Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Hòa giải ở cơ sở.
CHƯƠNG I:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Luật này quy định về nguyên tắc, chính sách hòa giải ở cơ sở, hòa giải viên, tổ hòa giải; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác hòa giải ở cơ sở.
2. Hoạt động hòa giải của Tòa án, hòa giải thương mại, trọng tài, hòa giải lao động và hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) theo quy định của các luật khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Hoà giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn và tranh chấp trong nhân dân ở cơ sở.
2. Cơ sở là thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, khóm, tổ dân phố, cộng đồng dân cư khác (sau đây gọi chung là thôn).
3. Các bên là các thành viên trong gia đình, các gia đình với nhau, giữa cá nhân với cá nhân khi có mâu thuẫn và tranh chấp ở cơ sở.
4. Hòa giải viên là người có đủ tiêu chuẩn, được bầu và công nhận theo quy định của Luật này để tiến hành hòa giải.
Điều 3. Các vụ, việc, mâu thuẫn, tranh chấp không được hòa giải
1. Tội phạm hình sự;
2. Hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính;
3. Quan hệ hôn nhân trái pháp luật và các giao dịch dân sự xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
Điều 4. Nguyên tắc hoạt động hoà giải ở cơ sở
1. Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên phải tiến hành hòa giải.
2. Phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân, phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi.
3. Khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên.
4. Tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
5. Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động hòa giải.
6. Không lợi dụng việc hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật, hoặc trốn tránh các biện pháp xử lý hành chính, hình sự.
Điều 5. Chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở
1. Khuyến khích các bên giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng hình thức hòa giải ở cơ sở và các hình thức hòa giải thích hợp khác.
Khuyến khích những người có uy tín trong gia đình, dòng họ, trong cộng đồng dân cư tham gia hòa giải ở cơ sở và tham gia các hình thức hòa giải thích hợp khác.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò nòng cốt trong công tác hòa giải ở cơ sở.
3. Nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải ở cơ sở.
4. Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp và hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở phát triển.
Điều 6. Hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở
1. Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở nhằm bảo đảm chi trả thù lao cho hòa giải viên theo vụ việc; biên soạn, phát hành tài liệu, tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng về hòa giải ở cơ sở; sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với công tác hòa giải ở cơ sở và hỗ trợ các chi phí hành chính cần thiết cho hoạt động của tổ hòa giải ở cơ sở.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
CHƯƠNG II
HÒA GIẢI VIÊN, TỔ HÒA GIẢI
Mục 1 HÒA GIẢI VIÊN
Điều 7. Tiêu chuẩn hoà giải viên
1. Có phẩm chất đạo đức, uy tín trong cộng đồng dân cư.
2. Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân, hiểu biết pháp luật.
3. Tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải.
Phương án 1
Điều 8. Bầu, công nhận hòa giải viên
1. Người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 của Luật này có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên.
2. Trưởng Ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng dân phố lập danh sách bầu hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phê duyệt.
3. Trên cơ sở danh sách bầu hòa giải viên đã được Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã thông qua, Trưởng Ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng dân phố tổ chức bầu hòa giải viên.
Việc bầu hòa giải viên được thực hiện thông qua cuộc họp đại diện các gia đình ở cơ sở bằng hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín.
4. Kết quả bầu hòa giải viên
a) Người trong danh sách bầu hòa giải viên được trên 50% tổng số người dự họp đồng ý thì được đề nghị công nhận là hòa giải viên.
b) Trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải, thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng theo quy định của Luật này.
c) Trưởng Ban công tác Mặt trận lập danh sách những người đã được bầu làm hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng Ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai để nhân dân ở thôn, tổ dân phố biết.
5. Định kỳ 03 năm một lần, Trưởng Ban công tác Mặt trận chủ trì phối hợp với Tổ trưởng Tổ hòa giải tiến hành rà soát, đánh giá về tổ chức của Tổ hòa giải và kiến nghị Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp xã để củng cố, kiện toàn Tổ hòa giải phù hợp với điều kiện thực tế.
Phương án 2
Điều 8. Lựa chọn, giới thiệu và công nhận hòa giải viên
1. Trưởng Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng dân phố lựa chọn, giới thiệu, lập danh sách những người là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 7 của Luật này gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên.
2. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng Ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai để nhân dân ở thôn, tổ dân phố biết.
Điều 9. Quyền của hòa giải viên
1. Thực hiện các hoạt động hòa giải.
2. Đề nghị các bên có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin về vụ việc hòa giải.
