Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo nghị quyết số 51/2001-QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Để việc tố cáo và giải quyết tố cáo đúng pháp luật, góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức;
Luật này quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo; thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; bảo vệ người tố cáo; quản lý về công tác giải quyết tố cáo; giám sát công tác giải quyết tố cáo.
2. Tố giác, tin báo tội phạm, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng.
Tố cáo và việc giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về lao động được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Luật này được áp dụng đối với:
a) Công dân trong việc tố cáo;
b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo;
c) Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo;
d) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc phối hợp giải quyết tố cáo.
2. Việc tố cáo và giải quyết tố cáo của cá nhân nước ngoài đang làm ăn sinh sống, học tập, làm việc tại Việt Nam được áp dụng theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. “ Tố cáo ” là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức;
2. “Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ” là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
3. “Tố cáo hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước” là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với việc chấp hành các quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực;
4. “ Người tố cáo ” là công dân thực hiện quyền tố cáo;
5. “ Người bị tố cáo ” là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo;
6. “ Người giải quyết tố cáo ” là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo;
7. “ Giải quyết tố cáo ” là việc xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo.
Điều 4. Nguyên tắc giải quyết tố cáo
Việc giải quyết tố cáo phải kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, thủ tục và thời hạn theo quy định pháp luật.
Điều 5. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp người tố cáo, tiếp nhận và giải quyết tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra, bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, việc làm, bí mật cho người tố cáo; bảo đảm các quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định xử lý của mình.
2. Người có trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo mà không tiếp nhận, không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết hoặc cố tình giải quyết trái pháp luật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết tố cáo
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc tố cáo theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền.
Điều 7. Thi hành quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
Quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo của cơ quan có thẩm quyền phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng, được các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành. Người có trách nhiệm thi hành quyết định xử lý tố cáo mà không thi hành phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Người bị thiệt hại được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Điều 8. Trách nhiệm giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thi hành pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo.
Điều 9. Trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước
1. Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức, chỉ đạo việc giải quyết tố cáo; quản lý công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi cả nước.
2. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức, chỉ đạo việc giải quyết tố cáo; quản lý công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi bộ, ngành, địa phương mình.
Điều 10. Trách nhiệm của các cơ quan thanh tra
Các cơ quan thanh tra trong phạm vi, chức năng, nhiệm, quyền hạn của mình có trách nhiệm thanh tra việc chấp hành pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước; xem xét, giải quyết tố cáo theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật.
Điều 11. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các thành viên của Mặt trận và Ban thanh tra nhân dân
1. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận động viên nhân dân, hội viên của mình nghiêm chỉnh chấp hành hành pháp luật về tố cáo; giám sát việc thi hành pháp luật về tố cáo.
2. Ban thanh tra nhân dân có trách nhiệm giám sát việc giải quyết tố cáo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, thủ trưởng cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật.
Điều 12. Trách nhiệm của các cơ quan thông tin, báo chí
1. Cơ quan thông tin, báo chí nhận được tố cáo phải chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, giải quyết và thông báo cho cơ quan báo chí đã chuyển đơn đến biết việc giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan thông tin, báo chí đưa tin về việc tố cáo và giải quyết tố cáo theo quy định của Luật báo chí sau khi đã xác minh đầy đủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đưa tin đó.
Điều 13. Những hành vi bị nghiêm cấm
1. Cản trở, sách nhiễu, gây phiền hà việc thực hiện quyền tố cáo của công dân.
2. Đe doạ, trả thù, trù dập người tố cáo.
3. Tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo.
4. Cố tình không giải quyết hoặc giải quyết tố cáo trái pháp luật.
5. Không thực hiện trách nhiệm bảo vệ người tố cáo; bao che người bị tố cáo.
6. Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết tố cáo.
7. Kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật.
8. Mua chuộc, hối lộ người giải quyết tố cáo.
9. Đe doạ, trả thù, xúc phạm người giải quyết tố cáo.
