Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật nuôi con nuôi.
Chương I:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi; trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi và con nuôi; chấm dứt việc nuôi con nuôi; trách nhiệm của cơ quan nhà nước về nuôi con nuôi.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này được áp dụng để giải quyết việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau; giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau cùng thường trú tại Việt Nam.
Điều 3. Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi
1. Tôn trọng quyền của trẻ em được sống với cha mẹ đẻ hoặc những người thân thích trong môi trường gia đình; không được đưa trẻ em ra khỏi môi trường gia đình trái với lợi ích của trẻ em.
2. Việc nuôi con nuôi được thực hiện dựa trên lợi ích cơ bản của việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em được nhận làm con nuôi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi trên nguyên tắc công bằng, tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
3. Người nước ngoài chỉ được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, sau khi các cơ quan có thẩm quyền đã áp dụng các biện pháp quy định tại Luật này mà không thể thu xếp được cho trẻ em làm con nuôi trong nước hoặc làm con nuôi của người có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em đang cư trú ở nước ngoài.
Điều 4. Thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ em
Khi giới thiệu trẻ em làm con nuôi, phải ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ em theo thứ tự sau:
1. Người có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em thường trú ở trong nước;
2. Công dân Việt Nam thường trú trong nước;
3. Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;
4. Người có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em thường trú ở nước ngoài;
5. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
6. Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.
Điều 5. Mục đích nuôi con nuôi
Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho trẻ em không có gia đình được thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình thay thế.
Điều 6. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi thông qua việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
2. Người nhận con nuôi là vợ chồng hợp pháp hoặc người độc thân.
3. Nuôi con nuôi trong nước là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau thường trú tại Việt Nam.
4. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
5. Trẻ em mồ côi là trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc có cha đẻ hay mẹ đẻ đã chết, còn người kia không xác định được.
6. Trẻ em bị bỏ rơi là trẻ em không xác định được cha mẹ đẻ, họ hàng, người thân thích.
7. Cơ sở nuôi dưỡng là cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em và cơ sở khác được thành lập hợp pháp theo pháp luật Việt Nam, có chức năng, nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em.
Điều 7. Bảo đảm quyền được nhận làm con nuôi và quyền nuôi con nuôi
Nhà nước bảo đảm quyền được nhận làm con nuôi của trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; quyền nuôi con nuôi của vợ chồng hoặc cá nhân được thực hiện theo Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Điều 8. Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi
1. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
3. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác của Việt Nam được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự ở nước ngoài (sau đây gọi là Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) có thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau, nếu ít nhất một bên đang thường trú ở nước sở tại và cả hai bên đều đồng thời không có quốc tịch của nước sở tại hoặc nước thứ ba.
Điều 9. Lưu giữ, tiếp cận thông tin về nuôi con nuôi
1. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi có trách nhiệm bảo quản, lưu giữ hồ sơ, thông tin về người nhận con nuôi, người được nhận làm con nuôi, nhất là thông tin về nhân thân, sức khỏe và nguồn gốc của trẻ em được nhận làm con nuôi.
2. Cơ quan đang lưu giữ hồ sơ, thông tin theo quy định tại khoản 1 Điều này tạo điều kiện để trẻ em, người đại diện của trẻ em, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật được tiếp cận hồ sơ, thông tin nhằm phục vụ lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Điều 10. Bảo đảm quyền được biết về nguồn gốc của trẻ em
1. Việc chấm dứt một số quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con đã cho làm con nuôi theo quy định của Luật này không ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác của cha mẹ và con theo quy định của pháp luật và quyền được biết về nguồn gốc của trẻ em được nhận làm con nuôi.
2. Cha mẹ nuôi, cơ quan, tổ chức có liên quan quy định tại Điều 9 của Luật này không được cản trở quyền của người được nhận làm con nuôi được biết về nguồn gốc của mình khi người đó đã thành niên và có yêu cầu.
3. Đối với trẻ em được nhận làm con nuôi ở nước ngoài, trong điều kiện và khả năng thực tế, cha mẹ nuôi bảo đảm cho trẻ em được về thăm quê hương đất nước, tìm lại cội nguồn nơi đã sinh ra.
Điều 11. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi nhằm bảo vệ trẻ em được nhận làm con nuôi, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, có biện pháp ngăn ngừa và xử lý các hành vi mua bán trẻ em hoặc lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi.