3. Được tham gia sinh hoạt; thảo luận và tham gia quyết định nội dung, phương thức hoạt động của tổ hòa giải.
4. Được bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải ở cơ sở; được cung cấp tài liệu pháp luật liên quan đến hoạt động hòa giải.
5. Được hưởng một khoản tiền bồi dưỡng khi thực hiện hòa giải.
6. Được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.
7. Được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở.
8. Kiến nghị, đề xuất về các vấn đề liên quan đến hoạt động hòa giải.
9. Chính phủ quy định chi tiết khoản 5 và khoản 7 Điều này.
Điều 10. Nghĩa vụ của hòa giải viên
1. Thực hiện hòa giải khi có căn cứ theo quy định tại Điều 16 của Luật này.
2. Tuân thủ các nguyên tắc hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định tại Điều 4 của Luật này.
3. Tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình hòa giải.
4. Từ chối tiến hành hòa giải nếu bản thân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc hòa giải hoặc vì lý do cá nhân khác dẫn đến không thể bảo đảm khách quan, công bằng trong hòa giải.
5. Thông báo kịp thời cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có biện pháp phòng ngừa phù hợp trong trường hợp thấy mâu thuẫn hoặc tranh chấp có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của các bên hoặc trật tự công cộng hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hành chính, hình sự.
Điều 11. Thôi làm hòa giải viên
1. Việc thôi làm hoà giải viên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Theo nguyện vọng của hoà giải viên;
b) Không đáp ứng một trong các tiêu chuẩn hòa giải viên;
c) Vi phạm nguyên tắc hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định tại Điều 4 của Luật này hoặc không có điều kiện tiếp tục làm hòa giải viên do bị xử lý vi phạm pháp luật.
2. Trường hợp thôi làm hòa giải viên căn cứ theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 của Điều này thì Tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị Trưởng Ban công tác Mặt trận báo cáo Ban thường trực Ủy ban mặt trận Tổ quốc cấp xã để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định cho thôi làm hòa giải viên.
3. Trường hợp thôi làm hòa giải viên theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, thì trên cơ sở đề nghị của Tổ trưởng tổ hòa giải, Trưởng Ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn làm văn bản báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định cho thôi làm hòa giải viên.
4. Quyết định cho thôi làm hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng Ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng dân phố hòa giải viên và thông báo công khai để nhân dân ở thôn, tổ dân phố biết.
Mục 2 TỔ HÒA GIẢI
Điều 12. Thành lập tổ hòa giải
1. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở cơ sở để thực hiện hòa giải theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
2. Tổ hoà giải có tổ trưởng và các hòa giải viên. Mỗi tổ hòa giải có từ 03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ. Đối với vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, thì tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số.
3. Căn cứ đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương, trên cơ sở đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hoà giải, hòa giải viên trong một tổ.
Điều 13. Trách nhiệm của tổ hòa giải
1. Tổ chức thực hiện hòa giải.
2. Tổ chức họp, trao đổi kinh nghiệm, thảo luận các giải pháp để tiến hành hòa giải những vụ việc phức tạp.
3. Phối hợp với Chi hội phụ nữ, Chi đoàn thanh niên, Chi hội cựu chiến binh, Chi hội nông dân, Chi hội người cao tuổi, tổ chức Hội luật gia và Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý (nếu có) trong hoạt động hòa giải ở cơ sở.
4. Kiến nghị, đề xuất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và Uỷ ban nhân dân cùng cấp, về hoạt động hòa giải ở cơ sở, các điều kiện cần thiết cho hoạt động hòa giải ở cơ sở.
5. Đề nghị khen thưởng tổ hòa giải, hòa giải viên có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải;
6. Đề nghị cho thôi làm hòa giải viên theo quy định tại Điều 11 của Luật này.
Điều 14. Tổ trưởng tổ hoà giải
1. Tổ trưởng tổ hòa giải do hòa giải viên bầu trong số các hòa giải viên của tổ.
Việc bầu tổ trưởng tổ hòa giải được thực hiện dưới sự chủ trì của Trưởng Ban công tác Mặt trận bằng hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín. Kết quả bầu tổ trưởng tổ hòa giải được lập thành văn bản và gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận.
2. Tổ trưởng tổ hoà giải là người phụ trách tổ hòa giải, đồng thời tham gia hoạt động hoà giải với tư cách là hòa giải viên.