10. Lợi dụng việc tố cáo để xuyên tạc, vu khống, gây rối trật tự.
11. Vi phạm các quy định khác của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo.
Chương II
QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI TỐ CÁO, NGƯỜI BỊ TỐ CÁO VÀ CỦA NGƯỜI GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
Điều 14. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo hoặc tố cáo thông qua thư điện tử, điện thoại, fax theo quy định của pháp luật với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
b) Được cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình;
c) Được nhận thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết;
d) Được thông báo kết quả giải quyết tố cáo;
đ) Được tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời gian quy định mà tố cáo không được giải quyết;
e) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập;
g) Được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Nêu rõ họ tên, địa chỉ của mình;
b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cố tình tố cáo sai sự thật;
d) Bồi thường, bồi hoàn thiệt hai do hành vi cố tình tố cáo sai sự thật của mình gây ra.
Điều 15. Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có các quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;
c) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố tình tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường, bồi hoàn thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.
Điều 16. Quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo
1. Người giải quyết tố cáo có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu người tố cáo cung cấp bằng chứng, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
b) Yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo;
c) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
d) Trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật;
đ) Kết luận về nội dung tố cáo;
e) Quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Người giải quyết tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải quyết tố cáo;
b) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết tố cáo trái pháp luật;
c) Bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do hành vi giải quyết tố cáo trái pháp luật của mình gây ra.
Chương III
GIẢI QUYẾT TỐ CÁO ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, CÔNG VỤ
Mục 1 THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT
Điều 17. Nguyên tắc xác định thẩm quyền
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
Trong trường hợp tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ có dấu hiệu tội phạm do các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết. Việc giải quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
Điều 18. Thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức
1. Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của Luật này.
2. Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước và các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Việc giải quyết được thực hiện theo quy định của Luật này.
3. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng. Việc giải quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng.
4. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của thành viên trong tổ chức đó trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Việc giải quyết được thực hiện theo quy định của điều lệ và các văn bản pháp luật có liên quan.
Điều 19. Thẩm quyền giải quyết tố cáo của Thủ trưởng cơ quan hành chính
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền g iải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người do mình quản lý trực tiếp.
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền g iải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng, Trưởng ban, Phó trưởng ban thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện và những người khác do mình bổ nhiệm và quản lý trực tiếp.
3. Giám đốc sở có thẩm quyền g iải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Trưởng phòng, Phó trưởng phòng hoặc cấp tương đương thuộc sở và những người khác do mình bổ nhiệm và quản lý trực tiếp.
4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc, Phó giám đốc sở và những người khác do mình bổ nhiệm và quản lý trực tiếp.
5. Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương được phân cấp quản lý cán bộ có thẩm quyền g iải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị thuộc Tổng cục, Cục và những người khác do mình bổ nhiệm và quản lý trực tiếp.
6. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền g iải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ và những người khác do mình bổ nhiệm và quản lý trực tiếp.
7. Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Bộ trưởng, Thứ trưởng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và những người khác do mình bổ nhiệm và quản lý trực tiếp.
Điều 20. Trách nhiệm của Chánh thanh tra các cấp, các ngành
1. Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao.
2. Xem xét, kết luận về việc giải quyết tố cáo mà thủ trưởng cơ quan cấp dưới trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp xem xét, giải quyết lại.
Điều 21. Trách nhiệm của Tổng thanh tra
1. Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ khi được giao.
2. Xem xét, kết luận về việc giải quyết tố cáo mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp kết luận việc giải quyết có vi phạm pháp luật thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, giải quyết lại.
Mục 2 TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT
Điều 22. Trình tự giải quyết tố cáo
Việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo các bước như sau:
1. Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo;
2. Xác minh, kết luận nội dung tố cáo
3. Việc quyết định xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo.
Điều 23. Hình thức tố cáo
1. Công dân tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ bằng các hình thức sau:
a) Tố cáo trực tiếp;
b) Gửi đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo;
c) Tố cáo bằng điện thoại, thư điện tử, fax.
2. Người tố cáo phải nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình; trình bày trung thực nội dung tố cáo; cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được.
Điều 24. Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo
1. Tiếp nhận, xử lý đơn tố cáo, bản ghi lời tố cáo.
Khi nhận được đơn tố cáo, bản ghi lời tố cáo, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phân loại và xử lý như sau:
a) Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải thụ lý trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo, đồng thời thông báo bằng văn bản cho người tố cáo về thời điểm thụ lý tố cáo và các nội dung tố cáo được thụ lý;
b) Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì chậm nhất trong thời gian 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo, các tài liệu, chứng cứ (nếu có) phải chuyển cho người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo (nếu có yêu cầu).