Điều 12. Lệ phí, phí
1. Người nhận con nuôi phải nộp lệ phí đăng ký việc nuôi con nuôi.
2. Ngoài lệ phí quy định tại khoản 1 Điều này, người thường trú ở nước ngoài nhận trẻ em tại Việt Nam làm con nuôi còn phải nộp phí giải quyết việc nuôi con nuôi.
3. Chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký việc nuôi con nuôi quy định tại khoản 1 và phí giải quyết việc nuôi con nuôi quy định tại khoản 2 Điều này do Chính phủ quy định.
Điều 13. Các hành vi bị cấm
1. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục, mua bán trẻ em.
2. Giả mạo giấy tờ, hồ sơ để giải quyết việc nuôi con nuôi.
3. Việc nuôi con nuôi xuất phát từ định kiến giới, dẫn đến sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ.
4. Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người già yếu, cô đơn, người thuộc dân tộc ít người để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước hoặc để vụ lợi mà không vì mục đích nuôi con nuôi quy định tại Điều 5 của Luật này.
5. Việc nuôi con nuôi giữa ông, bà và cháu, giữa anh, chị, em với nhau dẫn đến làm đảo lộn ngôi thứ trong quan hệ gia đình.
6. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục, tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Chương II:
NUÔI CON NUÔI TRONG NƯỚC
Điều 14. Người được nhận làm con nuôi
1. Người được nhận làm con nuôi bao gồm:
a) Trẻ em từ đủ 15 tuổi trở xuống;
b) Người trên 15 tuổi nếu là thương binh, người khuyết tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu, cô đơn.
2. Một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của hai người là vợ chồng.
Điều 15. Điều kiện đối với người nhận con nuôi
1. Người nhận con nuôi phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
c) Có đủ điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở ổn định bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;
d) Có tư cách đạo đức tốt, không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
2. Người nhận con nuôi có đủ điều kiện thì có thể nhận một hoặc nhiều trẻ em làm con nuôi.
3. Trường hợp vợ, chồng cùng nhận con nuôi thì cả vợ, chồng đều phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này.
Nếu người nhận con nuôi thuộc diện già yếu, cô đơn, thì không phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 16. Trách nhiệm tìm gia đình thay thế cho trẻ em
1. Đối với trẻ em không được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình, thì cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm tìm gia đình thay thế cho trẻ em đó.
2. Việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em được thực hiện như sau:
a) Đối với trẻ em mà cha mẹ đẻ hoặc những người họ hàng, thân thích không có khả năng nuôi dưỡng và không tìm được người nhận trẻ em làm con nuôi, thì cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã.
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tìm biện pháp hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em hoặc niêm yết tại trụ sở Ủy ban trong thời hạn 30 ngày để tìm người nhận trẻ em làm con nuôi. Trường hợp có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét giải quyết theo quy định tại Luật này; nếu không có người nhận trẻ em làm con nuôi, thì hướng dẫn gia đình lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
b) Trong mọi trường hợp, đối với trẻ em bị bỏ rơi tại địa phương, nếu không có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm lập hồ sơ để đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng và thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ em theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
c) Đối với trẻ em tại cơ sở nuôi dưỡng thuộc trường hợp cần có mái ấm gia đình, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc cơ quan chủ quản có trách nhiệm hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng thông báo ba lần trong thời hạn 30 ngày trên phương tiện thông tin đại chúng cấp tỉnh để tìm người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi.
Hết thời hạn này mà không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm lập hồ sơ và danh sách trẻ em gửi cho Sở Tư pháp để đề nghị Bộ Tư pháp thông báo trên Cổng thông tin điện tử trong phạm vi toàn quốc.
d) Bộ Tư pháp có trách nhiệm thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Bộ trong thời hạn 30 ngày để tìm người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi. Nếu có người trong nước đăng ký nhu cầu nhận trẻ em làm con nuôi, Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp để xem xét giới thiệu.
3. Trong mọi trường hợp, trẻ em bị bỏ rơi tại cơ sở y tế phải được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng để chăm sóc, nuôi dưỡng và thực hiện các biện pháp tìm người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều này.
4. Trường hợp trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS, nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận làm con nuôi và trường hợp nhận con nuôi theo quy định tại khoản 2 Điều 39 của Luật này được xem xét giải quyết mà không áp dụng quy định tại khoản 2 Điều này.
Điều 17. Đăng ký nhu cầu và giới thiệu nhận con nuôi
1. Công dân Việt Nam và người nước ngoài thường trú tại Việt Nam có nguyện vọng và có đủ điều kiện theo quy định của Luật này muốn nhận trẻ em làm con nuôi mà chưa xác định được trẻ em cần nhận làm con nuôi, thì nộp đơn theo mẫu quy định để đăng ký nhu cầu nhận con nuôi với Sở Tư pháp, nơi thường trú hoặc với Bộ Tư pháp.
