Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, bảo vệ, hỗ trợ, xử lý vi phạm trong phòng, chống bạo lực gia đình; điều kiện bảo đảm phòng, chống bạo lực gia đình; quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:
1. Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.
2. Cấm tiếp xúc là biện pháp cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần người bị bạo lực gia đình hoặc sử dụng phương tiện, công cụ để thực hiện hành vi bạo lực gia đình.
3. Nơi tạm lánh là địa điểm để bảo đảm an toàn cho người bị bạo lực gia đình trước hành vi bạo lực gia đình.
Điều 3. Hành vi bạo lực gia đình
1. Hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;
b) Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cưỡng ép chứng kiến cảnh bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý;
d) Bỏ mặc, không quan tâm, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục thành viên gia đình là trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ, người cao tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh không có khả năng tự chăm sóc;
đ) Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới tính, năng lực của thành viên gia đình;
e) Ngăn cản thành viên gia đình ra khỏi nhà, gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc các hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý;
g) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
h) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
i) Cưỡng ép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của vợ hoặc chồng;
k) Cưỡng ép nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung, trình diễn hành vi khiêu dâm, kích thích bạo lực;
l) Cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở kết hôn, ly hôn hợp pháp;
m) Cưỡng ép mang thai, phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi;
n) Chiếm đoạt, huỷ hoại tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của gia đình;
o) Cưỡng ép thành viên gia đình học tập, lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
p) Cô lập, giam cầm hoặc cưỡng ép thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp trái pháp luật.
2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với người đã ly hôn; người chung sống với nhau như vợ chồng; người là cha, mẹ, con riêng, anh, chị em của người đã ly hôn , của người chung sống với nhau như vợ chồng; người đã từng có quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi.
3. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này.
Điều 4. Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình
1. Phòng ngừa là chính, lấy người bị bạo lực gia đình là trung tâm, thực hiện bình đẳng giới.
2. Tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có liên quan; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị bạo lực gia đình là trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ, người cao tuổi, người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo.
3. Chú trọng hoạt động tuyên truyền, giáo dục, tư vấn, hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình.
4. Hành vi vi phạm pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình phải được phát hiện, ngăn chặn, kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Trường hợp vụ việc bạo lực gia đình có trẻ em thì trong quá trình xử lý phải có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc người được giao làm công tác bảo vệ trẻ em.
5. Bảo đảm trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và người đứng đầu; phối hợp liên ngành trong phòng, chống bạo lực gia đình.
6. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng.
7. Thực hiện trách nhiệm nêu gương trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang.
Điều 5. Những hành vi bị nghiêm cấm
1. Các hành vi bạo lực gia đình quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật này.
2. Kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, cưỡng ép người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.
3. Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình.
4. Trả thù, đe dọa trả thù người giúp đỡ người bị bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.
5. Cản trở việc phát hiện, báo tin và xử lý hành vi bạo lực gia đình.
6. Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để thực hiện hành vi trái pháp luật.
7. Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình.
Điều 6. Chính sách của Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Nhà nước bố trí ngân sách để thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống bạo lực gia đình; ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
2. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất, tài trợ, hỗ trợ cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình; hợp tác quốc tế trong phòng, chống bạo lực gia đình. Khuyến khích phát triển các mô hình tư vấn xây dựng gia đình hạnh phúc, phòng ngừa bạo lực gia đình và hỗ trợ người bị bạo lực gia đình; phát triển mạng lưới cộng tác viên dân số tham gia công tác gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình ở cộng đồng.
3. Khuyến khích sáng tác văn học, nghệ thuật về phòng, chống bạo lực gia đình; ứng dụng khoa học, công nghệ, thông tin trong phòng, chống bạo lực gia đình.
4. Biểu dương, khen thưởng, hỗ trợ cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống bạo lực gia đình. Người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình nếu bị thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản thì được hưởng chế độ theo quy định của pháp luật.
5. Hỗ trợ việc bồi dưỡng nâng cao năng lực người làm công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 7. Tháng hành động phòng, chống bạo lực gia đình
1. Tháng hành động phòng, chống bạo lực gia đình được tổ chức vào tháng 6 hằng năm để thúc đẩy hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình và tôn vinh giá trị gia đình.
2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức liên quan để chỉ đạo, tổ chức và hướng dẫn thực hiện Tháng hành động phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 8. Hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, phù hợp với pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.
2. Nội dung hợp tác quốc tế bao gồm:
a) Tham gia tổ chức quốc tế; ký kết, thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình;
b) Xây dựng và thực hiện chương trình, dự án, hoạt động về phòng, chống bạo lực gia đình;
c) Trao đổi thông tin và kinh nghiệm về phòng, chống bạo lực gia đình;
d) Thực hiện nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực về phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 9. Quyền và trách nhiệm của người bị bạo lực gia đình
1. Người bị bạo lực gia đình có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác có liên quan đến vụ việc bạo lực gia đình;
b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;
c) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;
d) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý và dịch vụ trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật;
đ) Yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình bồi thường thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm;
e) Được thông tin về quyền và nghĩa vụ liên quan khi giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình, xử lý vụ việc bạo lực gia đình;
g) Khiếu nại, tố cáo về phòng, chống bạo lực gia đình;
h) Các quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Người bị bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người bị bạo lực gia đình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin liên quan đến vụ việc bạo lực gia đình khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.