2. Tiếp nhận, xử lý tố cáo trực tiếp:
Khi người tố cáo đến trình bày trực tiếp thì người tiếp nhận phải ghi rõ nội dung tố cáo, họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; khi cần thiết thì ghi âm lời tố cáo. Bản ghi nội dung tố cáo phải cho người tố cáo đọc lại, nghe lại và ký xác nhận. Việc xử lý tố cáo trực tiếp được thực hiện như xử lý đơn tố cáo, bản ghi lời tố cáo được quy định tại Khoản 1 Điều này.
3. Tiếp nhận, xử lý tố cáo bằng điện thoại, thư điện tử, fax:
a) Khi nhận được tố cáo bằng điện thoại, thư điện tử, fax thì người tiếp nhận phải tóm tắt nội dung tố cáo và báo cáo người có thẩm quyền để quyết định việc kiểm tra, xác minh họ tên, địa chỉ của người tố cáo, người bị tố cáo, nội dung tố cáo, những thông tin liên quan (nếu có);
b) Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì chậm nhất trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tố cáo phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc thụ lý hoặc không thụ lý để giải quyết tố cáo; trường hợp việc tố cáo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn kiểm tra, xác minh có thể dài hơn nhưng không quá 45 (bốn mươi lăm) ngày làm việc;
c) Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền của mình thì phải chuyển cho người có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này. Người có thẩm quyền giải quyết thực hiện việc kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc thụ lý hoặc không thụ lý để giải quyết tố cáo theo quy định tại Điểm b Khoản này.
4. Tiếp nhận, xử lý tố cáo có nội dung không rõ, sự việc xảy ra từ lâu:
Khi nhận được tố cáo về vụ việc mà nội dung và những thông tin người tố cáo cung cấp không có cơ sở để xác định về người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật hoặc tố cáo về vụ việc đã xảy ra từ lâu mà các cơ quan có thẩm quyền không đủ cơ sở để thẩm tra, xác minh làm rõ về hành vi vi phạm, người vi phạm thì cơ quan nhận tiếp nhận tố cáo không giải quyết mà sử dụng những thông tin đó phục vụ công tác quản lý;
5. Trong quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo, nếu xét thấy hành vi bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan, tổ chức nhận được tố cáo có trách nhiệm chuyển hồ sơ, tài liệu và những thông tin về vụ việc tố cáo đó cho Cơ quan điều tra hoặc Viện Kiểm sát nhân dân có thẩm quyền để xử lý theo quy định tại Điều 32 của Luật này;
6. Trong trường hợp hành vi bị tố cáo gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhà nước, của tập thể, tính mạng, tài sản của công dân thì cơ quan, tổ chức nhận được tố cáo phải báo ngay cho cơ quan công an hoặc cơ quan có trách nhiệm ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm.
Điều 25. Thời hạn giải quyết tố cáo
1. Thời hạn giải quyết không quá 60 (sáu mười) ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ việc tố cáo. Đối với vụ việc có những tình tiết phức tạp, cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn giải quyết không quá 120 (một trăm hai mươi) ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ việc tố cáo.
2. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn 01 lần. Thời gian gia hạn không vượt quá 60 (sáu mươi) ngày làm việc.
Điều 26. Thời hiệu xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
1. Thời hiệu xử lý hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là thời hạn do Luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người có thẩm quyền không xem xét, xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo.
2. Thời hiệu xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải là tội phạm được xác định theo thời hiệu xử lý kỷ luật do pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức quy định.
Điều 27. Xác minh nội dung tố cáo
1. Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tiến hành xác minh hoặc giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo (gọi chung là người xác minh nội dung tố cáo).
2. Trường hợp người có thẩm quyền giải quyết tố cáo giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo thì phải có quyết định xác minh bằng văn bản.
Quyết định xác minh nội dung tố cáo phải có các nội dung sau:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên, địa chỉ của người bị tố cáo;
c) Người được giao nhiệm vụ xác minh;
d) Nội dung cần xác minh;
đ) Thời gian tiến hành xác minh;
e) Quyền hạn và trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ xác minh.