2. Sở Tư pháp có trách nhiệm tiếp nhận đơn đăng ký nhu cầu nhận con nuôi; giữ bí mật thông tin về người đăng ký nhu cầu nhận con nuôi. Trong thời hạn thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ em theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 16 của Luật này, nếu có người trong nước muốn nhận trẻ em làm con nuôi, căn cứ vào đặc điểm của trẻ em và nguyện vọng của người nhận con nuôi, Sở Tư pháp xem xét giới thiệu và hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em theo quy định tại khoản 3 Điều 21 của Luật này để cấp cho người nhận con nuôi.
Điều 18. Sự đồng ý của cha mẹ đẻ, người giám hộ và người được nhận làm con nuôi
1. Việc nhận người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự làm con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người đó. Trường hợp cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được, thì chỉ cần sự đồng ý của người mẹ, cha còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, bị tòa án tuyên bố hạn chế quyền của cha mẹ hoặc không xác định được cha mẹ đẻ, thì phải được sự đồng ý của người giám hộ và người nuôi dưỡng của người đó.
2. Việc nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.
Điều 19. Yêu cầu về sự đồng ý làm con nuôi
1. Trước khi đưa ra sự đồng ý, những người quy định tại Điều 18 của Luật này phải được người đến lấy ý kiến thông báo, tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con sau khi người đó được nhận làm con nuôi.
2. Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe doạ hay mua chuộc, không vụ lợi, không được yêu cầu trả tiền hoặc bồi thường để có được sự đồng ý đó.
3. Người mẹ chỉ được đưa ra sự đồng ý cho con làm con nuôi sau khi trẻ em đã được sinh ra.
Điều 20. Lấy ý kiến của những người liên quan
1. Trường hợp người được nhận làm con nuôi đang sống tại gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú trực tiếp lấy ý kiến của những người liên quan theo quy định tại Điều 18 của Luật này.
2. Trường hợp người được nhận làm con nuôi đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng mà còn có gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia đình cư trú trực tiếp lấy ý kiến của những người liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này; trường hợp người được nhận làm con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên thì cơ sở nuôi dưỡng trực tiếp lấy ý kiến của người đó.
3. Việc lấy ý kiến phải bảo đảm các yêu cầu quy định tại Điều 19 của Luật này, được thể hiện bằng văn bản theo mẫu quy định, có đủ chữ ký của những người liên quan và xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được lấy ý kiến.
Điều 21. Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi
1. Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi gồm có hồ sơ của người nhận con nuôi và hồ sơ của người được nhận làm con nuôi.
2. Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm các giấy tờ sau:
a) Đơn của người nhận con nuôi theo mẫu quy định;
b) Bản sao Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;
c) Phiếu lý lịch tư pháp;
d) Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn nếu là vợ chồng nhận con nuôi;
đ) Giấy khám sức khoẻ của người nhận con nuôi do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp, xác nhận người đó có đủ sức khoẻ để bảo đảm việc nuôi con nuôi;
e) Bản nhận xét của tổ trưởng dân phố, trưởng thôn, nơi người nhận con nuôi thường trú về nhân thân, đạo đức, tình trạng chỗ ở, hoàn cảnh kinh tế của người nhận con nuôi;
g) Bản đánh giá của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú về tâm lý, hoàn cảnh gia đình và xã hội của người nhận con nuôi theo mẫu quy định.
3. Hồ sơ của người được nhận làm con nuôi gồm các giấy tờ sau:
a) Bản sao Giấy khai sinh;
b) Hai ảnh chụp toàn thân, nhìn thẳng;
c) Đối với trẻ em bị bỏ rơi, phải có biên bản xác nhận về tình trạng trẻ em bị bỏ rơi theo quy định của pháp luật; đối với trẻ em mồ côi, phải có bản sao giấy chứng tử của cha mẹ đẻ; đối với trẻ em đang sống ở cơ sở nuôi dưỡng, phải có quyết định tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
4. Toàn bộ hồ sơ của người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi được lập thành 02 bộ và nộp tại cơ quan có thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi.
Trường hợp người được nhận làm con nuôi sống tại cơ sở nuôi dưỡng, thì cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm lập hồ sơ của người đó để cấp cho người nhận con nuôi.
