Quay lại

Dự thảo Không số Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi)

CHƯƠNG I:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về người được trợ giúp pháp lý, tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động trợ giúp pháp lý.

Điều 2. Trợ giúp pháp lý

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

Điều 3. Nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý

1. Trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này là trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước tổ chức thực hiện việc trợ giúp pháp lý cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý quy định tại Điều 7 của Luật này khi họ có hoàn cảnh khó khăn về tài chính và có nhu cầu, nguyện vọng hưởng trợ giúp của Nhà nước.

2. Không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được trợ giúp pháp lý.

3. Kịp thời, độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan.

4. Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.

5. Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý.

Điều 4. Chính sách của Nhà nước về trợ giúp pháp lý

1. Nhà nước có chính sách để bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.

2. Nhà nước có chính sách nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý, thu hút các nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý.

3. Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động trợ giúp pháp lý.

Điều 5. Nguồn tài chính cho công tác trợ giúp pháp lý

1. Nguồn tài chính cho công tác trợ giúp pháp lý bao gồm nguồn ngân sách nhà nước, đóng góp hoặc tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các dự án hợp tác quốc tế và các nguồn hợp pháp khác.

2. Kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm của cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định của pháp luật.

3. Kinh phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý của các tổ chức, cá nhân tự nguyện thực hiện do nguồn lực của họ bảo đảm.

Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Nghiêm cấm tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện các hành vi sau đây:

a) Xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; phân biệt đối xử người được trợ giúp pháp lý;

b) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được trợ giúp pháp lý; sách nhiễu người được trợ giúp pháp lý;

c) Tiết lộ thông tin, bí mật về vụ việc trợ giúp pháp lý, về người được trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp người được trợ giúp pháp lý đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;

d) Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 24 và khoản 2 Điều 29 của Luật này và theo quy định của pháp luật về tố tụng;

đ) Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để trục lợi, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục của dân tộc;

e) Xúi giục, kích động người được trợ giúp pháp lý khai, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật.

2. Nghiêm cấm người được trợ giúp pháp lý, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý thực hiện các hành vi sau đây:

a) Xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người thực hiện trợ giúp pháp lý và uy tín của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý;

b) Không hợp tác, cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về vụ việc trợ giúp pháp lý;

c) Đe dọa, cản trở, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động trợ giúp pháp lý; gây rối, làm mất trật tự nơi thực hiện trợ giúp pháp lý.

CHƯƠNG II:

NGƯỜI ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Điều 7. Người được trợ giúp pháp lý

1. Người có công với cách mạng.

2. Người dân tộc thiểu số thường trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

3. Người dưới 18 tuổi bị buộc tội.

4. Những người có khó khăn về tài chính được trợ giúp pháp lý bao gồm:

a) Người thuộc hộ nghèo;

b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị hại, người làm chứng trong vụ án hình sự;

c) Trẻ em, trừ trẻ em bị buộc tội quy định tại khoản 3 Điều này;

d) Người khuyết tật;

đ) Nạn nhân trong vụ việc mua bán người theo quy định của Luật phòng, chống mua bán người;

e) Nạn nhân của bạo lực gia đình;

g) Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo;

h) Người nhiễm HIV;

i) Cha, mẹ đẻ, vợ, chồng của liệt sĩ; con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ.

k) Người nhiễm chất độc hóa học.

l) Hạ sĩ quan, binh sĩ làm nghĩa vụ quân sự bị buộc tội mà tại thời điểm bị buộc tội gia đình người đó thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo.

Điều 8. Quyền của người được trợ giúp pháp lý

1. Được trợ giúp pháp lý mà không phải trả tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác.

2. Tự mình hoặc thông qua người thân thích, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu trợ giúp pháp lý.

3. Được thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý, trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý khi đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và các cơ quan nhà nước có liên quan.

4. Lựa chọn tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương trong danh sách được công bố; yêu cầu thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý khi người đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật này.

5. Thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý.

6. Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

7. Khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý.

Điều 9. Nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý

1. Cung cấp giấy tờ chứng minh mình là người đủ điều kiện được trợ giúp pháp lý.

2. Cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin, tài liệu và chứng cứ có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu, chứng cứ đó.