Điều 10. Trách nhiệm của người có hành vi bạo lực gia đình
1. Chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình.
2. Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi áp dụng biện pháp phòng ngừa, bảo vệ, hỗ trợ và xử lý vi phạm trong phòng, chống bạo lực gia đình.
3. Kịp thời đưa người bị bạo lực gia đình đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc người bị bạo lực gia đình trừ trường hợp người bị bạo lực gia đình từ chối.
4. Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do mình gây ra cho người bị bạo lực gia đình và người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 11. Trách nhiệm của thành viên gia đình về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới .
2. Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt ngay hành vi bạo lực; chăm sóc người bị bạo lực gia đình.
3. Phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình.
4. Thực hiện các biện pháp về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật này.
Điều 12. Quyền và trách nhiệm của cá nhân trong phòng, chống bạo lực gia đình
1. Trường hợp bị tổn hại sức khỏe, thiệt hại về tài sản khi tham gia phòng, chống bạo lực gia đình thì được Nhà nước hỗ trợ theo quy định pháp luật.
2. Cá nhân khi phát hiện vụ việc bạo lực gia đình có trách nhiệm sau đây:
a) Báo tin ngay cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật này;
b) Tham gia bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình và các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình ở cộng đồng.
Chương II
PHÒNG NGỪA BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Điều 13. Mục đích, yêu cầu trong thông tin, truyền thông, giáo dục
1. Thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống bạo lực gia đình nhằm nâng cao nhận thức, định hướng hành vi ứng xử, góp phần xoá bỏ bạo lực gia đình.
2. Việc thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống bạo lực gia đình phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Thường xuyên, chính xác, rõ ràng, đơn giản, thiết thực;
b) Phù hợp với từng đối tượng, trình độ, lứa tuổi, giới tính, truyền thống, văn hóa, dân tộc, tôn giáo, địa bàn; chú trọng đến phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo, người sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người thường xuyên kỳ thị, phân biệt đối xử về giới, định kiến giới, kỳ thị, phân biệt đối xử khác, có hành vi cổ xúy cho bạo lực;
c) Bảo đảm bình đẳng giới, không làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị bạo lực gia đình và các thành viên khác trong gia đình;
d) Ngôn ngữ, hình ảnh sử dụng trong thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống bạo lực gia đình phải phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể; hình ảnh , thông tin phải bảo đảm an toàn, bí mật đời tư khi sử dụng để làm tư liệu thông tin, truyền thông, giáo dục.
Điều 14. Nội dung thông tin, truyền thông, giáo dục
1. Chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Quyền con người, bình đẳng giới trong gia đình.
3. Truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt Nam, gương người tốt, việc tốt trong xây dựng gia đình hạnh phúc, phòng, chống bạo lực gia đình.
4. Kiến thức về hôn nhân và gia đình; kỹ năng ứng xử trong gia đình, phòng ngừa, ngăn chặn, bảo vệ, hỗ trợ, xử lý bạo lực gia đình.
5. Kinh nghiệm phòng, chống bạo lực gia đình trong nước và quốc tế.
6. Nội dung khác liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 15. Hình thức thông tin, truyền thông, giáo dục
1. Hội nghị, hội thảo, tập huấn, nói chuyện chuyên đề.
2. Phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội.
3. Lồng ghép trong chương trình và hoạt động tại cơ sở giáo dục.
4. Chiến dịch truyền thông.
5. Hoạt động văn học, nghệ thuật, thể thao; sinh hoạt đoàn thể, cộng đồng dân cư, mô hình phòng, chống bạo lực gia đình.
6. Hình thức khác phù hợp với quy định pháp luật.
Điều 16. Tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Nội dung tư vấn gồm:
a) Cung cấp thông tin, kiến thức, pháp luật về hôn nhân và gia đình; phòng, chống bạo lực gia đình, giới, bình đẳng giới trong gia đình; quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bạo lực gia đình, thành viên gia đình;
b) Kỹ năng ứng xử trong gia đình, tổ chức đời sống gia đình, xây dựng gia đình hạnh phúc; các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình; kỹ năng chăm sóc người bị bạo lực gia đình.
2. Việc tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình tập trung vào các đối tượng sau đây:
a) Người bị bạo lực gia đình;
b) Người có hành vi bạo lực gia đình; ;
c) Người có nguy cơ bị bạo lực gia đình là phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo; người sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
d) Người thường xuyên kỳ thị, phân biệt đối xử về giới, định kiến giới, kỳ thị, phân biệt đối xử khác, có hành vi cổ xúy cho bạo lực;
đ) Người chuẩn bị kết hôn.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì, phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ cùng cấp và tổ chức, cá nhân khác hướng dẫn, tạo điều kiện cho hoạt động tư vấn; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về phòng, chống bạo lực gia đình cho người thực hiện tư vấn phòng, chống bạo lực gia đình ở cộng đồng.
Điều 17. Hòa giải trong phòng ngừa bạo lực gia đình
1. Hòa giải trong phòng ngừa bạo lực gia đình là việc người tiến hành hòa giải hướng dẫn các bên tự nguyện giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp để không làm phát sinh bạo lực gia đình.
