành công vụ thuộc các cơ quan nhà nước ở trung ương gây ra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước và thi hành án;
c) Có ý kiến về các vấn đề pháp lý liên quan đến việc giải quyết bồi thường nhà nước theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước;
d) Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Tổ chức giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn có liên quan về bồi thường nhà nước được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ.
3. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước trong phạm vi địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Xác định cơ quan giải quyết bồi thường đối với các trường hợp thiệt hại do người thi hành công vụ thuộc các cơ quan nhà nước ở địa phương gây ra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước và thi hành án;
b) Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về bồi thường nhà nước và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền;
c) Theo dõi, thống kê việc thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước tại địa phương; định kỳ hàng năm báo cáo Bộ Tư pháp để tổng hợp;
d) Thực hiện nhiệm vụ quy định tại điểm c khoản 2 Điều này.
Sở Tư pháp giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản này.
Điều 12. Quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại
1. Người bị thiệt hại có quyền được cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước thông báo kịp thời các thông tin về việc giải quyết bồi thường.
2. Người bị thiệt hại có nghĩa vụ cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết bồi thường.
3. Người bị thiệt hại có nghĩa vụ chứng minh về các thiệt hại thực tế xảy ra.
Điều 13. Nghĩa vụ của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại
1. Tham gia vào quá trình giải quyết bồi thường nhà nước theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường hoặc Toà án.
2. Cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực các thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết bồi thường nhà nước theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường hoặc của Tòa án.
3. Hoàn trả một phần hoặc toàn bộ khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho cá nhân, tổ chức theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 14. Khiếu nại, tố cáo trong hoạt động giải quyết bồi thường nhà nước
Người bị thiệt hại, người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại và những người có quyền và lợi ích liên quan có quyền khiếu nại, tố cáo quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong hoạt động giải quyết bồi thường nhà nước theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Điều 15. Các hành vi bị cấm
1. Giả mạo hồ sơ, giấy tờ và khai báo không trung thực để được bồi thường nhà nước.
2. Thông đồng giữa người bị thiệt hại và người thi hành công vụ để hưởng chế độ bồi thường nhà nước trái pháp luật.
3. Can thiệp trái pháp luật vào quá trình giải quyết bồi thường nhà nước.
4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn giải quyết bồi thường nhà nước trái pháp luật.
5. Các hành vi khác bị cấm theo quy định của pháp luật.
Chương II:
BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ THI HÀNH ÁN
Mục 1: CÁC TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ THI HÀNH ÁN
Điều 16. Các trường hợp được bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong việc thực hiện các công vụ sau đây:
1. Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
2. Áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính;
3. Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
4. Áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính bằng một trong các hình thức đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh;
5. Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư; giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép;
6. Áp dụng các biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc kiên cố khác;
7. Áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất; trưng dụng, trưng mua, tịch thu tài sản;
8. Áp dụng thủ tục hải quan;
9. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;
10. Ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
11. Cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ.
Điều 17. Các trường hợp được bồi thường nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:
1. Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án;
2. Quyết định và tổ chức cưỡng chế thi hành án;
3. Quyết định thi hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án;
4. Quyết định hoãn thi hành án; tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án; khôi phục thời hiệu thi hành án.
Điều 18. Các trường hợp được bồi thường nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:
1. Ra quyết định thi hành án hình sự;
2. Giam người quá thời hạn phải thi hành án phạt tù theo bản án, quyết định của Toà án;
3. Áp dụng các biện pháp quản lý, giam, giữ phạm nhân.
Mục 2: XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG TRONGHOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ THI HÀNH ÁN
Điều 19. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
1. Tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu phải được trả lại ngay.
2. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp tài sản bị xâm phạm được quy định như sau:
a) Trong trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài sản đã bị phát mại, bị mất trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường;
b) Trong trường hợp tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để sửa chữa, khôi phục lại tài sản. Nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại được xác định theo quy định tại điểm a khoản này;
c) Trong trường hợp có thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản thì thiệt hại được xác định là thu nhập thực tế bị mất. Đối với những tài sản trên thị trường có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm giải quyết bồi thường; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định trên cơ sở thu nhập do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm thiệt hại xẩy ra; nếu tài sản bị kê biên được giao cho người bị thiệt hại hoặc người khác quản lý thì chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại về tài sản được xác định là những thiệt hại được bồi thường.