3. Tôn trọng tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý.

4. Không yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác thực hiện cùng vụ việc đang được một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý tiếp nhận giải quyết.

5. Chấp hành pháp luật về trợ giúp pháp lý và nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý.

CHƯƠNG III:

TỔ CHỨC THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Điều 10. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý

1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý là Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được quy định tại Điều 11 của Luật này và tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm:

a) Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này (sau đây gọi tắt là tổ chức ký hợp đồng trợ giúp pháp lý);

b) Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này (sau đây gọi tắt là tổ chức đăng ký trợ giúp pháp lý).

3. Hàng năm, Bộ Tư pháp công bố hoặc ủy quyền công bố danh sách các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.

Điều 11. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước

1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp, do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có Giám đốc, Phó Giám đốc, Trợ giúp viên pháp lý, viên chức và người lao động khác.

2. Chính phủ quy định chi tiết về tổ chức, cơ sở vật chất của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
Điều 11a. Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước

1. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh.

2. Chi nhánh được thành lập tại các huyện ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc trung tâm tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý.
Căn cứ nhu cầu và điều kiện thực tế địa phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

3. Chính phủ quy định chi tiết về Chi nhánh.

Điều 12. Lựa chọn ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý

Cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý căn cứ nhu cầu trợ giúp pháp lý, nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương và các điều kiện sau đây để lựa chọn tổ chức ký hợp đồng trợ giúp pháp lý:

1. Có lĩnh vực đăng ký hoạt động phù hợp với lĩnh vực trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này.

2. Có uy tín trong hành nghề luật sư hoặc tư vấn pháp luật.

3. Có ít nhất 01 luật sư làm việc thường xuyên tại tổ chức.

4. Có cơ sở vật chất phù hợp với hoạt động trợ giúp pháp lý.

5. Không đang trong thời gian phải thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính hoặc hình sự trong hoạt động hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật. Trường hợp đã thực hiện hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này thì không được lựa chọn ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý trong thời gian ít nhất là 02 năm kể từ khi có kết luận vi phạm.

Điều 13. Hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý

1. Hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý là thỏa thuận giữa cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý và tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 12 của Luật này hoặc là thỏa thuận giữa Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước với luật sư về việc thực hiện trợ giúp pháp lý.

2. Trong trường hợp địa phương không đủ nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý Trung ương lựa chọn và ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với các tổ chức có nguyện vọng và đủ điều kiện theo quy định tại Điều 12 của Luật này.
Trong trường hợp Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước không bảo đảm đáp ứng được nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương thì cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý địa phương lựa chọn và ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với tổ chức có nguyện vọng và đủ điều kiện theo quy định tại Điều 12 của Luật này.

3. Hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý được lập theo pháp luật dân sự.

4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định trình tự, tiêu chí lựa chọn, mẫu hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý.

Điều 14. Đăng ký tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý

1. Các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật có tư cách pháp nhân, đủ các điều kiện quy định tại khoản 1, 2, 4, 5 Điều 12 và có ít nhất 01 tư vấn viên pháp luật có 05 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên hoặc 01 luật sư làm việc thường xuyên tại tổ chức, tự nguyện thực hiện trợ giúp pháp lý bằng nguồn lực của mình được đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.

2. Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý phải đăng ký về phạm vi, hình thức, lĩnh vực, đối tượng trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt động.

3. Việc đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý được thực hiện theo mẫu thống nhất do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành và phù hợp với nội dung được ghi trong Giấy đăng ký hoạt động.

4. Chính phủ quy định chi tiết thủ tục đăng ký, cấp và thu hồi Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.

Điều 15. Chấm dứt thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý

1. Tổ chức ký hợp đồng trợ giúp pháp lý chấm dứt thực hiện trợ giúp pháp lý trong các trường hợp sau:

a) Không còn đáp ứng các điều kiện ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này;

b) Chấm dứt theo hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý;

c) Thực hiện trợ giúp pháp lý gây hậu quả nghiêm trọng.