Hòa giải trong phòng ngừa bạo lực gia đình không thay thế biện pháp xử lý người có hành vi bạo lực gia đình.
2. Việc hòa giải trong phòng ngừa bạo lực gia đình phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Chủ động, kịp thời, kiên trì;
b) Tôn trọng sự tự nguyện của các bên và bảo đảm an toàn của người bị bạo lực gia đình;
c) Phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam;
d) Khách quan, bình đẳng, công minh, có lý, có tình và đúng theo quy định của pháp luật;
đ) Bảo đảm bí mật thông tin về nhân thân của các bên tham gia;
e) Tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
Điều 18. Tiến hành hòa giải trong phòng ngừa bạo lực gia đình
1. Thành viên gia đình, dòng họ có trách nhiệm hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp, vụ việc bạo lực gia đình nhằm ngăn ngừa bạo lực gia đình phát sinh hoặc tái diễn; trường hợp cần thiết mời chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân cư, người thân của chủ thể có mâu thuẫn, tranh chấp, người trong cơ quan, tổ chức tham gia.
2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp, vụ việc bạo lực gia đình giữa người thuộc cơ quan, tổ chức với thành viên gia đình của họ khi có yêu cầu của thành viên gia đình; trường hợp cần thiết thì phối hợp với cơ quan, tổ chức ở địa phương để thực hiện hòa giải.
3. Tổ hòa giải ở cơ sở có trách nhiệm hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp, vụ việc bạo lực gia đình và các vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở.
4. Khuyến khích người được đào tạo về công tác xã hội, tâm lý học;người có kinh nghiệm trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình tham gia hòa giải.
5. Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức, cá nhân khác hướng dẫn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về phòng, chống bạo lực gia đình cho hòa giải viên của Tổ hòa giải ở cơ sở.
Chương III
BẢO VỆ, HỖ TRỢ, XỬ LÝ VI PHẠM TRONG
PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Mục 1
BÁO TIN VÀ XỬ LÝ TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Điều 19. Báo tin, tố giác về bạo lực gia đình
1. Địa chỉ tiếp nhận tin báo, tố giác về bạo lực gia đình bao gồm:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình;
b) Cơ quan Công an, Đồn Biên phòng gần nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình;
c) Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình;
d) Người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình;
đ)Đường dây quốc gia phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Việc báo tin, tố giác bạo lực gia đình đến địa chỉ quy định tại khoản 1 Điều này có thể thực hiện theo các hình thức sau đây:
a) Gọi điện, nhắn tin;
b) Gửi đơn, thư;
c) Trực tiếp báo tin.
3. Chính phủ quy định về đường dây quốc gia phòng, chống bạo lực gia đình để tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác nguy cơ, hành vi bạo lực gia đình và quy trình tiếp nhận và xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi bạo lực gia đình.
Điều 20. Xử lý tin báo, tố giác vụ việc bạo lực gia đình
1. Cơ quan Công an, Đồn Biên phòng gần nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình khi nhận tin báo, tố giác về vụ việc bạo lực gia đình thì trong phạm vi quyền hạn của mình phải kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi bạo lực gia đình theo thẩm quyền đồng thời báo cáo cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình.
2. Người quy định tại điểm c và d khoản 1 Điều 19 Luật này khi nhận tin báo, tố giác về vụ việc bạo lực gia đình phải báo ngay cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình và theo khả năng của mình tham gia ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xử lý hoặc phân công xử lý vụ việc bạo lực gia đình ngay khi tiếp nhận tin báo, tố giác về bạo lực gia đình hoặc nhận được báo cáo về vụ việc bạo lực gia đình của tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Trường hợp tin báo, tố giác về bạo lực gia đình mà người bị bạo lực là trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ hoặc các vụ việc bạo lực gia đình có khả năng gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của người bị bạo lực thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải phân công công an cấp xã xử lý.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật này khi biết tin vụ việc bạo lực gia đình có trách nhiệm chuyển tin báo đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình.
5. Trường hợp tin báo, tố giác về tội phạm thì việc tiếp nhận tin báo, tố giác được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 21. Sử dụng âm thanh, hình ảnh về vụ việc bạo lực gia đình
1. Người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, người chứng kiến hành vi bạo lực gia đình có quyền cung cấp cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền âm thanh, hình ảnh làm căn cứ, tài liệu xử lý người có hành vi bạo lực gia đình.
2. Việc sử dụng âm thanh, hình ảnh về vụ việc bạo lực gia đình trong quá trình giải quyết vụ việc bạo lực gia đình và đăng tải trên các mạng xã hội, phương tiện thông tin đại chúng phải được sự đồng ý của người bị bạo lực gia đình hoặc người giám hộ, người đại diện theo pháp luậttrừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Mục 2
NGĂN CHẶN, BẢO VỆ, HỖ TRỢ NGƯỜI BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH, NGƯỜI THAM GIA PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Điều 22. Biện pháp ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình
1. Biện pháp ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình bao gồm:
a) Buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình;
b) Yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình đến trụ sở Công an cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình;
c) Cấm tiếp xúc;
d) Hỗ trợ nhu cầu thiết yếu;
đ) Chăm sóc người bị bạo lực gia đình;
e) Tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý và kỹ năng để ứng phó với bạo lực gia đình;
g) Giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi bạo lực gia đình;
h) Góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư đối với người có hành vi bạo lực gia đình;
i) Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng.
2. Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ người bị hại theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình.
3. Chính phủ quy định chi tiết việc áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam.
Điều 23. Buộc chấm dứt hành vi bạo lực gia đình
1. Người có thẩm quyền xử lý vụ việc bạo lực gia đình được áp dụng ngay các biện pháp cần thiết để chấm dứt hành vi bạo lực gia đình.
2. Người có mặt tại nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình theo khả năng của mình và tính chất của hành vi bạo lực gia đình có trách nhiệm yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình.
Điều 24. Yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình đến trụ sở Công an cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình
1. Khi được phân công giải quyết vụ việc bạo lực gia đình, công an cấp xã có quyền yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình đến trụ sở Công an cấp xã nơi xảy ra vụ việc để làm rõ thông tin, giải quyết vụ việc hoặc xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp người có hành vi bạo lực gia đình không đến thì công an cấp xã có trách nhiệm đưa người được yêu cầu đến trụ sở.
2. Thời gian yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình đến trụ sở Công an cấp xã không quá 6 giờ cho mỗi lần yêu cầu tính từ thời gian người được yêu cầu đến trụ sở Công an cấp xã.
Điều 25. Cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc mỗi lần không quá 3 ngày khi có đủ các điều kiện sau:
a) Hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại đến sức khỏe của người bị bạo lực gia đình;
b) Có đề nghị của người bị bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người bị bạo lực gia đình hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được sự đồng ý của người bị bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc khi có căn cứ hành vi bạo lực gia đình đe dọa tính mạng của người bị bạo lực gia đình trừ trường hợp người bị bạo lực gia đình từ chối.
3. Trong thời gian không quá 12 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu theo quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều này, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc; trường hợp không ra quyết định thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cơ quan, tổ chức, người yêu cầu biết.
Trường hợp người bị bạo lực gia đình là trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi thì trong thời gian không quá 6 giờ phải ra quyết định cấm tiếp xúc.
Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký và được gửi cho người có hành vi bạo lực gia đình, người bị bạo lực gia đình, Trưởng công an cấp xã, công an quản lý khu vực và Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố nơi cư trú của người bị bạo lực gia đình.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định cấm tiếp xúc là người thực hiện hủy bỏ quyết định đó khi có yêu cầu của người đề nghị ra quyết định cấm tiếp xúc quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều này.
5. Khi áp dụng quyết định cấm tiếp xúc, người bị bạo lực gia đình được quyền lựa chọn chỗ ở trong thời gian cấm tiếp xúc.
6. Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc bị áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính để ngăn chặn bạo lực gia đình. Khuyến khích việc ứng dụng công nghệ để hỗ trợ thực hiện biện pháp cấm tiếp xúc.
7. Trong trường hợp gia đình có đám cưới, đám tang hoặc các trường hợp đặc biệt khác, người có hành vi bạo lực gia đình và người bị bạo lực gia đình tiếp xúc với nhau thì người có hành vi bạo lực gia đình phải thông báo với người được phân công giám sát việc thực hiện cấm tiếp xúc và cam kết không để xảy ra bạo lực gia đình.
8. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 26. Cấm tiếp xúc theo quyết định của Tòa án
1. Tòa án nhân dân đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa người bị bạo lực gia đình và người có hành vi bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 4 tháng khi có đủ các điều kiện sau:
a) Có đơn yêu cầu của người bị bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của người bị bạo lực gia đình;
b) Hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe dọa tính mạng của người bị bạo lực gia đình.
2. Tòa án nhân dân đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa người bị bạo lực gia đình và người có hành vi bạo lực gia đình tự mình ra quyết định cấm tiếp xúc khi xét thấy cần thiết để bảo vệ tính mạng của người bị bạo lực gia đình, trừ trường hợp người bị bạo lực gia đình từ chối.
3. Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký và được gửi cho người có hành vi bạo lực gia đình, người bị bạo lực gia đình, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Trưởng công an cấp xã, người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của người bị bạo lực gia đình và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
4. Tòa án ra quyết định cấm tiếp xúc theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này hủy bỏ quyết định cấm tiếp xúc khi có đơn yêu cầu của người đề nghị ra quyết định cấm tiếp xúc quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
5. Trong trường hợp gia đình có việc tang lễ, cưới hỏi hoặc các trường hợp đặc biệt khác mà người có hành vi bạo lực gia đình và người bị bạo lực gia đình phải tiếp xúc với nhau thì người có hành vi bạo lực gia đình phải thông báo người được phân công giám sát việc thực hiện cấm tiếp xúc và cam kết không để xảy ra bạo lực gia đình.
6. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp cấm tiếp xúc quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự về các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều 27. Giám sát việc thực hiện cấm tiếp xúc
1. Khi nhận được quyết định cấm tiếp xúc, Công an cấp xã tổ chức phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố và tổ chức có liên quan ở cơ sở để kiểm tra việc thực hiện quyết định cấm tiếp xúc.