3. Người xác minh nội dung tố cáo phải tiến hành các biện pháp cần thiết để thu thập các thông tin, tài liệu, làm rõ nội dung tố cáo. Các thông tin, tài liệu thu thập phải được ghi chép thành văn bản, khi cần thiết thì lập thành biên bản, được lưu giữ trong hồ sơ giải quyết tố cáo.
4. Trong quá trình xác minh, người xác minh nội dung tố cáo phải tạo điều kiện để người bị tố cáo giải trình, đưa ra các bằng chứng để chứng minh tính đúng, sai của nội dung tố cáo. Việc giải trình của người bị tố cáo phải được lập thành biên bản và có chữ ký của người xác minh nội dung tố cáo và người bị tố cáo.
5. Người được giao nhiệm vụ xác minh nội dung tố cáo có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điểm a, b, c, d Khoản 1 và Điểm a Khoản 2 Điều 16 của Luật này.
6. Thời hạn xác minh nội dung tố cáo do người có thẩm quyền giải quyết tố cáo quyết định nhưng không vượt quá thời hạn giải quyết vụ việc tố cáo.
Điều 28. Kết luận nội dung tố cáo
1. Căn cứ vào nội dung tố cáo, văn bản giải trình của người bị tố cáo, kết quả xác minh nội dung tố cáo, các tài liệu, bằng chứng có liên quan, người xác minh nội dung tố cáo phải kết luận bằng văn bản về nội dung tố cáo.
2. Văn bản kết luận nội dung tố cáo phải có các nội dung sau:
a) Kết quả xác minh nội dung tố cáo;
b) Kết luận việc tố cáo đúng, đúng một phần hoặc sai; xác định trách nhiệm của từng cá nhân về những nội dung tố cáo đúng hoặc đúng một phần;
c) Các biện pháp xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị biện pháp xử lý (nếu có);
3. Trong trường hợp người tố cáo cố tình tố cáo sai thì kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Trong trường hợp người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tiến hành việc xác minh thì kết luận nội dung tố cáo và quyết định xử lý theo thẩm quyền; trường hợp vượt quá thẩm quyền thì kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý.
Điều 29. Việc x ử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo
Căn cứ vào kết luận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo tiến hành xử lý như sau:
1. Trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm các quy định về thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì phải thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết, đồng thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý người cố tình tố cáo sai sư thật;
2. Trong trường hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ thì áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật;
3. Trong trường hợp hành vi vi phạm của người bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện Kiểm sát để giải quyết theo quy định của Điều 32 Luật này.
Điều 30. Việc gửi kết luận nội dung tố cáo, văn bản về việc xử lý tố cáo
1. Người giải quyết tố cáo phải gửi thông báo bằng văn bản về kết luận nội dung tố cáo, văn bản về việc xử lý tố cáo (trong trường hợp người bị tố cáo vi phạm về việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ) cho người bị tố cáo. Việc gửi văn bản phải đảm bảo việc không tiết lộ thông tin người tố cáo, bảo vệ bí mật của nhà nước.
2. Trong trường hợp người tố cáo có yêu cầu về thông báo kết quả giải quyết tố cáo thì người giải quyết tố cáo gửi thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo. Thông báo kết quả giải quyết tố cáo phải nêu rõ kết quả xác minh, kết luận nội dung tố cáo, nội dung việc xử lý người bị tố cáo, trừ nhưng nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước.
3. Người giải quyết tố cáo phải gửi văn bản kết luận về nội dung tố cáo, văn bản về việc xử lý tố cáo cho cơ quan thanh tra, cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp.
Điều 31. Việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp
1. Khi có căn cứ cho rằng, quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết hoặc người tố cáo có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với cơ quan cấp trên trực tiếp của người giải quyết.
2. Trong trường hợp quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan cấp trên yêu cầu người có trách nhiệm giải quyết tố cáo phải giải quyết; báo cáo, trình bày rõ lý do về việc chậm chễ trong giải quyết tố cáo; có biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm.
3. Trong trường hợp người tố cáo có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố không đúng pháp luật thì Thủ trưởng cơ quan cấp trên có trách nhiệm xem xét, giải quyết lại.
Điều 32. Chuyển vụ việc tố cáo có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân
Trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố cáo, nếu thấy có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận, giải quyết tố cáo phải chuyển tố cáo, hồ sơ vụ việc tố cáo cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tố cáo hoặc nhận được hồ sơ vụ việc tố cáo, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản về việc thụ lý, xử lý cho cơ quan, tổ chức đó biết; trường hợp tố cáo có nội dung phức tạp thì thời hạn thông báo có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày làm việc.