3. Các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền được hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ; trường hợp khoản tiền đó là khoản vay có lãi thì phải hoàn trả cả khoản lãi hợp pháp; trong trường hợp khoản tiền đó không phải là khoản vay có lãi thì phải hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của người bị thiệt hại cả khoản lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Điều 20. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút
1. Cá nhân, tổ chức có thu nhập mà xác định được thì được bồi thường theo thu nhập thực tế bị mất.
2. Trong trường hợp cá nhân có thu nhập thường xuyên, mức bồi thường được xác định căn cứ vào thu nhập trung bình trong ba tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xẩy ra.
3. Cá nhân có thu nhập nhưng không xác định được thì được bồi thường theo thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương. Trong trường hợp không xác định được thu nhập trung bình thì tiền bồi thường được xác định theo mức lương tối thiểu chung tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Điều 21. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần
1. Việc bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong thời gian bị tạm giữ hành chính; bị đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh được xác định là mỗi ngày bị xâm phạm quyền tự do thân thể được bồi thường hai ngày lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.
2. Việc bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm được xác định là ba trăm sáu mươi tháng lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.
3. Việc bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trong trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm được xác định căn cứ vào mức độ sức khoẻ bị tổn hại nhưng mức bồi thường tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Điều 22. Thiệt hại về vật chất do tính mạng bị xâm phạm
1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết.
2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng.
3. Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Tiền cấp dưỡng hàng tháng được xác định là mức lương tối thiểu chung tại thời điểm giải quyết bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Điều 23. Thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khoẻ
1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại.
2. Thiệt hại về thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại về sức khoẻ và người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định theo quy định tại Điều 20 của Luật này.
3. Trong trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc, thì thiệt hại được bồi thường bao gồm chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và khoản cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Khoản cấp dưỡng hàng tháng được xác định là mức lương tối thiểu chung tại thời điểm giải quyết bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Mục 3: THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONGHOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ THI HÀNH ÁN
Điều 24. Phương thức giải quyết bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước và thi hành án
Người bị thiệt hại trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước và thi hành án theo quy định tại Luật này có quyền yêu cầu bồi thường nhà nước bằng các phương thức sau đây:
1. Yêu cầu cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước thực hiện việc giải quyết bồi thường;
2. Yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường nhà nước trong trường hợp người bị thiệt hại đã thực hiện quyền yêu cầu bồi thường nhà nước mà không được giải quyết hoặc người bị thiệt hại không chấp thuận quyết định giải quyết bồi thường nhà nước;
3. Yêu cầu giải quyết bồi thường trong quá trình giải quyết khiếu nại hoặc giải quyết vụ án hành chính.
Điều 25. Thời hiệu yêu cầu bồi thường nhà nước
Trong thời hạn 2 năm, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, người bị thiệt hại có quyền gửi đơn yêu cầu bồi thường nhà nước đến cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước.
Điều 26. Hồ sơ yêu cầu bồi thường nhà nước
1. Đơn yêu cầu bồi thường nhà nước có các nội dung chính sau đây:
a) Họ và tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường thiệt hại;
b) Lý do yêu cầu bồi thường nhà nước;
c) Các thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.
2. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường nhà nước, phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường nhà nước.
Điều 27. Thụ lý đơn yêu cầu giải quyết bồi thường nhà nước
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu bồi thường nhà nước, nếu xác định yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm giải quyết của mình thì cơ quan đã nhận đơn phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho người bị thiệt hại về việc thụ lý đơn.
2. Trong trường hợp yêu cầu bồi thường nhà nước không thuộc trách nhiệm giải quyết của mình thì cơ quan đã tiếp nhận đơn phải trả lại hồ sơ yêu cầu bồi thường nhà nước và hướng dẫn người bị thiệt hại gửi đơn đến cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu xác định cơ quan giải quyết bồi thường.
Điều 28. Đơn yêu cầu xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước
1. Trong trường hợp không xác định được cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước thì người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu xác định cơ quan giải quyết bồi thường đến cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 11 của Luật này để được xác định cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường.
2. Thời gian cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước thực hiện việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường không được tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường nhà nước.