2. Người được phân công giám sát có nhiệm vụ theo dõi việc thực hiện quyết định cấm tiếp xúc. Khi phát hiện người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc, người được phân công giám sát có quyền yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình thực hiện nghiêm quy định cấm tiếp xúc; trường hợp cố tình vi phạm thì báo cho Trưởng Công an cấp xã xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp người có hành vi bạo lực gia đình được tiếp xúc với người bị bạo lực gia đình theo quy định tại khoản 7 Điều 25 và khoản 5 Điều 26 của Luật này thì các thành viên gia đình có trách nhiệm giám sát để bảo đảm không xảy ra bạo lực gia đình.
Điều 28. Hỗ trợ nhu cầu thiết yếu
1. Người bị bạo lực gia đình được bố trí chỗ ở tạm thời do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định hoặc do cơ quan, tổ chức, cá nhân tự nguyện hỗ trợ.
2. Người bị bạo lực gia đình được trợ giúp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về trợ giúp xã hội.
Điều 29. Chăm sóc, điều trị người bị bạo lực gia đình
1. Chăm sóc, điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
a) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tiếp nhận, sàng lọc, phân loại, chăm sóc, điều trị người bệnh là người bị bạo lực gia đình;
b) Cung cấp bằng chứng xác nhận tình trạng thương tật theo đề nghị của người bệnh là người bị bạo lực gia đình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Nhân viên y tế khi thực hiện nhiệm vụ của mình nếu phát hiện người bệnh có dấu hiệu bị bạo lực gia đình thì báo cáo ngay cho người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2. Cơ sở trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình quy định tại các điểm a, c, đ và e khoản 2 Điều 35 Luật này căn cứ chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm chăm sóc người bị bạo lực gia đình.
3. Người đứng đầu cơ sở tham gia trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình có trách nhiệm thông báo cho công an cấp xã nơi đặt cơ sở về trường hợp người được chăm sóc, điều trị có dấu hiệu bị bạo lực gia đìnhđể bảo vệ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 30. Tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý và kỹ năng để ứng phó với bạo lực gia đình
1. Tư vấn, trợ giúp pháp lý cho người bị bạo lực gia đình
a) Người bị bạo lực gia đình được hỗ trợ dịch vụ tư vấn, trợ giúp pháp lý tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;
b) Người bị bạo lực gia đình sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý tại các cơ sở tư vấn ngoài công lập thực hiện theo chế độ dịch vụ của cơ sở tư vấn ngoài công lập.
2. Tư vấn cung cấp kỹ năng ứng phó với bạo lực gia đình
a) Người bị bạo lực gia đình được cung cấp dịch vụ tư vấn kỹ năng ứng phó với bạo lực gia đình;
b) Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí cho người bị bạo lực gia đình.
Điều 31. Giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi bạo lực gia đình
1. Giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi bạo lực gia đình là quá trình giáo dục, cung cấp kiến thức, kỹ năng ứng xử, kiềm chế, kiểm soát hành vi giải quyết mâu thuẫn giúp người có hành vi bạo lực gia đình chuyển đổi hành vi.
2. Hình thức giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Nghiên cứu, học tập tài liệu do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp về giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi bạo lực gia đình;
b) Tham gia dịch vụ giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi bạo lực gia đình do cơ sở phòng, chống bạo lực gia đình cung cấp.
3. Nội dung giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và biện pháp xử lý người có hành vi bạo lực gia đình;
b) Nhận diện các hành vi bạo lực gia đình và trách nhiệm của người có hành vi bạo lực gia đình;
c) Kỹ năng ứng xử, phòng ngừa, xử lý các mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình;
d) Kiến thức và kỹ năng kiểm soát hành vi bạo lực gia đình; giải toả áp lực, căng thẳng;
đ) Các nội dung khác.
4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định và tổ chức thực hiện việc giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi bạo lực gia đình đối với người có hành vi bạo lực gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 32. Góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư đối với người có hành vi bạo lực gia đình
1. Biện pháp góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư đối với người có hành vi bạo lực gia đình được thực hiện đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên trong các trường hợp sau đây:
a) Có hành vi bạo lực gia đình 02 lần trở lên trong thời gian 12 tháng mà chưa bị xử lý vi phạm hành chính;
b) Có hành vi bạo lực gia đình bị xử phạt hành chính.
2. Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố chủ trì tổ chức việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư. Thành phần tham gia góp ý, phê bình bao gồm:
a) Người có hành vi bạo lực gia đình;
b) Đại diện gia đình;
c) Đại diện công an cấp xã;
d) Đại diện tổ chức chính trị - xã hội cấp xã mà người có hành vi bạo lực gia đình hoặc người bị bạo lực gia đình là thành viên;
đ) Thành phần khác do Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố mời.
3. Nội dung góp ý, phê bình bao gồm:
a) Góp ý, phê bình người có hành vi bạo lực gia đình;
b) Cung cấp các quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình;
c) Yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình cam kết không tái diễn hành vi bạo lực gia đình.
4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình quyết định và tổ chức thực hiện biện pháp góp ý, phê bình người có hành vi bạo lực gia đình trong cộng đồng dân cư trên cơ sở đề xuất của người được phân công xử lý vụ việc bạo lực gia đình.
5. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổ chức việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư đối với người có hành vi bạo lực gia đình. Trường hợp người có hành vi bạo lực gia đình cố ý vắng mặt thì công an cấp xã có trách nhiệm đưa người có hành vi bạo lực gia đình đến địa điểm tổ chức góp ý, phê bình .