Điều 33. Hồ sơ giải quyết tố cáo
1. Việc giải quyết tố cáo phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ giải quyết tố cáo bao gồm:
a) Đơn tố cáo hoặc bản ghi nội dung tố cáo;
b) Biên bản xác minh, kết quả giám định, tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết;
c) Văn bản giải trình của người bị tố cáo;
d) Kết luận về nội dung tố cáo; văn bản kiến nghị biện pháp xử lý;
đ) Quyết định xử lý (nếu có);
e) Các tài liệu khác có liên quan (nếu có).
2. Hồ sơ giải quyết tố cáo phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và được lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu thì hồ sơ được chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Việc khai thác và sử dụng tài liệu đảm bảo không tiết lộ thông tin người tố cáo.
Điều 34. C ông khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
Căn cứ vào mục đích, yêu cầu của việc công khai, người giải quyết tố cáo lựa chọn một hoặc một số hình thức dưới đây để thực hiện việc công khai đối với kết luận về nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo:
1. Niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan đã có kết luận vụ việc tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo;
2. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
3. Tổ chức công bố công khai.
Chương IV
GIẢI QUYẾT TỐ CÁO ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG CÁC LĨNH VỰC
Mục 1 THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT
Điều 35. Nguyên tắc xác định thẩm quyền
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Việc giải quyết được thực hiện theo quy định của Luật này và các văn bản pháp luật có liên quan.
2. Tố cáo hành vi vi phạm các quy định pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu tội phạm thì do các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết. Việc giải quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
Điều 36. Thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có thẩm quyền g iải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công.
3. Thủ trưởng cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền giải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật.
Điều 37. Trách nhiệm của Chánh thanh tra các cấp, các ngành
1. Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao.
2. Xem xét, kết luận về việc giải quyết tố cáo mà thủ trưởng cơ quan cấp dưới trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp xem xét, giải quyết lại.
3. Giải quyết tố cáo theo thẩm quyền do pháp luật quy định.
Điều 38. Xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc tố cáo
Đối với tố cáo có nhiều nội dung, liên quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan thì cơ quan tiếp nhận đầu tiên có thẩm quyền giải quyết; trường hợp người tố cáo đồng thời tố cáo đến nhiều cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì các cơ quan đó có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩm quyền, giải quyết.
Mục 2 TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT
Điều 39. Trình tự giải quyết tố cáo
Trình tự giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước được thực hiện theo quy định tại Điều 22 của Luật này.
Điều 40. Hình thức tố cáo, tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo
Hình thức tố cáo; việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 23 và Điều 24 của Luật này.
Điều 41. Thời hạn giải quyết tố cáo
1. Thời hạn giải quyết tố cáo là 30 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ việc tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết không quá 60 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ việc tố cáo.
2. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn 01 lần. Thời gian gia hạn không vượt quá 30 ngày làm việc.
Điều 42. Thời hiệu xử lý đối với hành vi bị tố cáo
1. Thời hiệu xử lý hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước bị tố cáo là thời hạn do Luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người có thẩm quyền không xem xét, xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo.
2. Thời hiệu xử lý đối với hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm được xác định theo thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính do pháp luật về xử lý vi phạm hành chính quy định.
Điều 43. Xác minh nội dung tố cáo
1. Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tiến hành việc xác minh nội dung tố cáo. Việc xác minh được thực hiện theo quy định tại Khoản 1, 3 và Khoản 4 Điều 27 của Luật này.
2. Trong trường hợp giao cho cơ quan tổ chức cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 5 Điều 27 của Luật này.
Điều 44. Kết luận nội dung tố cáo
Việc kết luận nội dung tố cáo đối với hành vi vi phạm các quy định pháp luật về quản lý nhà nước được thực hiện theo Điều 28 của Luật này.
Điều 45. Việc x ử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo
Căn cứ vào kết luận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo tiến hành xử lý như sau:
1. Trong trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm các quy định pháp luật về quản lý nhà nước thì phải thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo biết, đồng thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý người cố tình tố cáo sai sự thật;
2. Trong trường hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước thì áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật;
3. Trong trường hợp hành vi bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện Kiểm sát để giải quyết theo quy định của Điều 32 Luật này.