Điều 22. Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi
1. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lấy ý kiến của những người liên quan theo thể thức quy định tại Điều 20 của Luật này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã kiểm tra hồ sơ, nếu xét thấy người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Luật này, thì quyết định công nhận việc nuôi con nuôi, đăng ký việc nuôi con nuôi vào sổ theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch và thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi để ghi chú việc nuôi con nuôi.
2. Lễ trao quyết định công nhận việc nuôi con nuôi được tổ chức tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, với sự có mặt của các bên và đại diện Ủy ban nhân dân.
3. Trường hợp người nhận con nuôi, người được nhận làm con nuôi không đáp ứng đủ điều kiện, việc nuôi con nuôi thuộc trường hợp bị cấm, mục đích nuôi con nuôi không phù hợp với quy định của pháp luật, Uỷ ban nhân dân cấp xã từ chối đăng ký và thông báo bằng văn bản cho đương sự nêu rõ lý do từ chối đăng ký.
Điều 23. Báo cáo và theo dõi việc thực hiện nuôi con nuôi
1. Trong ba năm đầu tiên kể từ ngày việc nuôi con nuôi được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, định kỳ sáu tháng một lần, cha mẹ nuôi có trách nhiệm gửi cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em thường trú trước khi được nhận làm con nuôi và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cha mẹ nuôi thường trú báo cáo kèm theo ảnh về tình hình phát triển của trẻ em được nhận làm con nuôi.
2. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cha mẹ nuôi thường trú có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện việc nuôi con nuôi.
Điều 24. Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi
1. Kể từ thời điểm việc nuôi con nuôi được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình của cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật.
2. Theo thỏa thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi, con nuôi được thay đổi tên và thay đổi họ theo họ của cha mẹ nuôi hoặc vẫn giữ nguyên họ của mình.
3. Trường hợp con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi thì dân tộc của con nuôi được xác định theo dân tộc của cha, mẹ nuôi theo quy định của pháp luật.
4. Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em với cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ thời điểm việc nuôi con nuôi được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, giáo dục, đại diện theo pháp luật, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.
Điều 25. Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi
Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau:
1. Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện thoả thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có lý do chính đáng.
2. Cha mẹ nuôi và cha mẹ đẻ thỏa thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi, vì lợi ích tốt nhất của con nuôi; đối với con nuôi từ 09 tuổi trở lên, thì phải có ý kiến của con nuôi.
3. Cha mẹ nuôi gặp sự cố bất ngờ về sức khỏe, gia đình, xã hội, dẫn đến mất điều kiện và khả năng thực tế để bảo đảm việc nuôi con nuôi chưa thành niên.
4. Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi.
5. Cha, mẹ nuôi bị kết án mà chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Điều 26. Người có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
1. Cha mẹ nuôi.
2. Con nuôi đã thành niên.
3. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.
4. Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có căn cứ quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 25 của Luật này:
a) Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội các cấp;
b) Hội liên hiệp phụ nữ các cấp;
Điều 27. Cơ quan có thẩm quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi
Tòa án nhân dân có thẩm quyền quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 28. Hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi
1. Quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ thời điểm quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Toà án có hiệu lực pháp luật.
2. Con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình được Tòa án quyết định giao lại cho cha mẹ đẻ chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong trường hợp này, các quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa cha mẹ đẻ và con đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật này được phục hồi.
Trường hợp cha mẹ đẻ không có khả năng lao động, chăm sóc, nuôi dưỡng con, thì Tòa án quyết định giao người đó cho tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi, thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước đây.
Chương III:
NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Điều 29. Điều kiện đối với người nhận con nuôi
1. Người thường trú tại nước mà nước đó với Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi, nếu có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này và pháp luật của nước nơi người đó thường trú, có thể nhận trẻ em quy định tại Điều 30 của Luật này làm con nuôi.
2. Người thường trú ở nước ngoài, kể cả nước đó không là thành viên của điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với Việt Nam, nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 15 của Luật này và thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được nhận đích danh trẻ em làm con nuôi mà không phải thông qua Hội đồng tư vấn giới thiệu trẻ em làm con nuôi theo quy định tại Điều 41 của Luật này:
a) Người có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được nhận làm con nuôi;
b) Đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;
c) Bố dượng xin con riêng của vợ, mẹ kế xin con riêng của chồng làm con nuôi.