Điều 15. Quyền và nghĩa vụ của tổ trưởng tổ hòa giải
1. Phân công, phối hợp hoạt động của các hòa giải viên.
2. Đại diện cho tổ hòa giải trong quan hệ với Trưởng Ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong thực hiện trách nhiệm của tổ hòa giải.
3. Hằng năm, thực hiện việc báo cáo về tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải với Ủy ban nhân dân cấp xã.
4. Phối hợp với tổ trưởng tổ hòa giải khác để trao đổi kinh nghiệm hoặc tiến hành hòa giải những vụ việc liên quan đến các thôn, tổ dân phố khác nhau trên cùng địa bàn cấp xã.
5. Có các quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên theo quy định tại Điều 9, Điều 10 của Luật này khi tham gia hòa giải với tư cách là hòa giải viên.
CHƯƠNG III
HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
Điều 16. Căn cứ tiến hành hòa giải
Việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành khi có một trong các căn cứ sau đây:
1. Một bên hoặc các bên yêu cầu hòa giải;
2. Hòa giải viên chứng kiến vụ việc hoặc biết về các mâu thuẫn và tranh chấp trong nhân dân thuộc phạm vi hòa giải;
3. Theo đề nghị của tổ trưởng tổ hòa giải hoặc của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.
Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình hòa giải
1. Lựa chọn hòa giải viên để tiến hành hòa giải.
2. Đề xuất về địa điểm, thời gian tiến hành hòa giải.
3. Đồng ý hoặc từ chối hòa giải; yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải.
4. Yêu cầu hoạt động hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai.
5. Được bày tỏ ý chí và quyết định về nội dung giải quyết vụ việc hòa giải.
6. Nêu đúng sự thật các tình tiết của vụ việc; cung cấp tài liệu, chứng cứ (nếu có) có liên quan đến vụ, việc hòa giải.
7. Tôn trọng hòa giải viên, quyền của các bên liên quan.
8. Không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa điểm hòa giải.
Điều 18. Phân công hòa giải viên
1. Trường hợp các bên không lựa chọn hòa giải viên, thì tổ trưởng tổ hòa giải phân công hòa giải viên tiến hành hòa giải nhưng phải được sự đồng ý của các bên.
2. Trường hợp hòa giải viên có quyền và lợi ích liên quan hoặc vì lý do cá nhân làm cho việc hòa giải không bảo đảm khách quan, công bằng, thì tổ trưởng tổ hòa giải không được phân công hòa giải viên đó tiến hành hòa giải.
3. Trong quá trình hòa giải, nếu hòa giải viên vi phạm nguyên tắc hòa giải hoặc nghĩa vụ của hòa giải viên, thì tổ trưởng tổ hòa giải phân công hòa giải viên khác.
Điều 19. Những người được mời tham gia hòa giải
1. Trong quá trình tiến hành hòa giải, nếu thấy cần thiết, hòa giải viên và một trong các bên khi được sự đồng ý của bên kia có thể mời người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc, người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ việc, đại diện của cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải.
2. Những người được mời tham gia hòa giải có nghĩa vụ tuân theo các nguyên tắc hoạt động hòa giải ở cơ sở quy định tại Điều 4 của Luật này.
3. Cơ quan, tổ chức có người được mời tham gia hòa giải có trách nhiệm tạo điều kiện để người này tham gia hòa giải.
Điều 20. Địa điểm, thời gian hòa giải
1. Địa điểm hòa giải tại nơi xảy ra vụ việc, nơi các bên lựa chọn hoặc hòa giải viên lựa chọn, bảo đảm thuận lợi cho các bên.
2. Việc hòa giải được bắt đầu kể từ ngày hòa giải viên chứng kiến vụ việc, theo yêu cầu của các bên hoặc được tổ trưởng tổ hòa giải phân công thực hiện; kết thúc theo quy định tại Điều 23 và Điều 26 của Luật này.
3. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày được phân công hòa giải, hòa giải viên phải tiến hành hòa giải, trừ trường hợp cần thiết phải hòa giải ngay khi chứng kiến mâu thuẫn, tranh chấp.
Điều 21. Tiến hành hòa giải
1. Hòa giải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói với sự có mặt của các bên.
2. Hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai theo ý kiến thống nhất của các bên.
3. Trên cơ sở tình huống, vụ việc cụ thể, hòa giải viên áp dụng các biện pháp thích hợp để hòa giải; tìm hiểu nguyên nhân phát sinh, tham khảo ý kiến của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan về vụ việc; lắng nghe ý kiến của các bên, phân tích các quy định pháp luật có liên quan, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân để thuyết phục các bên đạt được thoả thuận hợp pháp và tự nguyện thực hiện thoả thuận đó.