2. Tổ chức đăng ký trợ giúp pháp lý chấm dứt thực hiện trợ giúp pháp lý trong các trường hợp sau:

a) Không còn đáp ứng các điều kiện đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này;

b) Tự chấm dứt tham gia trợ giúp pháp lý sau khi đã thông báo với Sở Tư pháp nơi đăng ký trợ giúp pháp lý;

c) Không thực hiện trợ giúp pháp lý trong 06 tháng liên tục;

d) Chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật.

3. Khi chấm dứt thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý có trách nhiệm thông báo cho cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý về việc chấm dứt thực hiện trợ giúp pháp lý và chuyển hồ sơ vụ việc chưa hoàn thành đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý được phân công để tiếp tục thực hiện.

Điều 16. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý

1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện trợ giúp pháp lý;

b) Đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu về vụ việc trợ giúp pháp lý;

c) Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện trợ giúp pháp lý;

d) Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo, truyền thông về trợ giúp pháp lý;

đ) Giải quyết khiếu nại theo quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này;

e) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý;

g) Thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý ủy quyền hoặc yêu cầu.

2. Tổ chức ký hợp đồng trợ giúp pháp lý thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều này và theo hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý.

3. Tổ chức đăng ký trợ giúp pháp lý thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều này.

CHƯƠNG IV:

NGƯỜI THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Điều 17. Người thực hiện trợ giúp pháp lý

1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm:

a) Trợ giúp viên pháp lý.

b) Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;

c) Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên, làm việc tại tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý;

d) Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước;

2. Hàng năm, Bộ Tư pháp công bố hoặc ủy quyền công bố danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này.
Sở Tư pháp công bố hoặc ủy quyền công bố danh sách cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương quy định tại điểm d khoản 1 Điều này.

Điều 18. Tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý

Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có Bằng cử nhân luật trở lên, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý có thể trở thành Trợ giúp viên pháp lý. Điều 18a. Tập sự trợ giúp pháp lý (Điều 22 do Chính phủ trình)

1. Viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư, người được miễn đào tạo nghề luật sư theo quy định của Luật Luật sư được tập sự trợ giúp pháp lý tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
Thời gian tập sự trợ giúp pháp lý là 12 tháng. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước phân công Trợ giúp viên pháp lý hướng dẫn người tập sự trợ giúp pháp lý và cấp Giấy xác nhận tập sự trợ giúp pháp lý. Trợ giúp viên pháp lý hướng dẫn tập sự phải là người có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm Trợ giúp viên pháp lý. Tại cùng một thời điểm, 01 Trợ giúp viên pháp lý không được hướng dẫn tập sự quá 02 người.

2. Theo quy định của pháp luật và có sự giám sát của người hướng dẫn tập sự, người tập sự trợ giúp pháp lý tham gia các hoạt động nghề nghiệp trợ giúp pháp lý nhưng không được đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý tại phiên tòa, không được ký văn bản tư vấn pháp luật.
Người hướng dẫn tập sự phải chịu trách nhiệm về các hoạt động nghề nghiệp và chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý có sự tham gia của người tập sự trợ giúp pháp lý quy định tại khoản này.

3. Người thuộc trường hợp được miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư theo quy định của Luật luật sư thì được miễn, giảm thời gian tập sự trợ giúp pháp lý.

4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết việc tập sự, kiểm tra kết quả tập sự trợ giúp pháp lý và mẫu Giấy chứng nhận kết quả kiểm tra tập sự trợ giúp pháp lý.

Điều 19. Bổ nhiệm, cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý

1. Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước lựa chọn những người làm việc ở Trung tâm có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 18 và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này đề nghị Giám đốc Sở Tư pháp lập hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý.

2. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý bao gồm:

a) Công văn đề nghị bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý của Giám đốc Sở Tư pháp, kèm theo văn bản đề nghị của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý;

b) Lý lịch trích ngang của người được đề nghị bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý kèm hai ảnh màu chân dung cỡ 2cm x 3cm;

c) Bản sao Bằng cử nhân luật, bản sao Bằng thạc sỹ luật hoặc bản sao Bằng tiến sỹ luật;

d) Bản sao Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý; trường hợp được miễn tập sự trợ giúp pháp lý thì phải có bản sao giấy tờ chứng minh là người được miễn tập sự trợ giúp pháp lý quy định tại Điều 18a của Luật này;

đ) Giấy chứng nhận sức khỏe.

3. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định bổ nhiệm và cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý; trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 19a. Cộng tác viên trợ giúp pháp lý

1. Trong trường hợp số lượng Trợ giúp viên pháp lý, luật sư, tư vấn viên pháp luật ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn không bảo đảm đáp ứng yêu cầu trợ giúp pháp lý của người dân, Trung tâm trợ giúp pháp lý và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý có thể ký hợp đồng để thực hiện tư vấn pháp luật với người có bằng cử nhân luật; thẩm phán; kiểm sát viên; điều tra viên; thẩm tra viên chính, thẩm tra viên cao cấp ngành Tòa án; kiểm tra viên chính, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên chính, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý mà không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này có thể được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
Cộng tác viên trợ giúp pháp lý không tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý trong thời gian 01 năm thì sẽ bị Giám đốc Sở Tư pháp xem xét thu hồi thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

Điều 20. Thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý

1. Trợ giúp viên pháp lý bị thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Thuộc một trong các trường hợp không được thực hiện trợ giúp pháp lý quy định tại điểm a, c, d, đ, e khoản 1 Điều 24 của Luật này;

b) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự;

c) Chuyển công tác khác hoặc nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động;

d) Vì lý do sức khỏe, hoàn cảnh gia đình hoặc lý do chính đáng khác mà không thể bảo đảm hoàn thành công việc được giao;

đ) Không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời hạn 02 năm liên tục.

2. Giám đốc Sở Tư pháp lập hồ sơ gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý đối với người thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Hồ sơ đề nghị thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý bao gồm:

a) Công văn đề nghị thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý của Giám đốc Sở Tư pháp;

b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh Trợ giúp viên pháp lý thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ra quyết định thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý.

Điều 21. Cấp lại thẻ Trợ giúp viên pháp lý

1. Thẻ Trợ giúp viên pháp lý được cấp lại trong các trường hợp sau:

a) Bị mất hoặc bị hư hỏng;

b) Thẻ Trợ giúp viên pháp lý đã bị thu hồi nhưng sau đó người bị thu hồi thẻ đáp ứng các điều kiện cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật này.

2. Thủ tục cấp lại thẻ Trợ giúp viên pháp lý được thực hiện theo quy định tại Điều 19 của Luật này.
Đã được tiếp thu, chỉnh lý và chuyển lên thành Điều 18a.

Điều 22. Đã được tiếp thu, chỉnh lý và chuyển lên thành Điều 18a.

Điều 23. Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý

1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý có các quyền và nghĩa vụ sau:

a) Thực hiện trợ giúp pháp lý;

b) Được bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý độc lập, không bị đe dọa, cản trở, sách nhiễu hoặc can thiệp trái pháp luật;

c) Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 24 và khoản 1 Điều 39 của Luật này và theo quy định của pháp luật về tố tụng;

d) Được bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng trợ giúp pháp lý;

đ) Bảo đảm chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý;

e) Tuân thủ nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý;

g) Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý;

h) Hoàn trả một khoản tiền cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã trả cho người bị thiệt hại do lỗi của mình gây ra khi thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

2. Trợ giúp viên pháp lý có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này và các quyền, nghĩa vụ sau đây:

a) Bảo đảm chỉ tiêu vụ việc trợ giúp pháp lý do Bộ Tư pháp giao;

b) Tham gia các khóa tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

c) Thực hiện nhiệm vụ khác được phân công;

d) Được hưởng phụ cấp; bồi dưỡng vụ việc và chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Chính phủ.