3. Người nhận con nuôi chỉ được nhận 01 trẻ em làm con nuôi hoặc hai trẻ em nếu là sinh đôi hoặc là anh, chị, em ruột.
Điều 30. Trẻ em được nhận làm con nuôi ở nước ngoài
1. Trẻ em được nhận làm con nuôi ở nước ngoài là trẻ em từ đủ 15 tuổi trở xuống sống tại gia đình hoặc cơ sở nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Trẻ em mồ côi;
b) Trẻ em bị bỏ rơi;
c) Trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo;
d) Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác được tiếp nhận vào cơ sở nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
2. Người trên 15 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu được bố dượng hoặc mẹ kế nhận làm con nuôi để đoàn tụ gia đình.
3. Một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của hai người là vợ chồng.
Điều 31. Yêu cầu dịch, hợp pháp hoá giấy tờ
1. Giấy tờ trong hồ sơ nhận con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc công chứng phải được hợp pháp hoá lãnh sự khi sử dụng tại Việt Nam, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
2. Giấy tờ trong hồ sơ nhận con nuôi bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 32. Yêu cầu về hồ sơ của người nhận con nuôi
1. Hồ sơ của người thường trú ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải có các giấy tờ sau:
a) Đơn xin nhận con nuôi theo mẫu quy định;
b) Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế Hộ chiếu;
c) Giấy phép do cơ quan có thẩm quyền của nước, nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, cho phép người đó nhận con nuôi Việt Nam;
d) Bản điều tra về tâm lý, gia đình, xã hội của người nhận con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước, nơi người nhận con nuôi thường trú cấp;
đ) Giấy xác nhận về tình trạng sức khoẻ do tổ chức y tế có thẩm quyền của nước, nơi người nhận con nuôi thường trú hoặc tổ chức y tế từ cấp tỉnh trở lên của Việt Nam cấp chưa quá 12 tháng, tính đến ngày Bộ Tư pháp nhận hồ sơ, xác nhận người đó có đủ sức khoẻ để bảo đảm việc nuôi con nuôi;
e) Giấy xác nhận về tình trạng tài sản, khả năng kinh tế, tình hình thu nhập, chỗ ở của người nhận con nuôi đủ bảo đảm việc nuôi con nuôi;
g) Phiếu lý lịch tư pháp của người nhận con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước, nơi người đó thường trú cấp chưa quá 12 tháng, tính đến ngày Bộ Tư pháp nhận hồ sơ, xác nhận người đó không có tiền án;
h) Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn của hai người nhận con nuôi là vợ chồng hoặc bản cam kết không có quan hệ hôn nhân với người cùng giới tính, nếu người nhận con nuôi là người độc thân.
2. Các giấy tờ nói tại khoản 1 Điều này được lập thành 02 bộ, được Cơ quan Trung ương về con nuôi của nước ngoài hữu quan xác nhận người đó có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo pháp luật nước đó.
Điều 33. Nộp hồ sơ, thời hạn giải quyết hồ sơ
1. Người thường trú ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải nộp hồ sơ cho Bộ Tư pháp thông qua tổ chức con nuôi của nước đó được phép hoạt động tại Việt Nam; trường hợp nhận đích danh trẻ em làm con nuôi thì nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ Tư pháp.
Khi nộp hồ sơ, người nhận con nuôi phải nộp phí giải quyết việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật.
2. Thời hạn giải quyết hồ sơ nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi là 120 ngày, kể từ ngày trẻ em được giới thiệu làm con nuôi đến khi tổ chức giao nhận con nuôi theo quy định tại Điều 41 và Điều 42 của Luật này; đối với trường hợp nhận đích danh trẻ em làm con nuôi thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ của người nhận con nuôi cho Sở Tư pháp.
Điều 34. Yêu cầu về hồ sơ của trẻ em
1. Hồ sơ của trẻ em gồm các giấy tờ sau:
a) Bản sao Giấy khai sinh của trẻ em;
b) Văn bản lấy ý kiến theo quy định tại Điều 20 của Luật này;
c) Giấy chứng nhận về sức khoẻ của trẻ em do cơ quan y tế cấp tỉnh trở lên cấp chưa quá 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ;
d) Hai ảnh của trẻ em chụp toàn thân, nhìn thẳng.
2. Ngoài các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp còn phải có giấy tờ tương ứng sau:
a) Đối với trẻ em sống tại gia đình, phải có bản chụp hộ khẩu; đối với trẻ em sống tại cơ sở nuôi dưỡng, phải có quyết định tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật;
b) Giấy tờ chứng minh việc đã thực hiện biện pháp tìm gia đình thay thế cho trẻ em theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật này;
c) Đối với trẻ em mồ côi, phải có bản sao giấy chứng tử của cha mẹ đẻ;
d) Đối với trẻ em bị bỏ rơi, phải có biên bản xác nhận về tình trạng trẻ em bị bỏ rơi theo quy định của pháp luật và văn bản xác minh của cơ quan Công an cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 36 của Luật này.