Điều 33. Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng
1. Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng không phải là biện pháp xử lý vi phạm hành chính, được áp dụng với người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trừ phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, đã bị áp dụng biện pháp góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư mà tiếp tục có hành vi bạo lực gia đình mà chưa tới mức bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Các công việc phục vụ cộng đồng:
a) Tham gia trồng, chăm sóc cây xanh ở khu vực công cộng; sửa chữa, làm sạch đường làng, ngõ xóm, đường phố, ngõ phố, nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng hoặc các công trình công cộng khác;
b) Tham gia các công việc khác cải thiện môi trường sống và cảnh quan của cộng đồng;
c) Danh mục công việc quy định tại khoản này do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã công nhận trên cơ sở thảo luận, đề xuất của cộng đồng.
3. Thời gian thực hiện công việc phục vụ cộng đồng mỗi lần không quá 20 giờ và không quá 4 giờ mỗi ngày.
4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình quyết định và tổ chức thực hiện biện pháp thực hiện công việc phục vụ cộng đồng theo đề nghị của người được phân công xử lý vụ việc bạo lực gia đình và theo nhu cầu của cộng đồng.
5. Chính phủ quy định chi tiết khoản 4 Điều này.
Điều 34. Bảo vệ, hỗ trợ người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình và người báo tin, tố giác vụ việc bạo lực gia đình
1. Người tham gia phòng, chống bạo lực gia đìnhkhông phải bồi thường thiệt hại về tài sản liên quan đến người có hành vi bạo lực gia đình trong trường hợp đe dọa tính mạng của người bị bạo lực gia đình.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức các biện pháp bảo vệ người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, người báo tin, tố giác vụ việc bạo lực gia đình.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận được tin báo, tố giác hành vi bạo lực gia đình có trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin cá nhân của người báo tin, tố giác.
4.Người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình bị thiệt hại về tài sản và sức khỏe mà không có lỗi của tổ chức, cá nhân khác thì nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.
Mục 3
CƠ SỞ TRỢ GIÚP PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Điều 35. Cơ sở trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình
1. Cơ sở trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình là nơi thực hiện việc chăm sóc, tư vấn, tạm lánh, hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho người bị bạo lực gia đình hoặc giáo dục, hỗ trợ kiểm soát hành vi bạo lực gia đình.
2. Cơ sở tham gia trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm:
a) Địa chỉ tin cậy;
b) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Cơ sở trợ giúp xã hội;
d) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;
đ) Cơ sở khác tham gia trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình.
e) Cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 36. Địa chỉ tin cậy
1. Địa chỉ tin cậy là tổ chức, cá nhân có uy tín, khả năng và tự nguyện giúp đỡ người bị bạo lực gia đình.
2. Tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này thông báo với Ủy ban nhân dân cấp xã về việc nhận làm địa chỉ tin cậy. Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách và công bố địa chỉ tin cậy trong địa bàn quản lý; có trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức tập huấn về phòng, chống bạo lực gia đình.
3. Địa chỉ tin cậy thông báo cho Uỷ ban nhân dân cấp xã khi tiếp nhận người bị bạo lực gia đình. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm bảo vệ và hỗ trợ kinh phí cho địa chỉ tin cậy để thực hiện việc trợ giúp theo quy định của pháp luật.
4. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên; các tổ chức xã hội có trách nhiệm tuyên truyền, vận động, tham gia xây dựng các địa chỉ tin cậy ở cộng đồng dân cư.
Điều 37. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnhthực hiện việc chăm sóc y tế cho người bệnh là người bị bạo lực gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này và tư vấn về chăm sóc sức khỏe cho người bệnh là người bị bạo lực gia đình.
2. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnhcông lập ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, tùy theo điều kiện thực tế bố trí nơi tạm lánh cho người bị bạo lực gia đình trong thời gian không quá 01 ngày theo yêu cầu của người bị bạo lực gia đình.
Điều 38. Cơ sở trợ giúp xã hội và trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
1. Cơ sở trợ giúp xã hội thực hiện việc chăm sóc và hỗ trợ các điều kiện cần thiết khác cho người bị bạo lực gia đình trong thời gian người bị bạo lực gia đình lưu trú tại cơ sở theo quy định của pháp luật.
2. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện cung cấp dịch vụ pháp lý cho người bị bạo lực gia đình theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.
Điều 39. Cơ sở khác tham gia trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình
1. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức tham gia trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Cơ sở khác tham gia trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình đăng ký về nội dung, phạm vi hoạt động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này.
Điều 40. Cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình
1. Cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đìnhlà cơ sở do cơ quan, tổ chức, cá nhân thành lập theo quy định của pháp luật để cung cấp một hoặc một số dịch vụ, hoạt động sau:
a) Tư vấn chuyên sâu về phòng, chống bạo lực gia đình;
b) Nơi tạm lánh và các điều kiện thiết yếu khác cho người bị bạo lực gia đình;
c) Giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành vi bạo lực gia đình;
d) Chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa bệnh lý về tâm thần cho người bị bạo lực gia đình;
đ) Các hoạt động khác liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Cơ sở cung cấp dịch vụ, hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Người đứng đầu cơ sở có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên, chuyên ngành đào tạo liên quan đến dịch vụ đăng ký tham gia cung cấp và chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử lý vi phạm hành chính về hành vi bạo lực gia đình;
b) Nhân viên trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ phòng, chống bạo lực gia đình phải tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên, đã được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về phòng, chống bạo lực gia đình do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tổ chức;
c) Trường hợp cơ sở cung cấp dịch vụ tạm lánh cho người bị bạo lực gia đình hoặc cung cấp dịch vụ giáo dục, hỗ trợ chuyển đổi hành viphải có cơ sở vật chất và địa điểm bảo đảm yêu cầu.