Điều 29. Xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước
1. Nguyên tắc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước
a) Trong trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan liên đới gây ra thiệt hại, thì cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chịu trách nhiệm chính trong vụ việc là cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước.
b) Trong trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc cơ quan trung ương và cơ quan địa phương liên đới gây ra thiệt hại thì cơ quan trung ương là cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước.
c) Trong trường hợp cơ quan quản lý người thi hành công vụ đã được sáp nhập hoặc bị giải thể thì cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó là cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước; trong trường hợp không có cơ quan nào kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đã bị giải thể thì cơ quan đã ra quyết định giải thể là cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường.
d) Trong trường hợp tại thời điểm thụ lý yêu cầu bồi thường nhà nước mà người gây ra thiệt hại không còn làm việc tại cơ quan quản lý người đó, thì cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước là cơ quan quản lý người thi hành công vụ tại thời điểm gây ra thiệt hại.
đ) Trong trường hợp có sự uỷ quyền hoặc uỷ thác thực hiện công vụ thì cơ quan được uỷ quyền hoặc cơ quan nhận uỷ thác là cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước.
2. Thẩm quyền xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước
a) Theo yêu cầu của người bị thiệt hại về việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc gây ra thiệt hại để xác định cơ quan nào trong số các cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết bồi thường nhà nước.
b) Trong trường hợp không có sự thống nhất về việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước theo quy định tại điểm a khoản này, cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước có quyền quyết định một cơ quan có liên quan trong việc gây ra thiệt hại là cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước.
Điều 30. Quyết định về việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước
1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn hợp lệ của người bị thiệt hại, cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước phải ban hành quyết định về việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước. Quyết định này có hiệu lực thi hành.
2. Ngay sau khi ban hành quyết định về việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước phải gửi quyết định đó cho cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường nhà nước và cho người bị thiệt hại biết.
3. Căn cứ vào quyết định về việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước, người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường nhà nước theo thủ tục quy định tại Luật này. Trong trường hợp cơ quan đã được xác định có trách nhiệm giải quyết bồi thường không thụ lý đơn yêu cầu bồi thường nhà nước thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường nhà nước theo quy định tại Điều 36 của Luật này.
Điều 31. Ra quyết định giải quyết bồi thường
1. Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu giải quyết bồi thường nhà nước, cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước phải cử đại diện để thương lượng với bên bị thiệt hại về việc giải quyết bồi thường, tiến hành xác minh thiệt hại và thực hiện các công việc khác để làm căn cứ ra quyết định giải quyết bồi thường nhà nước.
2. Quyết định giải quyết bồi thường nhà nước phải được gửi ngay cho người bị thiệt hại và cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước cùng cấp.
Điều 32. Xác minh thiệt hại
1. Cơ quan giải quyết bồi thường phải tổ chức xác minh thiệt hại thực tế xảy ra để làm căn cứ xác định mức bồi thường.
2. Tuỳ thuộc vào tính chất, nội dung của vụ việc, cơ quan giải quyết bồi thường có thể tổ chức việc định giá, giám định thiệt hại về tài sản; giám định thiệt hại về sức khoẻ hoặc lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan về việc giải quyết bồi thường.
Điều 33. Thương lượng giải quyết bồi thường
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu giải quyết bồi thường nhà nước, cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước phải cử đại diện thương lượng với bên bị thiệt hại về việc giải quyết bồi thường. Việc thương lượng phải được lập thành biên bản.
2. Đại diện cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước phải là cán bộ cấp phòng hoặc tương tương trở lên, có chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu giải quyết bồi thường và bảo đảm tính vô tư, khách quan trong quá trình thương lượng.
Điều 34. Nội dung quyết định giải quyết bồi thường nhà nước
Quyết định giải quyết bồi thường nhà nước phải có các nội dung sau đây:
1. Họ và tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường thiệt hại;
2. Tóm tắt lý do yêu cầu bồi thường nhà nước;
3. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường nhà nước;
4. Mức bồi thường.
Điều 35. Hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường
1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường nhà nước, người yêu cầu bồi thường nhà nước phải có ý kiến bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc không chấp thuận quyết định đó.
2. Quyết định giải quyết bồi thường nhà nước có hiệu lực kể từ ngày cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước nhận được văn bản chấp thuận của người yêu cầu bồi thường nhà nước hoặc trong trường hợp quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà người yêu cầu bồi thường nhà nước không có ý kiến bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc không chấp thuận quyết định đó.