3. Hồ sơ của trẻ em được lập thành 03 bộ và nộp cho Sở Tư pháp.
Điều 35. Trách nhiệm lập hồ sơ của trẻ em
1. Đối với trẻ em đang sống tại gia đình, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ có trách nhiệm lập hồ sơ trẻ em theo quy định tại Điều 34 của Luật này.
2. Đối với trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng, sau khi hết thời hạn thông báo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 16 của Luật này mà không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm lập hồ sơ của trẻ em theo quy định tại Điều 34 của Luật này.
Điều 36. Trách nhiệm kiểm tra, xác minh hồ sơ của trẻ em
1. Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra, xác minh toàn bộ hồ sơ của trẻ em. Trường hợp cần bổ sung giấy tờ hoặc trong hồ sơ có vấn đề chưa rõ, Sở Tư pháp yêu cầu bổ sung hoặc giải trình.
2. Đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có nguồn gốc không rõ ràng hoặc có dấu hiệu mua bán trẻ em, Cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm điều tra, xác minh.
Điều 37. Bảo đảm trẻ em có đủ điều kiện để giới thiệu làm con nuôi
1. Sở Tư pháp có trách nhiệm bảo đảm trẻ em có đủ điều kiện được cho làm con nuôi.
2. Chỉ tiến hành giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài sau khi đã thẩm tra và xác minh trẻ em có đủ điều kiện để cho làm con nuôi theo quy định của pháp luật.
Điều 38. Thành lập Hội đồng tư vấn giới thiệu trẻ em làm con nuôi
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng tư vấn để giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài.
2. Hội đồng tư vấn do Giám đốc Sở Tư pháp là chủ tịch; các thành viên gồm đại diện Công an tỉnh, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Y tế và thành viên khác (nếu cần) theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Hội đồng tư vấn có trách nhiệm xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài trên cơ sở các tiêu chí, điều kiện quy định tại Luật này và hoạt động theo Quy chế do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.
Điều 39. Tiêu chí giới thiệu trẻ em làm con nuôi
1. Việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, có tính đến lợi ích của người nhận con nuôi trên cơ sở bảo đảm những yêu cầu cơ bản sau:
a) Nhu cầu, đặc điểm tâm lý, nguyện vọng chính đáng của trẻ em;
b) Khả năng hòa nhập và phát triển của trẻ em;
c) Điều kiện kinh tế, môi trường gia đình, xã hội và nguyện vọng của người nhận con nuôi.
2. Bộ Tư pháp ban hành các tiêu chí cụ thể để giới thiệu trẻ em làm con nuôi, nhưng không được trái với quy định tại Điều 4 của Luật này.
Điều 40. Trách nhiệm kiểm tra và chuyển hồ sơ của người nhận con nuôi
1. Bộ Tư pháp kiểm tra và chịu trách nhiệm về hồ sơ của người nhận con nuôi.
2. Nếu người nhận con nuôi thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này, Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho Sở Tư pháp, nơi thường trú của trẻ em được nhận làm con nuôi, để xem xét trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
Đối với các trường hợp khác, thì sau khi kết thúc thời hạn thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ em theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 16 của Luật này, nếu trẻ em không được người trong nước nhận làm con nuôi, Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ của người nhận con nuôi cho Sở Tư pháp để xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi.
Điều 41. Trình tự giới thiệu trẻ em làm con nuôi
1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của người nhận con nuôi, nếu xét thấy trẻ em có đủ điều kiện, Hội đồng tư vấn xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi trên cơ sở bảo đảm các tiêu chí quy định tại Điều 39 của Luật này, đồng thời gửi văn bản báo cáo kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi kèm theo 01 bộ hồ sơ đầy đủ của trẻ em theo quy định tại Điều 34 của Luật này cho Bộ Tư pháp.
2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi, Bộ Tư pháp làm báo cáo đánh giá theo mẫu quy định về trẻ em được giới thiệu làm con nuôi để thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hữu quan.
3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hữu quan thông báo về sự đồng ý của người nhận con nuôi đối với trẻ em được giới thiệu và xác nhận trẻ em sẽ được nhập cảnh và thường trú tại nước nhận, Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp biết để chuẩn bị hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
Điều 42. Quyết định cho nhận con nuôi và tổ chức giao nhận con nuôi
1. Sau khi nhận được thông báo của Bộ Tư pháp theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của Luật này, Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi.