3. Luật sư ký hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, luật sư, tư vấn viên pháp luật của tổ chức ký hợp đồng trợ giúp pháp lý được hưởng thù lao và chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

Điều 24. Các trường hợp không được thực hiện hoặc từ chối thực hiện trợ giúp pháp lý

1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý không được thực hiện trợ giúp pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Thực hiện hoặc tham gia thực hiện hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này;

b) Bị thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý, Chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ Tư vấn viên pháp luật mà chưa được cấp lại;

c) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

d) Đã bị kết án mà chưa được xoá án tích;

đ) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

e) Các trường hợp không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng.

2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ chối thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đã hoặc đang thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý là các bên có quyền lợi đối lập nhau trong cùng một vụ việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

b) Có quyền, lợi ích hợp pháp có liên quan hoặc có người thân thích liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý;

c) Có căn cứ khác cho rằng người thực hiện trợ giúp pháp lý có thể không khách quan trong thực hiện trợ giúp pháp lý;

d) Có lý do cho thấy không thể thực hiện vụ việc một cách hiệu quả, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người được trợ giúp pháp lý.

3. Trong trường hợp người thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ chối theo quy định tại khoản 2 Điều này, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phải thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người được trợ giúp pháp lý và cử người khác thực hiện trợ giúp pháp lý.

CHƯƠNG V:

PHẠM VI, LĨNH VỰC, HÌNH THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Điều 25. Phạm vi thực hiện trợ giúp pháp lý

1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi sau đây:

a) Người được trợ giúp pháp lý đang cư trú tại địa phương;

b) Vụ việc trợ giúp pháp lý xảy ra tại địa phương;

c) Vụ việc trợ giúp pháp lý do cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý Trung ương yêu cầu.

2. Tổ chức ký hợp đồng trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi hợp đồng.

3. Tổ chức đăng ký trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi đăng ký.

Điều 26. Lĩnh vực, hình thức trợ giúp pháp lý

1. Trợ giúp pháp lý được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại.

2. Các hình thức trợ giúp pháp lý bao gồm:

a) Tham gia tố tụng;

b) Tư vấn pháp luật;

c) Đại diện ngoài tố tụng.

Điều 27. Địa điểm tiếp người được trợ giúp pháp lý

1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bố trí nơi tiếp người được trợ giúp pháp lý bảo đảm các điều kiện để họ trình bày yêu cầu được dễ dàng, thuận lợi.

2. Tại nơi tiếp phải niêm yết lịch tiếp, nội quy tiếp người được trợ giúp pháp lý.

3. Người được trợ giúp pháp lý được tiếp tại trụ sở của tổ chức trợ giúp pháp lý hoặc địa điểm khác trong trường hợp cần thiết.

Điều 28. Tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý

1. Người thuộc đối tượng quy định tại Điều 7 của Luật này có thể tự mình, thông qua người thân thích hoặc tổ chức, cá nhân khác yêu cầu trợ giúp pháp lý.

2. Yêu cầu trợ giúp pháp lý được nộp thông qua một trong các cách thức sau đây:

a) Nộp trực tiếp tại trụ sở của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc gặp người thực hiện trợ giúp pháp lý được phân công.
Trường hợp yêu cầu trợ giúp pháp lý là vướng mắc pháp luật đơn giản, người tiếp nhận không thụ lý yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 29 của Luật này mà hướng dẫn, giải đáp, cung cấp thông tin pháp luật ngay cho người có yêu cầu và ghi vào Sổ tiếp người được trợ giúp pháp lý.

b) Thông qua hệ thống trực tuyến điện tử, dịch vụ bưu chính, fax đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc người thực hiện trợ giúp pháp lý được phân công.

3. Người có yêu cầu trợ giúp pháp lý phải nộp 01 bộ hồ sơ cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Trong trường hợp hồ sơ yêu cầu trợ giúp pháp lý được nộp theo điểm a khoản 2 Điều này, người có yêu cầu trợ giúp pháp lý nộp đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý và xuất trình bản chính giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.
Trong trường hợp hồ sơ yêu cầu trợ giúp pháp lý được nộp theo điểm b khoản 2 Điều này, hồ sơ gồm có đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý và bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.