3. Quyết định giải quyết bồi thường nhà nước không có hiệu lực trong trường hợp người yêu cầu bồi thường nhà nước có văn bản về việc không chấp thuận quyết định đó.
Điều 36. Khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường nhà nước
1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này mà cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước không ra quyết định giải quyết bồi thường nhà nước hoặc đã ra quyết định giải quyết bồi thường nhà nước nhưng quyết định đó không có hiệu lực theo quy định tại khoản 3 Điều 35 của Luật này, thì người yêu cầu bồi thường nhà nước có quyền khởi kiện ra Toà án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 của Luật này để yêu cầu giải quyết bồi thường nhà nước.
2. Người bị thiệt hại không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường nhà nước trong trường hợp quyết định giải quyết bồi thường nhà nước đã có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này.
Điều 37. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án
Toà án có thẩm quyền và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Toà án được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Điều 38. Yêu cầu bồi thường nhà nước trong quá trình giải quyết khiếu nại hành chính hoặc giải quyết vụ án hành chính
Trong quá trình giải quyết khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính hoặc giải quyết vụ án hành chính tại Toà án, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính hoặc Toà án có thẩm quyền giải quyết luôn việc yêu cầu bồi thường nhà nước đối với các trường hợp thuộc trách nhiệm bồi thường nhà nước theo quy định của Luật này.
Điều 39. Trách nhiệm giải quyết bồi thường nhà nước trong quá trình giải quyết khiếu nại hành chính và vụ án hành chính
1. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính hoặc Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính có trách nhiệm giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước trong trường hợp người bị thiệt hại có yêu cầu bồi thường nhà nước theo quy định tại Điều 38 của Luật này.
2. Việc xác định các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước và xác định các loại thiệt hại và mức thiệt hại được bồi thường trong quá trình giải quyết khiếu nại hành chính và giải quyết vụ án hành chính đối với các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này.
3. Trong trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính đã ban hành thì họ có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của pháp luật.
4. Trong trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường mà Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính đã ban hành thì họ có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án hoặc yêu cầu người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Toà án theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
Điều 40. Yêu cầu cấp phát kinh phí bồi thường
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường nhà nước có hiệu lực theo quy định tại Điều 35 của Luật này hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án về việc giải quyết bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước đã thụ lý vụ việc yêu cầu bồi thường phải gửi văn bản đề nghị cấp phát kinh phí bồi thường cho cơ quan tài chính có thẩm quyền.
Điều 41. Trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước trong việc tham gia vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án
Theo yêu cầu của Toà án, cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước có trách nhiệm cử đại diện tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn. Trong trường hợp có quyết định xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước theo yêu cầu của người bị thiệt hại, cơ quan được xác định có trách nhiệm giải quyết bồi thường trong quyết định đó phải cử đại diện tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn.
Điều 42. Nghĩa vụ chứng minh
1. Người bị thiệt hại có nghĩa vụ chứng minh về thiệt hại thực tế đã xảy ra cho mình.
2. Cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước có nghĩa vụ chứng minh về việc người thi hành công vụ thuộc quyền quản lý của mình không có lỗi gây ra thiệt hại.
Chương III:
BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚCTRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
Mục 1: CÁC TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC BỒI THƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
Điều 43. Các trường hợp được bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự và hành chính
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng dân sự và hành chính gây ra trong các trường hợp sau đây:
1. Áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;
2. Cố ý ra bản án, quyết định trái pháp luật.
Điều 44. Các trường hợp được bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự
1. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng hình sự gây ra trong việc thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản.
2. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do bị oan trong các trường hợp sau đây:
a. Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào;
b. Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;
c. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a và b khoản này mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
d. Người có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu có liên quan đến các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này thì được bồi thường.
