Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa
1. Bổ sung khoản 14 và khoản 15 Điều 4 như sau:
“14. Kiểm kê di sản văn hóa là hoạt động chuyên ngành nhằm nhận diện, xác định giá trị, lập danh mục và hồ sơ để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
15. Yếu tố gốc cấu thành di tích là yếu tố có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, được hình thành từ đầu hoặc được bổ sung trong quá trình bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.”.
2. Khoản 5 Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“5. Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để trục lợi, thực hành mê tín dị đoan và thực hiện những hành vi trái pháp luật.”.
3. Điều 18 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) chỉ đạo việc tổ chức kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể ở địa phương để bảo vệ và phát huy giá trị.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể.”.
4. Điều 26 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ có tài năng xuất sắc, nắm giữ và có công bảo vệ, phổ biến, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể.
2. Danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” được quy định tại Điều 65 Luật thi đua, khen thưởng số 15/2003/QH11 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng số 47/2005/QH11 được áp dụng để xét phong tặng đối với các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này.
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xét phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể.”.
5. Điều 32 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Các khu vực bảo vệ di tích bao gồm:
a) Khu vực bảo vệ I là vùng có các yếu tố gốc cấu thành di tích, phải được bảo vệ nghiêm ngặt;
b) Khu vực bảo vệ II là vùng bao quanh hoặc tiếp giáp khu vực bảo vệ I.
Trong trường hợp không xác định được khu vực bảo vệ II thì việc xác định chỉ có khu vực bảo vệ I đối với di tích cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, đối với di tích quốc gia do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định, đối với di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
2. Các khu vực bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều này được xác định trên bản đồ địa chính, kèm theo biên bản khoanh vùng bảo vệ và phải được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận trong hồ sơ di tích.”.
6. Bổ sung khoản 4 Điều 33 như sau:
“4. Các công trình xây dựng, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên có tiêu chí như quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 28 của Luật này, đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đưa vào danh mục kiểm kê di sản văn hóa của địa phương, được bảo vệ theo quy định của Luật này.”.
7. Điều 34 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi và xây dựng các công trình ở các khu vực bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật này đối với di tích cấp tỉnh phải có sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt phải có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
2. Việc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích phải giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích và phải được lập thành dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
3. Khi xây dựng các công trình phục vụ phát huy giá trị di tích không được làm ảnh hưởng tới kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di tích.
4. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục lập, phê duyệt và triển khai dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích.”.
8. Điều 38 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Việc thăm dò, khai quật khảo cổ chỉ được tiến hành sau khi có giấy phép của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Trong trường hợp địa điểm khảo cổ đang bị hủy hoại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép khai quật khẩn cấp và báo cáo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.”.
9. Khoản 7 Điều 48 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“7. Tổ chức hoạt động dịch vụ phục vụ khách tham quan và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.”.
10. Khoản 1 Điều 50 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1.
a) Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành trực thuộc Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương;
b) Bộ trưởng, người đứng đầu các ngành, đoàn thể ở Trung ương quyết định thành lập bảo tàng chuyên ngành thuộc các đơn vị trực thuộc;
c) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập bảo tàng cấp tỉnh, bảo tàng tư nhân.”.
11. Bãi bỏ Điều 74.
Điều 2. Thay thế một số cụm từ sau đây
1. Thay thế cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” tại Điều 19, điểm b khoản 1 Điều 30, khoản 1, 2 Điều 31, khoản 3 Điều 33, khoản 1, 2, 3 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 1, 2 Điều 41, khoản 2 Điều 42, khoản 2 Điều 44, Điều 45, khoản 2, 3 Điều 55 của Luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10.
2. Thay thế cụm từ “văn hóa - thông tin” bằng cụm từ “văn hóa, thể thao và du lịch” tại khoản 1, 2 Điều 33, Điều 35, khoản 1, 2 Điều 36, khoản 1, 2 Điều 37, khoản 2, 3 Điều 42, khoản 1 Điều 43, khoản 5 Điều 46, Điều 53, Điều 66 của Luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10.
3. Thay thế cụm từ “sở hữu toàn dân” bằng cụm từ “sở hữu nhà nước” tại Điều 5, Điều 6, Điều 7, khoản 1 Điều 43, của Luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10.
Điều 3. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày ……. tháng ……. năm …….