4. Trong quá trình tiến hành hòa giải và nếu thấy cần thiết thì hòa giải viên, một bên hoặc các bên có thể mời những người được quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này tham gia hòa giải.
5. Hòa giải viên có trách nhiệm ghi nội dung vụ việc hòa giải vào “Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở” hoặc trong trường hợp hòa giải thành và các bên đồng ý thì lập văn bản hòa giải thành theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 24 của Luật này.
Điều 22. Hòa giải giữa các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau
Trường hợp các bên ở các thôn, tổ dân phố khác nhau thì tổ hoà giải ở các thôn, tổ dân phố đó phối hợp thực hiện việc hoà giải và thông báo với Trưởng Ban công tác Mặt trận.
Điều 23. Kết thúc hoạt động hoà giải
1. Các bên đã đạt được thoả thuận.
2. Một bên hoặc các bên yêu cầu chấm dứt hòa giải.
3. Các bên không đạt được thoả thuận sau tối đa 3 lần hòa giải.
Điều 24. Hòa giải thành
1. Hòa giải thành là trường hợp các bên đạt được thỏa thuận.
2. Các bên thỏa thuận lập thành văn bản hòa giải thành.
3. Nội dung của văn bản thỏa thuận hòa giải thành bao gồm:
a) Căn cứ tiến hành hòa giải;
b) Thông tin cơ bản về các bên;
c) Nội dung chủ yếu của vụ việc;
d) Diễn biến của quá trình hòa giải;
đ) Thỏa thuận mà các bên đạt được, giải pháp thực hiện các thỏa thuận;
e) Quyền và nghĩa vụ của các bên;
g) Phương thức, thời hạn thực hiện thỏa thuận của các bên;
h) Chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và của hòa giải viên tham gia hòa giải.
Điều 25. Thực hiện thỏa thuận hòa giải thành
1. Các bên có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành. Trường hợp một bên hoặc các bên không tự nguyện thực hiện thỏa thuận đã đạt được thì có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Trong quá trình thực hiện thỏa thuận hòa giải thành, nếu một bên vì sự kiện bất khả kháng không thể thực hiện được thỏa thuận thì có trách nhiệm trao đổi, thỏa thuận với bên kia về thời hạn, phương thức thực hiện và báo cho tổ trưởng tổ hòa giải biết.
Điều 26. Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành
Hòa giải viên có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp giải quyết; kịp thời báo cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Trưởng Ban công tác Mặt trận những vấn đề mới phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện.
Điều 27. Hòa giải không thành
Hòa giải không thành là trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận trong giải quyết mâu thuẫn và tranh chấp ở cơ sở.
Trong trường hợp này, các bên có quyền yêu cầu tiếp tục hòa giải hoặc yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG IV
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
Điều 28. Trách nhiệm quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở.
2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, có trách nhiệm sau đây:
a) Xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về hoà giải ở cơ sở;
b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, kiểm tra thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về hoà giải ở cơ sở;
c) Biên soạn, phát hành tài liệu; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và kỹ năng về hòa giải ở cơ sở cho cán bộ cấp tỉnh làm công tác quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở.
3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở.
Điều 29. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở tại địa phương; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và kỹ năng về hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên trong phạm vi địa phương mình quản lý theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định việc hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở tại địa phương.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm:
a) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở; xây dựng dự toán kinh phí hỗ trợ cho hoạt động của tổ hòa giải ở cơ sở; xây dựng, củng cố, công nhận tổ hòa giải, tổ trưởng tổ hòa giải và hòa giải viên tại địa phương;
b) Chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng đối với công tác hòa giải tại địa phương.
c) Báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp huyện về kết quả thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
Điều 30. Trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên
1. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật hòa giải ở cơ sở, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở, phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở.
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam các cấp tham gia tổ chức, thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
2. Các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện các hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 31. Quy định chuyển tiếp
Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, các tổ hoà giải, tổ viên tổ hòa giải được thành lập, công nhận theo Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở tiếp tục hoạt động mà không phải làm thủ tục công nhận lại theo các quy định của Luật này.
Điều 32. Hiệu lực và áp dụng thi hành
1. Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01tháng 01 năm 2014
2. Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
Điều 33. Hướng dẫn thi hành
Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các Điều, khoản được giao trong Luật này.