2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của Sở Tư pháp trình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi và giao Sở Tư pháp tổ chức lễ giao nhận con nuôi.
3. Ngay sau khi có quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp thông báo cho người nhận con nuôi đến Việt Nam để nhận con nuôi. Người nhận con nuôi phải có mặt tại Việt Nam để trực tiếp nhận con nuôi.
4. Sở Tư pháp tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch và tổ chức lễ giao nhận con nuôi tại trụ sở Sở Tư pháp, với sự có mặt của các bên liên quan.
5. Sau khi hoàn tất việc giao nhận con nuôi, Sở Tư pháp có trách nhiệm gửi cho Bộ Tư pháp Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi, Biên bản giao nhận con nuôi và các giấy tờ liên quan khác để Bộ Tư pháp thực hiện việc theo dõi chung; đồng thời gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của trẻ em để ghi chú việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật.
6. Bộ Tư pháp thông báo cho Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về việc trẻ em được nhận làm con nuôi để thực hiện biện pháp bảo hộ trẻ em trong trường hợp cần thiết.
Điều 43. Chứng nhận việc nuôi con nuôi
Bộ Tư pháp chứng nhận việc nuôi con nuôi đã được giải quyết theo đúng quy định của Luật này và điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi mà Việt Nam là thành viên để gửi cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, nếu có yêu cầu.
Điều 44. Trách nhiệm báo cáo tình hình phát triển của con nuôi
Trong ba năm đầu tiên, định kỳ sáu tháng một lần, cha mẹ nuôi có trách nhiệm gửi báo cáo (kèm theo ảnh) cho Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về tình hình phát triển của trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi và thông qua tổ chức con nuôi nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam, gửi báo cáo này cho Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp, nơi giải quyết việc nuôi con nuôi.
Điều 45. Công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi
1. Công dân Việt Nam muốn nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi thì phải có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này và pháp luật của nước nơi trẻ em có quốc tịch.
2. Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, Sở Tư pháp tiến hành kiểm tra, xác minh các điều kiện về hoàn cảnh gia đình và xã hội, khả năng kinh tế, sức khoẻ và các điều kiện khác của người nhận con nuôi; Bộ Tư pháp cấp giấy xác nhận người nhận con nuôi có đủ điều kiện để nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam.
3. Sau khi nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi, công dân Việt Nam có trách nhiệm làm thủ tục ghi chú việc nuôi con nuôi tại Sở Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú, theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
Điều 46. Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam nhận con nuôi
1. Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam muốn nhận trẻ em Việt Nam hoặc trẻ em nước ngoài thường tại Việt Nam làm con nuôi thì phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này.
2. Hồ sơ của người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi được lập theo đúng quy định tại Điều 21 của Luật này và nộp cho Sở Tư pháp nơi thường trú của người nhận con nuôi.
3. Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và xác minh các điều kiện nuôi con nuôi; nếu người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật này, thì báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho nhận con nuôi.
4. Thủ tục ra quyết định và tổ chức giao nhận con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 42 của Luật này.
Điều 47. Đăng ký việc nuôi con nuôi tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đăng ký việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
Điều 48. Nuôi con nuôi ở khu vực biên giới
Căn cứ vào các quy định của Luật này và tình hình thực tế, Chính phủ hướng dẫn giải quyết việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với công dân của nước láng giềng cùng thường trú ở khu vực biên giới.
Điều 49. Hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam
1. Tổ chức con nuôi của nước mà nước đó là thành viên của điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với Việt Nam, nếu có đủ điều kiện, có thể được cấp phép hoạt động tại Việt Nam nhằm hỗ trợ người nhận con nuôi hoàn tất các thủ tục nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.
2. Để được cấp phép hoạt động tại Việt Nam, tổ chức con nuôi nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Được Cơ quan Trung ương của nước nơi thành lập cho phép hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi tại Việt Nam;
b) Có thời gian hoạt động trong lĩnh vực con nuôi quốc tế liên tục từ 03 liền năm trở lên, không vi phạm pháp luật tại nơi hoạt động trong suốt thời gian đó và được cơ quan có thẩm quyền của nước đó xác nhận.
c) Người đại diện của tổ chức tại Việt Nam phải là người có đủ điều kiện về đạo đức, chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực nuôi con nuôi.
3. Chính phủ quy định về thủ tục cấp, gia hạn, sửa đổi, thu hồi giấy phép, quyền và nghĩa vụ của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam.
Chương IV:
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚCVỀ NUÔI CON NUÔI
Điều 50. Trách nhiệm của Chính phủ
1. Thống nhất quản lý nhà nước về nuôi con nuôi.
2. Ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về nuôi con nuôi.
3. Chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với các bộ, ngành chức năng thực hiện tốt các cam kết quốc tế về nuôi con nuôi trên tinh thần hợp tác, hữu nghị, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Điều 51. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp
Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện quản lý thống nhất về nuôi con nuôi trong phạm vi cả nước, có trách nhiệm:
1. Soạn thảo, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về nuôi con nuôi;
2. Đề xuất đàm phán, ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế về nuôi con nuôi;
3. Chỉ đạo, hướng dẫn Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thi hành pháp luật về nuôi con nuôi; phổ biến, giáo dục pháp luật về nuôi con nuôi;
4. Ban hành và tổ chức thực hiện thống nhất các biểu mẫu giấy tờ, sổ sách về nuôi con nuôi trong phạm vi toàn quốc; xây dựng Quy chế mẫu về hoạt động của Hội đồng tư vấn giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài;
5. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi và giải quyết khiếu nại, tố cáo về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật;
6. Thống kê, theo dõi, quản lý về nuôi con nuôi trong phạm vi toàn quốc và định kỳ hàng năm báo cáo Chính phủ về tình hình thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi.
Điều 52. Trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, có trách nhiệm:
1. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng bảo đảm đúng đối tượng, quy trình, thủ tục chặt chẽ theo quy định của pháp luật; có biện pháp ngăn ngừa và xử lý việc chuyển trẻ em từ cơ sở nuôi dưỡng của địa phương này đến cơ sở nuôi dưỡng của địa phương khác để cho làm con nuôi;
2. Chỉ đạo, hướng dẫn ngành lao động, thương binh và xã hội trong công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em; thực hiện các biện pháp tìm gia đình thay thế cho trẻ em không được sống trong môi trường gia đình; phối hợp thực hiện việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi theo quy định của Luật này.
Điều 53. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao
Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi; có trách nhiệm chỉ đạo Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc thi hành pháp luật về nuôi con nuôi; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ nuôi con nuôi phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Điều 54. Trách nhiệm của Bộ Công an
Bộ Công an phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi; chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý các hành vi phạm tội và các vi phạm pháp luật khác về an ninh, trật tự trong lĩnh vực nuôi con nuôi; hướng dẫn Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác minh nguồn gốc của trẻ em được cho làm con nuôi trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật.
Điều 55. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi tại địa phương mình, có trách nhiệm:
a) Quyết định cho nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này;
b) Phổ biến, giáo dục pháp luật về nuôi con nuôi trong địa bàn tỉnh;
c) Thống kê, báo cáo định kỳ 06 tháng và hàng năm cho Bộ Tư pháp về tình hình đăng ký việc nuôi con nuôi và thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại địa phương mình;
d) Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi trên địa bàn tỉnh; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi.
2. Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi tại địa phương; thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Luật này.
Điều 56. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã
1. Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý về nuôi con nuôi trong địa bàn huyện; giải quyết các việc hộ tịch liên quan đến nuôi con nuôi và thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về nuôi con nuôi trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý về nuôi con nuôi tại địa phương, có trách nhiệm:
a) Đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước theo quy định của Luật này;
b) Kiểm tra, theo dõi tình hình nuôi con nuôi tại địa phương; phổ biến, giáo dục pháp luật về nuôi con nuôi tại địa phương;
c) Thực hiện thống kê, báo cáo về tình hình đăng ký nuôi con nuôi và thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại địa phương theo quy định của pháp luật.
Chương V:
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 57. Điều khoản chuyển tiếp
Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày Luật này có hiệu lực mà quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi đã phát sinh trên thực tế, nhưng chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
Chính phủ quy định thủ tục đăng ký đối với việc nuôi con nuôi quy định tại Điều này, bảo đảm thuận lợi và phù hợp với điều kiện thực tế của nhân dân ở các vùng, miền.
Điều 58. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các luật, bộ luật
1. Bỏ cụm từ “nuôi con nuôi” tại khoản 1 và khoản 2 Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10.
2. Bổ sung khoản 2 vào Điều 109 của Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10 như sau:
“Điều 109. Hiệu lực thi hành
2. Các việc về nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định của Luật nuôi con nuôi”.
3. Bãi bỏ khoản 3 Điều 61, Chương VIII từ Điều 67 đến Điều 78 và Điều 105 của Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10.
Điều 59. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày tháng năm
2. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
_______________________________________________________________________
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ thông qua ngày tháng năm