Điều 45. Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự
Các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 44 của Luật này không được bồi thường, nếu có một trong các căn cứ sau đây:
1. Người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật;
2. Cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm;
3. Có căn cứ xác định là vô tội nhưng tại cùng một thời điểm, người đó vẫn bị tuyên là có tội đối với tội khác;
4. Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, nhưng vụ án đã được đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm;
5. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử, nhưng tại thời điểm giải quyết bồi thường mà theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự;
6. Người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đã bị tạm giữ, bị khởi tố, bị tạm giam, bị truy tố, xét xử, thi hành án mà có quyết định, bản án của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định, bản án đó chỉ vì lý do căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y là tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội, người đó không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Mục 2: XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG TRONGHOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG VÀ KHÔI PHỤC DANH DỰ
Điều 46. Xác định thiệt hại được bồi thường trong hoạt động tố tụng
Việc xác định thiệt hại được bồi thường trong hoạt động tố tụng được thực hiện như sau:
1. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần:
a) Việc bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong các trường hợp quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 44 của Luật này được xác định là mỗi ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù được bồi thường ba ngày lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường;
b) Việc bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần cho những người bị thiệt hại quy định tại điểm c khoản 2 Điều 44 của Luật này được xác định là mỗi ngày bị oan được bồi thường một ngày lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường. Thời gian để tính bồi thường thiệt hại được xác định kể từ ngày có quyết định khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
c) Việc bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp tính mạng và sức khoẻ bị xâm phạm được xác định theo quy định tại các khoản 2 và 3 Điều 21 của Luật này;
2. Các thiệt hại về vật chất được áp dụng theo quy định tại các điều 19, 20, 22 và 23 của Luật này.
Điều 47. Khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự
1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu bằng văn bản về việc khôi phục danh dự của người bị thiệt hại theo quy định tại các điểm a và b khoản 2 của Điều 44 của Luật này hoặc thân nhân của họ, cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước đã thụ lý vụ việc phải thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai.
2. Việc xin lỗi, cải chính công khai được thực hiện bằng các hình thức sau đây:
a) Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại có sự tham dự của đại diện chính quyền địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú, đại diện cơ quan nơi người bị thiệt hại làm việc, đại diện của một tổ chức chính trị - xã hội mà người bị thiệt hại là thành viên;
b) Đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương trong ba số liên tiếp theo yêu cầu của người bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Mục 3: THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
Điều 48. Thời hiệu và hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng
1. Thời hiệu yêu cầu bồi thường nhà nước cho người bị thiệt hại theo quy định tại Điều 43 và khoản 1 Điều 44 là hai năm, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.
2. Thời hiệu yêu cầu bồi thường nhà nước cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự là hai năm, kể từ ngày người bị oan hoặc thân nhân của họ nhận được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định oan thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 44 của Luật này.
3. Hồ sơ yêu cầu bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng có các nội dung như quy định tại Điều 26 của Luật này.
Điều 49. Thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng
1. Thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng được thực hiện theo quy định tại Điều 27, 31, 32, 33, 34, 35, 36 và 40 của Luật này.
2. Thủ tục xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ đối với các trường hợp quy định tại Điều 43 và khoản 1 Điều 44 của Luật này được thực hiện theo quy định của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 50. Xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng
1. Trong trường hợp không xác định được cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng thì người bị thiệt hại có quyền gửi đơn yêu cầu xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao để được xác định cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường.
2. Nguyên tắc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng.
Đối với các trường hợp thiệt hại do nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan tiến hành tố tụng gây ra thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật sau cùng hoặc cơ quan giải quyết oan sau cùng là cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước.
3. Thẩm quyền xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng
a) Theo yêu cầu của người bị thiệt hại về việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc gây ra thiệt hại để xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước.
b) Trong trường hợp không có sự thống nhất về việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước theo quy định tại điểm a khoản này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền quyết định một cơ quan có liên quan trong việc gây ra thiệt hại là cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước.
4. Thời hạn phải ra quyết định, trách nhiệm thông báo quyết định và hậu quả pháp lý của việc cơ quan được xác định có trách nhiệm giải quyết bồi thường nhà nước không thụ lý đơn yêu cầu bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật này.
5. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm thông báo việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước cho cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước để theo dõi và tổng hợp.
Điều 51. Trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng trong việc tham gia thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án
1. Cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng có trách nhiệm tham gia vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Toà án theo quy định tại Điều 41 của Luật này.
2. Cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng và người bị thiệt hại có nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 42 của Luật này.
Chương IV:
KINH PHÍ BỒI THƯỜNG VÀ THỦ TỤC CHI TRẢ
Điều 52. Kinh phí bồi thường
1. Kinh phí bồi thường nhà nước đối với các trường hợp thuộc trách nhiệm giải quyết của cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước ở Trung ương do ngân sách Trung ương bảo đảm.
2. Kinh phí bồi thường nhà nước đối với các trường hợp thuộc trách nhiệm giải quyết của cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước ở địa phương do ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bảo đảm.