Điều 46. Việc giải quyết tố cáo có nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để xử lý
Đối với tố cáo có nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để xử lý ngay hành vi vi phạm pháp luật thì người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tiến hành lập biên bản, kết luận về hành vi vi phạm, ra quyết định xử phạt và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo thẩm quyền.
Điều 47. Gửi kết luận nội dung tố cáo, văn bản về việc xử lý tố cáo; việc tố cáo tiếp; hồ sơ giải quyết tố cáo
1. Việc gửi kết luận nội dung tố cáo, văn bản về việc xử lý tố cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật này.
2. Việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp được thực hiện theo quy định tại Điều 31 của Luật này.
3. Hồ sơ giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 33 của Luật này.
Chương V
BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO
Điều 48. Bảo vệ bí mật của người tố cáo
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp phải giữ bí mật cho người tố cáo khi họ có yêu cầu.
Trong trường hợp người tố cáo không có yêu cầu nhưng xét thấy việc tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và các thông tin khác sẽ gây hại cho người tố cáo thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận, giải quyết tố cáo phải áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có các biện pháp cần thiết để giữ bí mật và bảo vệ cho người tố cáo.
Trong trường hợp người tố cáo yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình hoặc xét thấy việc tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo sẽ đe doạ hoặc gây ra những bất lợi cho người tố cáo thì cơ quan, tổ chức đã tiếp nhận tố cáo phải có biện pháp cần thiết để bảo vệ bí mật cho người tố cáo
Điều 49. Bảo vệ an toàn việc làm cho người tố cáo
1. Người có thẩm quyền quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, người lao động không được phân biệt đối xử về việc làm với người tố cáo.
2. Khi người tố cáo có căn cứ cho rằng mình bị phân biệt đối xử về việc làm dẫn đến giảm mức thu nhập, thiệt hại về lợi ích từ công việc hoặc các đe doạ khác làm thiệt hại về quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì đề nghị thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền quản lý, sử dụng mình có biện pháp xử lý đối với người có những hành vi đó.
3. Khi nhận được đề nghị của người tố cáo, người có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, xác minh. Nếu đề nghị của người tố cáo là chính đáng thì áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc yêu cầu người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ vị trí, điều kiện làm việc, các khoản thu nhập và lợi ích từ việc làm cho người tố cáo.
Điều 50. Bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm của người tố cáo
1. Người tiếp nhận, giải quyết tố cáo nhận được thông tin người tố cáo bị đe dọa, trù dập, trả thù thì phải có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan công an hoặc cơ quan chức năng khác kịp thời ngăn chặn, có biện pháp bảo vệ người tố cáo và đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi đe dọa, trù dập, trả thù người tố cáo.
2. Khi có căn cứ cho rằng việc tố cáo có thể bị nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự nhân phẩm của mình thì người tố cáo có quyền đề nghị người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan công an, cơ quan nhà nước khác áp dụng các biện pháp bảo vệ cho mình.
Trường hợp đề nghị của người tố cáo là chính đáng thì người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan công an, cơ quan nhà nước khác kịp thời áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo; trường hợp vượt quá thẩm quyền, thì đề nghị cơ quan cấp trên có các biện pháp để bảo vệ người tố cáo.
Điều 51. Xử lý người vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo
Người có thẩm quyền trong quá trình tiếp nhận, xử lý và giải quyết tố cáo mà để lộ thông tin, tài liệu có hại cho người tố cáo thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.
Hình thức kỷ luật thấp nhất là cảnh cáo đối với cán bộ, công chức có hành vi để lộ thông tin, tài liệu có hại cho người tố cáo.
CHƯƠNG VI
QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
Đ iều 52. Nội dung quản lý công tác giải quyết tố cáo
1. Ban hành các văn bản pháp luật, quy chế, quy trình giải quyết tố cáo.
2. Tuyên truyền, hướng dẫn và tổ chức việc thực hiện các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo.
3. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo.
4. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác giải quyết tố cáo, công tác tiếp công dân.
5. Tổng hợp tình hình tố cáo và việc giải quyết tố cáo.
6. Tổng kết kinh nghiệm về công tác giải quyết tố cáo.
Điều 53. Quản lý công tác giải quyết tố cáo của Chính phủ, Thanh tra Chính phủ
1. Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về công tác giải quyết tố cáo trong các cơ quan hành chính Nhà nước trong phạm vi cả nước.
2. Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi thẩm quyền của Chính phủ.
Điều 54. Trách nhiệm của các bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp
1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi quản lý của mình; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, tổ chức do mình quản lý trong việc thực hiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo; thực hiện chế độ báo cáo về công tác giải quyết tố cáo theo quy định của Chính phủ.
2. Cơ quan thanh tra nhà nước các cấp giúp thủ trưởng cơ quan cùng cấp quản lý công tác giải quyết tố cáo.
Điều 55. Trách nhiệm của Toà án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
1. Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình quản lý công tác giải quyết tố cáo; định kỳ thông báo với Chính phủ về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức mình.
2. Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, các cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình quản lý công tác giải quyết tố cáo; định kỳ thông báo với Uỷ ban nhân dân cùng cấp về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức mình.
Điều 56. Trách nhiệm phối hợp, báo cáo của các cơ quan nhà nước
1. Thủ tướng Chính phủ làm việc với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để phối hợp trong công tác giải quyết tố cáo, khi xét thấy cần thiết.
2. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao định kỳ báo cáo Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước về công tác giải quyết tố cáo.
3. Tổng thanh tra định kỳ báo cáo Chính phủ về công tác giải quyết tố cáo; kiến nghị các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tố cáo .
4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện làm việc với Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để phối hợp trong công tác giải quyết tố cáo, khi xét thấy cần thiết.
5. Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân định kỳ báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi địa phương mình.
Chương VII
GIÁM SÁT CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
Mục 1 GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Điều 57. Giám sát của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
1. Quốc hội giám sát việc thi hành pháp luật về tố cáo; hàng năm xem xét báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết tố cáo tại kỳ họp cuối năm.
2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành pháp luật về tố cáo; xem xét báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết tố cáo; cử đoàn giám sát việc giải quyết tố cáo; khi phát hiện có vi phạm pháp luật thì yêu cầu người có thẩm quyền chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm.
Đối với tố cáo gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì giao cho Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội hoặc người có thẩm quyền nghiên cứu, xem xét; nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 58 của Luật này.
Điều 58 . Giám sát của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm:
1. Tổ chức đoàn giám sát việc giải quyết tố cáo; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan báo cáo về tình hình tố cáo và giải quyết tố cáo;
2. Khi nhận được tố cáo thì nghiên cứu, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì yêu cầu người có thẩm quyền xem xét, giải quyết; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết đó thì yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người đó xem xét, giải quyết; cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm trả lời yêu cầu đó trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định giải quyết;
3. Khi phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì yêu cầu người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm.
Điều 59. Giám sát của Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm:
a) Khi nhận được tố cáo có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền và đôn đốc, theo dõi việc giải quyết tố cáo; đồng thời báo cho người tố cáo biết việc chuyển đơn đó;
b) Khi phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị với người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm.
2. Người có thẩm quyền khi nhận được tố cáo do đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyển đến phải xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định giải quyết phải thông báo bằng văn bản cho đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đã chuyển đơn đến biết kết quả giải quyết.
Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết không thoả đáng, đại biểu Quốc hội có quyền gặp thủ trưởng cơ quan hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại. Khi cần thiết, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu thủ trưởng cơ quan hữu quan cấp trên của cơ quan đó giải quyết.
Điều 60 . Giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội
Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức để đại biểu Quốc hội trong đoàn tiếp công dân đến tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến tố cáo, tiếp nhận và chuyển tố cáo đến người có thẩm quyền và đôn đốc, theo dõi việc giải quyết đó. Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật này.
Trong trường hợp cần thiết, Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức đoàn giám sát việc giải quyết tố cáo; khi phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt vi phạm.
Điều 61. Giám sát của Hội đồng nhân dân
1. Hội đồng nhân dân các cấp có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Xem xét báo cáo của Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp về công tác giải quyết tố cáo tại kỳ họp;
b) Cử đoàn giám sát việc giải quyết tố cáo ở địa phương mình; khi phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì yêu cầu người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt vi phạm và xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết tố cáo; khi nhận được tố cáo có trách nhiệm nghiên cứu; nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người có thẩm quyền xem xét, giải quyết; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết đó thì kiến nghị người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết; cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị đó trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định giải quyết.