3. Cơ sở quy định tại khoản 1 Điều này đăng ký nội dung, phạm vi hoạt động với cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình cấp tỉnh.
4. Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất để thực hiện dịch vụ, hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này không vì mục đích lợi nhuận được ưu đãi thuế, phí, tín dụng và ưu đãi khác theo quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép hoạt động của cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình.
Mục 4
XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT
VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Điều 41. Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của khoản 1 Điều này thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục.
Chương IV
ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM
PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Điều 42. Nguồn tài chính phòng, chống bạo lực gia đình
1. Nguồn tài chính phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm:
a) Nguồn ngân sách nhà nước;
b) Nguồn viện trợ, tài trợ, tặng cho, đóng góp, hỗ trợ, ủng hộ từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật;
c) Các nguồn tài chính hợp pháp khác.
2. Ngân sách nhà nước cho phòng, chống bạo lực gia đình được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội được giao nhiệm vụ có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình.
3. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này và nội dung chi, mức chi hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình được ngân sách nhà nước bảo đảm hằng năm.
Điều 43. Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình gồm thông tin về nội dung quy định tại Điều 46 của Luật này .
2. Việc quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình được thực hiện như sau:
a) Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình được liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu quốc gia khác có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình;
b) Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình được chuyển đổi số và quản lý bằng cơ sở hạ tầng thông tin. Thông tin trong cơ sở dữ liệu phòng, chống bạo lực gia đình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thì có giá trị pháp lý như trong hồ sơ dạng giấy;
c) Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình là tài sản của Nhà nước phải được bảo đảm an ninh, an toàn chặt chẽ; nghiêm cấm mọi hành vi truy cập trái phép, phá hoại, làm sai lệch thông tin trong cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình;
d) Tổ chức, cá nhân có nhu cầu về thông tin, dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình được khai thác, sử dụng qua cổng thông tin về phòng, chống bạo lực gia đình ở trung ương, địa phương; khi thực hiện khai thác thông tin, dữ liệu phòng, chống bạo lực gia đình phải thực hiện đúng quy định của pháp luật.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 44. Phối hợp liên ngành về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có trách nhiệm phối hợp với người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình cùng cấp để triển khai, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Việc phối hợp liên ngành về phòng, chống bạo lực gia đình được thực hiện trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, bảo đảm chủ động, hiệu quả;đề cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan tham gia phối hợp liên ngành.
3. Hoạt động phối hợp liên ngành về phòng, chống bạo lực gia đình ở trung ương và địa phương được thực hiện qua Ban Chỉ đạo công tác gia đình cùng cấp.
4. Thủ tướng Chính phủ quyết định quy chế phối hợp liên ngành và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo công tác gia đình các cấp.
Điều 45. Bồi dưỡng người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình
1. Người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về phòng, chống bạo lực gia đình và các kiến thức, kỹ năng cần thiết khác có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Công an cấp xã, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố và Ban Chỉ đạo công tác gia đình được bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng phòng, chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới trong phòng, chống bạo lực gia đình.
Chương V
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Điều 46. Nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Ban hành, trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
3. Thực hiện thống kê nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình.
4. Đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
5. Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình.
6. Khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong phòng, chống bạo lực gia đình; bồi thường thiệt hại cho người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình ở cộng đồng.
7. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 47. Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; định kỳ hai năm một lần hoặc đột xuất báo cáo Quốc hội việc thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình và điều phối liên ngành trong phòng, chống bạo lực gia đình.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình.
4. Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về công tác phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương.
Điều 48. Trách nhiệm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
1. Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia đình; phối hợp liên ngành trong phòng, chống bạo lực gia đình.
3. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan hướng dẫn tư vấn, thông tin, giáo dục, truyền thông; biên soạn tài liệu mẫu tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kỹ năng về phòng, chống bạo lực gia đình.
4. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho người làm công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
5. Chủ trì thực hiện thống kê nhà nước và quản lý thông tin về phòng, chống bạo lực gia đình.
6. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
7. Thực hiện nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình.
8. Chỉ đạo xây dựng, thực hiện, tổng kết kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình phòng, chống bạo lực gia đình. Hướng dẫn các địa phương đưa nội dung phòng, chống bạo lực gia đình vào hương ước, quy ước cộng đồng dân cư.
Điều 49. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ
1. Bộ Y tế có trách nhiệm sau đây:
a) Ban hành và tổ chức thực hiện quy định tiếp nhận, chăm sóc y tế đối với người bệnh là người bị bạo lực gia đình tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Hướng dẫn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện thống kê, báo cáo các trường hợp người bệnh là người bị bạo lực gia đình;
c) Bồi dưỡng nhân viên y tế thực hiện tư vấn, chăm sóc, điều trị người bị bạo lực gia đình.