Điều 29. Thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý

1. Yêu cầu trợ giúp pháp lý chỉ được thụ lý khi liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thuộc đối tượng quy định tại Điều 7 và phù hợp với quy định của Luật này.

2. Người tiếp nhận phải kiểm tra các nội dung có liên quan đến yêu cầu trợ giúp pháp lý và trả lời ngay cho người có yêu cầu về việc hồ sơ đủ điều kiện để thụ lý hoặc phải bổ sung các giấy tờ, tài liệu có liên quan. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ chối thụ lý và thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người có yêu cầu trong các trường hợp sau:

a) Yêu cầu trợ giúp pháp lý không đáp ứng yêu cầu của khoản 1 Điều này;

b) Yêu cầu trợ giúp pháp lý có nội dung trái pháp luật;

c) Người được trợ giúp pháp lý đã chết;

d) Vụ việc đang được một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác giải quyết.

3. Trong trường hợp người yêu cầu chưa thể cung cấp đầy đủ hồ sơ theo quy định tại khoản 3 Điều 28 nhưng cần thực hiện trợ giúp pháp lý ngay để tránh gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý thì người tiếp nhận báo cáo người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và thụ lý ngay, đồng thời hướng dẫn người được trợ giúp pháp lý bổ sung các giấy tờ cần thiết.
Trường hợp cần thực hiện trợ giúp pháp lý ngay theo khoản này là trường hợp vụ việc sắp hết thời hiệu khởi kiện, vụ việc sắp đến ngày xét xử hoặc vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.

Điều 30. Thực hiện trợ giúp pháp lý

Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải tận tâm, tuân thủ các nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý, nghiên cứu đầy đủ, toàn diện giấy tờ, tài liệu có trong hồ sơ vụ việc liên quan đến yêu cầu trợ giúp pháp lý, các tình tiết của vụ việc và các quy định của pháp luật có liên quan; ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý và quản lý vụ việc trợ giúp pháp lý.

Điều 31. Tham gia tố tụng

1. Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này và pháp luật về tố tụng.

2. Khi người được trợ giúp pháp lý là người bị bắt yêu cầu cử người bào chữa, trong thời hạn không quá 12 giờ kể từ thời điểm thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng.
Khi người được trợ giúp pháp lý không phải là người bị bắt yêu cầu cử người tham gia tố tụng, trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng.

3. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của người bị buộc tội, người bị hại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương. Ngay khi nhận được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có trách nhiệm thụ lý theo quy định tại khoản 3 Điều 29 của Luật này và cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng.
Việc cử người tham gia tố tụng phải được lập thành văn bản và gửi cho người được trợ giúp pháp lý, cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan.

Điều 32. Tư vấn pháp luật

1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý tư vấn pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý bằng việc hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến tranh chấp, vướng mắc pháp luật của họ; tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại; hướng dẫn để các bên thương lượng, hòa giải, thống nhất hướng giải quyết vụ việc.

2. Trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày thụ lý vụ việc hoặc nhận đủ các giấy tờ, tài liệu cần bổ sung, người thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho người được trợ giúp pháp lý; trong trường hợp vụ việc phức tạp hoặc cần có thời gian để xác minh thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, trừ khi có sự thỏa thuận khác với người được trợ giúp pháp lý.

Điều 33. Đại diện ngoài tố tụng

1. Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý.
Việc cử người thực hiện đại diện ngoài tố tụng phải được lập thành văn bản và gửi cho người được trợ giúp pháp lý.

3. Khi thực hiện đại diện ngoài tố tụng, người thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm tuân thủ quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

Điều 34. Phối hợp xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý

1. Trong trường hợp cần xác minh các tình tiết, sự kiện có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý ở địa phương khác thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã thụ lý vụ việc yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý nơi cần xác minh phối hợp thực hiện. Yêu cầu xác minh phải bằng văn bản, nêu rõ nội dung cần xác minh và thời hạn trả lời.

2. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý được yêu cầu xác minh có trách nhiệm thực hiện xác minh trong thời gian không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu và gửi kết quả bằng văn bản kèm theo các giấy tờ, tài liệu có liên quan cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý yêu cầu.