3. Các ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện giúp Hội đồng nhân dân cùng cấp giám sát việc thi hành pháp luật về tố cáo .
Điều 62. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp và tạo điều kiện để các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc thi hành pháp luật về tố cáo.
Mục 2 GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM, CÁC TỔ CHỨC THÀNH VIÊN CỦA MẶT TRẬN, CỦA BAN THANH TRA NHÂN DÂN
Điều 63. Giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
1. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm tổ chức việc tiếp công dân đến tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến tố cáo; khi nhận được tố cáo thì nghiên cứu, chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
2. Tố cáo do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận chuyển đến phải được người giải quyết tố cáo xem xét, giải quyết và trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định giải quyết phải thông báo bằng văn bản cho tổ chức đã chuyển đơn đến biết kết quả giải quyết; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết đó thì tổ chức đã chuyển đơn có quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết; cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị đó trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định giải quyết.
Điều 64. Thông báo cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về công tác giải quyết tố cáo
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao định kỳ thông báo đến Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Uỷ ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp định kỳ thông báo đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp về công tác giải quyết tố cáo.
Điều 65. Ban thanh tra nhân dân
1. Ban Thanh tra nhân dân, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tiếp nhận thông tin, phản ánh của nhân dân về việc tố cáo và giải quyết tố cáo ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị cơ sở; kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật về tố cáo; kiến nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cơ sở giải quyết kịp thời, đúng pháp luật về tố cáo và giám sát việc giải quyết đó.
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cơ sở có trách nhiệm thông báo cho tổ chức Thanh tra nhân dân biết việc giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và xem xét, giải quyết kiến nghị của tổ chức Thanh tra nhân dân.
Điều 66. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp và tạo điều kiện để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức Thanh tra nhân dân giám sát việc thi hành pháp luật về tố cáo.
Chương VIII
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 67. Khen thưởng
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc giải quyết tố cáo, người tố cáo có công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều 68. Xử lý hành vi vi phạm của người giải quyết tố cáo
Người giải quyết tố cáo nếu có một trong các hành vi sau đây thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật:
1. Thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết tố cáo;
2. Gây phiền hà, sách nhiễu, cản trở việc thực hiện quyền tố cáo;
3. Cố tình trì hoãn việc giải quyết tố cáo;
4. Làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình giải quyết tố cáo;
5. Quyết định xử lý tố cáo trái pháp luật;
6. Không kịp thời áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật;
7. Đe dọa, trù dập, trả thù người tố cáo; bao che cho người bị tố cáo;
8. Không thực hiện các yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức và đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại các điều 11, 57, 58, 59, 60, 61, 63 và Điều 65 của Luật này;
9. Vi phạm các điều cấm và quy định khác của pháp luật về tố cáo.
Điều 69. Xử lý hành vi vi phạm đối với người có trách nhiệm chấp hành các quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
Người có trách nhiệm chấp hành các quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo nếu không chấp hành thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền mà không áp dụng biện pháp cần thiết để xử lý kịp thời đối với cá nhân vi phạm quy định tại Điều 68 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 70. Xử lý hành vi vi phạm đối với các đối tượng khác
Người nào có một trong các hành vi sau đây thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật:
1. Kích động, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật;
2. Lợi dụng việc tố cáo để xuyên tạc, vu khống, gây rối trật tự, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân;
3. Cố tình tố cáo sai sự thật;
4. Đe dọa, trả thù, xúc phạm người tố cáo, người có trách nhiệm giải quyết tố cáo;
5. Vi phạm các quy định khác của pháp luật về tố cáo.
Chương IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 71. Điều khoản thi hành
Chính phủ quy định chi tiết các điều 14, 18, 19, 20, 21, 24, 27, 28, 29, 31, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49 và Điều 50 của Luật này.
Căn cứ vào Luật này, các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo trong phạm vi cơ quan, tổ chức mình.
Điều 72. Hiệu lực thi hành
Những tố cáo đã được thụ lý, đang xem xét, giải quyết trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004, 2005.
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày … tháng … năm… .
Các quy định về tố cáo, giải quyết tố cáo trong Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004, 2005 hết hiệu lực, kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.