Điều 53. Lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí bồi thường
Việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí bồi thường nhà nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Điều 54. Cấp phát kinh phí bồi thường
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị cấp phát kinh phí bồi thường, cơ quan tài chính cùng cấp phải thực hiện việc cấp phát kinh phí bồi thường.
Điều 55. Chi trả tiền bồi thường
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được cấp phát kinh phí bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước phải chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại.
Chương V:
TRÁCH NHIỆM HOÀN TRẢ
Điều 56. Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ
1. Người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có trách nhiệm hoàn trả một phần hoặc toàn bộ khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
2. Người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây ra thiệt hại quy định tại Điều 44 của Luật này không phải chịu trách nhiệm hoàn trả.
3. Ngoài trách nhiệm hoàn trả, người thi hành công vụ phải chịu trách nhiệm kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức hoặc chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 57. Trách nhiệm ban hành quyết định hoàn trả
1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước có thẩm quyền quyết định việc hoàn trả.
2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước có trách nhiệm xem xét nội dung vụ việc để xác định trách nhiệm hoàn trả, mức hoàn trả đối với người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại và ban hành quyết định hoàn trả.
Điều 58. Xác định mức hoàn trả
1. Trường hợp người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây ra thiệt hại thì người đó phải hoàn trả toàn bộ kinh phí mà Nhà nước đã bồi thường.
2. Trường hợp người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây ra thiệt hại thì việc xác định mức hoàn trả được dựa trên các căn cứ sau đây:
a) Mức độ lỗi của người thi hành công vụ;
b) Mức độ nghiêm trọng của thiệt hại đã gây ra;
c) Khả năng kinh tế của người thi hành công vụ.
3. Trường hợp nhiều người thi hành công vụ liên đới gây ra thiệt hại thì những người đó cùng chịu trách nhiệm hoàn trả. Cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước chủ trì, phối hợp với các cơ quan quản lý những người thi hành công vụ liên đới gây ra thiệt hại thống nhất xác định mức hoàn trả cho từng cá nhân có trách nhiệm hoàn trả.
Điều 59. Thực hiện việc hoàn trả
1. Việc hoàn trả có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần.
2. Trường hợp phương thức hoàn trả là trừ dần vào thu nhập hàng tháng của người thi hành công vụ thì mức tối thiểu không dưới 10% và tối đa không vượt quá 30% tổng thu nhập từ tiền lương và phụ cấp hàng tháng, nếu có.
Điều 60. Hiệu lực của quyết định hoàn trả
Quyết định hoàn trả có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ký nếu người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại không có khiếu nại hay khởi kiện đối với quyết định này.
Điều 61. Khiếu nại, khởi kiện quyết định hoàn trả
Trong trường hợp người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả không đồng ý với quyết định hoàn trả thì có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định hoàn trả theo quy định của pháp luật về khiếu nại và pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
Điều 62. Thi hành quyết định hoàn trả
Căn cứ vào quyết định hoàn trả đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan đã ra quyết định hoàn trả có trách nhiệm tổ chức thu số tiền phải hoàn trả.
Điều 63. Quản lý, sử dụng kinh phí hoàn trả
Cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước có trách nhiệm nộp đầy đủ, kịp thời toàn bộ khoản thu hoàn trả vào ngân sách nhà nước. Việc quản lý, sử dụng kinh phí hoàn trả thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Chương VI:
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 64. Không áp dụng pháp luật về án phí, lệ phí, các loại phí khác và thuế trong quá trình giải quyết bồi thường
1. Khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm của nhà nước theo quy định của Luật này, người bị thiệt hại không phải nộp lệ phí, án phí và các loại phí khác.
2. Không thu thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản tiền bồi thường mà người bị thiệt hại được nhận.
Điều 65. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực từ ngày……tháng…..năm…...
2. Các văn bản quy phạm pháp luật sau đây hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật này có hiệu lực:
a. Nghị quyết số 388/2003/NQ – UBTVQH11 ngày 17/03/2003 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra;
b. Nghị định số 47/CP ngày 3/5/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.
Điều 66. Hướng dẫn thi hành
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều 7, 11, 47, 53 và 58 của Luật này.
_______________________________________________________________________
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XII, kỳ họp thứ... thông qua ngày ..... tháng..... năm 200...