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm sau đây:
a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về cơ sở trợ giúp xã hội; hướng dẫn việc tiếp nhận, trợ giúp người bị bạo lực gia đình tại cơ sở trợ giúp xã hội;
b) Chỉ đạo việc lồng ghép nội dung phòng, chống bạo lực gia đình vào các chương trình, kế hoạch về bình đẳng giới, bảo vệ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, giáo dục nghề nghiệp, giải quyết việc làm, giảm nghèo và cai nghiện ma túy;
c) Hướng dẫn cơ sở trợ giúp xã hội thực hiện thống kê, báo cáo các trường hợp người bị bạo lực gia đình được tiếp nhận và trợ giúp tại cơ sở trợ giúp xã hội.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm sau đây:
a) Chỉ đạo lồng ghép kiến thức phòng, chống bạo lực gia đình vào các chương trình giáo dục, đào tạo phù hợp với yêu cầu của từng ngành học, cấp học;
b) Hướng dẫn cơ sở giáo dục phát hiện, hỗ trợ người học bị bạo lực gia đình.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng thông tin, tuyên truyền chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan phát hiện và ngăn chặn các thông tin, hình ảnh, dữ liệu trên không gian mạng, trên truyền hình, trong các trò chơi điện tử và các ấn phẩm xuất bản nhằm kích động bạo lực gia đình.
5. Bộ Tư pháp có trách nhiệm sau đây:
a) Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; bồi dưỡng hòa giải viên, người thực hiện trợ giúp pháp lý về phòng, chống bạo lực gia đình;
b) Hướng dẫn Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện thống kê, báo cáo trường hợp người bị bạo lực gia đình được tư vấn.
6. Bộ Công an có trách nhiệm sau đây:
a) Ban hành văn bản hướng dẫn giám sát việc thực hiện cấm tiếp xúc;
b) Chỉ đạo lồng ghép kiến thức phòng, chống bạo lực gia đình vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng trong các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý;
c) Chủ trì, phối hợp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho lực lượng công an nhân dân thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình, chú trọng lực lượng công an cấp xã;
d) Thực hiện báo cáo thống kê về phòng, chống bạo lực gia đình thuộc trách nhiệm quản lý.
7. Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện tuyên truyền, giáo dục chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 50. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện nội dung quản lý nhà nước vềphòng, chống bạo lực gia đình.
2. Bố trí kinh phí, nhân lực đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn quản lý theo quy định của Luật này.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm về tổ chức thực hiện phòng, chống bạo lực gia đình theo thẩm quyền tại địa phương.
4. Hằng năm, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 51. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp
1. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị bạo lực gia đình.
2. Chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
3. Thực hiện bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về phòng, chống bạo lực gia đình cho Kiểm sát viên,Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án.
4. Chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện tuyên truyền, giáo dục chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
5. Thực hiện báo cáo thống kê về phòng, chống bạo lực gia đình thuộc trách nhiệm xử lý.
Điều 52. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên
1. Giám sát, phản biện xã hội việc xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích, động viên đoàn viên, hội viên và Nhân dân chấp hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác. Thực hiện tuyên truyền, giáo dục kỹ năng kiểm soát hành vi bạo lực gia đình cho cán bộ, hội viên và Nhân dân.
3. Kiến nghị những biện pháp cần thiết với cơ quan Nhà nước có liên quan để thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, chăm sóc, hỗ trợ và bảo vệ người bị bạo lực gia đình.
4. Chủ trì, phối hợp phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật này.
Điều 53. Trách nhiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
1. Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 52 của Luật này.
2. Tư vấn, tham gia hòa giải về phòng, chống bạo lực gia đình ở cơ sở; tổ chức thực hiện, kết nối, giới thiệu các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình.
3. Tổ chức các hoạt động hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm hoặc hỗ trợ khác cho người bị bạo lực gia đình.
4. Chủ trì, phối hợp triển khai cơ sở trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình; nhân rộng mô hình phòng, chống bạo lực gia đình.
5. Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo vệ và hỗ trợ người bị bạo lực gia đình là phụ nữ và trẻ em.
6. Phối hợp tổng hợp, báo cáo thống kê về phụ nữ và trẻ em bị bạo lực gia đình.
Điều 54. Trách nhiệm của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế
1. Tham gia giám sát việc thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Vận động, ủng hộ nguồn lực để thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
3. Tham gia tuyên truyền, vận động thành viên, hội viên, quần chúng nhân dân cam kết không gây bạo lực gia đình, xây dựng gia đình hạnh phúc.
4. Tham gia tư vấn, hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình, giáo dục người có hành vi bạo lực gia đình.
5. Tiếp nhận, thu thập thông tin từ thành viên, hội viên, nhân viên và xã hội để phản ánh, kiến nghị, tư vấn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 55. Sửa đổi, bổ sung quy định của một số luật khác
1. Sửa đổi, bổ sung Điều 135 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 như sau:
“ Điều 135. Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 14Điều 114 của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời .”.
2.Sửa đổi, bổ sung mục 229 thuộc Phụ lục IV - Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 03/2022/QH15 như sau:
229
Cung cấp dịch vụ trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 56. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2023.
2. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 02/2007/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.