3. Văn bản yêu cầu xác minh, văn bản thông báo kết quả thực hiện và các giấy tờ, tài liệu có liên quan phải được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý.

Điều 35. Chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý

1. Trong trường hợp từ chối yêu cầu trợ giúp pháp lý vì không đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 25 của Luật này, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có thẩm quyền và thông báo cho người có yêu cầu biết.

2. Trong trường hợp không đủ nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương và thông báo cho người có yêu cầu biết.

3. Trong trường hợp địa phương không đủ nguồn lực thực hiện, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý đến cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý Trung ương để phân công tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác giải quyết và thông báo cho người có yêu cầu biết.

Điều 36. Kiến nghị trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý kiến nghị bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý. Cơ quan nhận được kiến nghị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày, trừ trường hợp pháp luật có quy định về thời hạn trả lời. Trong trường hợp quá thời hạn nói trên mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc không trả lời thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý được kiến nghị với lãnh đạo cấp trên trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó để có biện pháp chỉ đạo, xử lý.

Điều 37. Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý

1. Đối với vụ việc trợ giúp pháp lý được thụ lý, khi thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải lập hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý. Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý gồm có:

a) Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý;

b) Giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý;

c) Các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.

2. Đối với vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện bằng hình thức tư vấn pháp luật, ngoài các giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này, trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý còn phải có văn bản tư vấn pháp luật.

3. Đối với vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện bằng hình thức tham gia tố tụng, ngoài các giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này, trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý còn phải có các giấy tờ sau đây:

a) Văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý;

b) Bản bào chữa, bản bảo vệ quyền lợi cho người được trợ giúp pháp lý;

c) Bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án; văn bản tố tụng khác liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý do cơ quan tiến hành tố tụng cấp (nếu có).

4. Đối với vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện bằng hình thức đại diện ngoài tố tụng, ngoài các giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này, trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý còn phải có bản báo cáo về những công việc đã thực hiện trong phạm vi đại diện ngoài tố tụng của người thực hiện trợ giúp pháp lý.

Điều 38. Lưu trữ hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý

1. Trong thời hạn không quá 60 ngày, kể từ ngày hoàn thành vụ việc, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải bàn giao hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.

2. Hồ sơ của từng vụ việc trợ giúp pháp lý được phân loại, đánh số, sắp xếp theo thứ tự thời gian, hình thức, lĩnh vực pháp luật trợ giúp pháp lý và được lưu trữ trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày hồ sơ được bàn giao.

3. Hồ sơ điện tử của từng vụ việc được số hóa, cập nhật vào hệ thống quản lý vụ việc trợ giúp pháp lý và lưu trữ tại cơ sở dữ liệu về trợ giúp pháp lý.

Điều 39. Không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý

1. Vụ việc trợ giúp pháp lý không được tiếp tục thực hiện khi phát hiện một trong các trường hợp sau đây:

a) Các trường hợp phải từ chối theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này;

b) Người được trợ giúp pháp lý thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật này;

c) Người được trợ giúp pháp lý xâm phạm nghiêm trọng nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý;

d) Người được trợ giúp pháp lý rút yêu cầu trợ giúp pháp lý.

2. Trường hợp không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức hoặc người thực hiện trợ giúp pháp lý phải thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người được trợ giúp pháp lý.

CHƯƠNG VI:

TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Điều 40. Trách nhiệm quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.

2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý;

b) Xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành chiến lược, kế hoạch phát triển trợ giúp pháp lý và tổ chức triển khai thực hiện;

c) Hướng dẫn, tổ chức và theo dõi việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý;

d) Hỗ trợ, điều phối nguồn lực để bảo vệ quyền của các đối tượng được trợ giúp pháp lý trong các vụ việc địa phương không đủ nguồn lực thực hiện;

đ) Ban hành các quy định hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; mẫu giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý;

e) Quản lý, hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước; xây dựng các biện pháp hỗ trợ phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý; truyền thông về trợ giúp pháp lý;

g) Tổ chức tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện trợ giúp pháp lý;

h) Tổ chức thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý;

i) Thanh tra, kiểm tra tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và hoạt động trợ giúp pháp lý; khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm trong hoạt động trợ giúp pháp lý;

k) Tiếp nhận hỗ trợ đóng góp của các tổ chức, cá nhân cho công tác trợ giúp pháp lý; thực hiện quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý.

3. Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lý và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.

4. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý tại địa phương; bảo đảm số lượng người làm việc, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; thực hiện thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm về trợ giúp pháp lý trong phạm vi địa phương.
Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý tại địa phương, thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Điều 41. Trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng

Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Luật này trong hệ thống các cơ quan trực thuộc và phối hợp với Bộ Tư pháp trong thực hiện chức năng giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.

Điều 42. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan

Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình nếu phát hiện công dân thuộc diện người được trợ giúp pháp lý, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và giới thiệu đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.

Điều 43. Trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư

1. Liên đoàn luật sư Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp quản lý, giám sát, theo dõi việc thực hiện trợ giúp pháp lý của luật sư theo quy định của Luật này.

2. Đoàn luật sư các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phối hợp với Sở Tư pháp quản lý, giám sát, theo dõi việc thực hiện trợ giúp pháp lý của luật sư theo quy định của Luật này.

Điều 44. Trách nhiệm của tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật

Tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý trợ giúp pháp lý trong quản lý, giám sát tư vấn viên pháp luật, tổ chức tư vấn pháp luật thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này.

CHƯƠNG VII:

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP

Điều 45. Giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Người được trợ giúp pháp lý có quyền khiếu nại đối với các hành vi sau đây của tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình:

a) Từ chối thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý;

b) Không thực hiện trợ giúp pháp lý;

c) Thực hiện trợ giúp pháp lý không đúng pháp luật;

d) Thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý không đúng pháp luật.
Người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với các hành vi quy định tại khoản này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại; trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Giám đốc Sở Tư pháp. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm giải quyết khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Sở Tư pháp là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành.

2. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại về quyết định xử lý kỷ luật, quyết định xử phạt hành chính và các quyết định hành chính, hành vi hành chính khác trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

3. Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm các quy định của Luật này. Việc tố cáo và giải quyết tố cáo thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Điều 46. Giải quyết tranh chấp

1. Trong trường hợp có tranh chấp giữa người được trợ giúp pháp lý với Trợ giúp viên pháp lý, tư vấn viên pháp luật, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, tổ chức tư vấn pháp luật liên quan đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

2. Trong trường hợp có tranh chấp giữa người được trợ giúp pháp lý và luật sư, tổ chức hành nghề luật sư liên quan đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về luật sư và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

CHƯƠNG VIII:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 47. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày tháng năm 2017. Luật Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

Điều 48. Điều khoản chuyển tiếp

1. Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực, người được bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11 phải hoàn thiện việc tham gia đào tạo nghề luật sư. Hết thời hạn này mà người đó không có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư thì sẽ chấm dứt tư cách Trợ giúp viên pháp lý.

2. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát các Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước đã được thành lập và căn cứ vào nhu cầu trợ giúp pháp lý, nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý và hiệu quả hoạt động báo cáo Bộ Tư pháp để thống nhất về việc tiếp tục duy trì, sáp nhập hoặc giải thể các Chi nhánh.

3. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, người tham gia trợ giúp pháp lý theo Luật trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11 phải đáp ứng theo yêu cầu của Luật này; trong trường hợp không đáp ứng các yêu cầu của Luật này thì chấm dứt tư cách tham gia trợ giúp pháp lý và chuyển hồ sơ vụ việc đang thực hiện cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước nơi đăng ký tham gia để thực hiện theo quy định của Luật này.

Điều 49. Quy định chi tiết

Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật này.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệuKhông số
Ngày ban hành22/06/2017
Loại văn bảnDự thảo
Ngày có hiệu lực22/06/2017
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýBộ Tư pháp
Phạm viTrung ương, Bộ Tư pháp
Trích yếuLuật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi)
Tình trạng hiệu lựcĐã thông qua

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.