Quay lại

Dự thảo Không số Luật xử lý vi phạm hành chính

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về xử lý vi phạm hành chính, bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính theo quy định tại Luật này.

3. Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Biện pháp xử lý hành chính bao gồm giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục và đưa vào cơ sở chữa bệnh.

4. Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính là biện pháp mang tính giáo dục, phòng ngừa được áp dụng để thay thế cho các hình thức xử phạt hành chính hoặc các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính.

5. Tái phạm là việc cá nhân, tổ chức vi phạm đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định này mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử phạt, xử lý.

6. Vi phạm nhiều lần là trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý.

7. Vi phạm có tổ chức là trường hợp cá nhân, tổ chức câu kết với cá nhân, tổ chức khác để cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính.

8. Giấy phép, chứng chỉ hành nghề là giấy tờ do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền cấp cho cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật để cá nhân, tổ chức đó kinh doanh, hoạt động, hành nghề hoặc sử dụng công cụ, phương tiện.Giấy phép, chứng chỉ hành nghề không bao gồm giấy đăng ký kinh doanh, chứng chỉ gắn với nhân thân người được cấp không có mục đích cho phép hành nghề.

9. Chỗ ở là nhà ở, phương tiện hoặc địa điểm khác mà cá nhân sử dụng để cư trú.

10. Tổ chức là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị trực thuộc tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác.

11. Tình thế cấp thiết là tình thế của cá nhân, tổ chức vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

12. Phòng vệ chính đáng là hành vi của cá nhân vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

13. Sự kiện bất ngờ là trường hợp cá nhân, tổ chức không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi nguy hại cho xã hội do mình gây ra.

14. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

15. Người không có năng lực trách nhiệm hành chính là người thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

16. Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này.

Điều 3. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính

1. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;

b) Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, bảo đảm công bằng, bình đẳng, đúng quy định của pháp luật;

c) Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả thích hợp;

d) Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.
Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt.
Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;

đ) Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh hành vi vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền chứng minh mình không vi phạm;

e) Áp dụng các hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với người chưa thành niên vi phạm nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi vi phạm.

2. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính bao gồm:

a) Cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng được quy định tại các điều 93, 95, 97 và 99 của Luật này;

b) Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải được thực hiện theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều này;

c) Việc quyết định thời hạn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

d) Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh hành vi vi phạm. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền chứng minh mình không vi phạm.

Điều 4. Thẩm quyền quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

Căn cứ các quy định của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm; quy định thẩm quyền xử phạt, và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước; quy định chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

Điều 5. Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính

1. Các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính.
Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện và những người thuộc lực lượng Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với các công dân khác; trong trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng một số giấy phép hoạt động vì mục đích quốc phòng, an ninh thì người xử phạt không trực tiếp xử lý mà đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội, Công an có thẩm quyền xử lý theo điều lệnh kỷ luật;

b) Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. Sau khi chấp hành quyết định xử phạt, tổ chức bị xử phạt xác định cá nhân có lỗi gây ra vi phạm hành chính để chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật;

c) Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ Việt Nam thì bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

2. Đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là cá nhân được quy định tại các điều 93, 95, 97 và 99 của Luật này.
Các biện pháp xử lý hành chính quy định tại Luật này không áp dụng đối với cá nhân là người nước ngoài.

Điều 6. Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

a) Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 1 (một) năm.
Đối với vi phạm hành chính về kế toán, thủ tục thuế, phí, lệ phí, kinh doanh bảo hiểm, giá, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, môi trường, năng lượng nguyên tử, nhà ở, đất đai, đê điều, xuất bản, báo in, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh hoặc vi phạm hành chính về sản xuất, tàng trữ, buôn bán hàng cấm, hàng giả, buôn lậu thì thời hiệu xử phạt là 2 (hai) năm.
Đối với vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt theo quy định của pháp luật thuế;

b) Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được quy định như sau:
Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.
Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.
Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án hoặc đối tượng không bị khởi tố bị can mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 3 (ba) tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ, quyết định chuyển đối tượng để xử phạt hành chính và hồ sơ vụ vi phạm;
Đối với các vụ việc có dấu hiệu tội phạm mà người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng nhưng sau đó không bị khởi tố thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 3 (ba) tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng.

c) Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà cá nhân, tổ chức lại thực hiện vi phạm hành chính mà trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt;

d) Nếu quá các thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì không áp dụng hình thức xử phạt nhưng vẫn áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này và tịch thu sung quỹ nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành.

2. Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quy định như sau:

a) Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 1 (một) năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 93; là 6 (sáu) tháng, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 và 4 Điều 93; là 6 (sáu) tháng, kể từ ngày thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 và 5 Điều 93 của Luật này;

b) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là 1 (một) năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và 2 Điều 95; là 6 (sáu) tháng, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 95 hoặc kể từ ngày thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 95 của Luật này;

c) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục là 1 (một) năm, kể từ ngày thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 97 của Luật này;

d) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh là 6 (sáu) tháng, kể từ ngày thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 99 của Luật này.

Điều 7. Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính

1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 1 (một) năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 2 (hai) năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử lý hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử lý mà không tái phạm thì được coi như chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 8. Cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính

1. Thời gian ban đêm trong Luật này được tính từ 22 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ ngày hôm sau.

2. Cách tính thời hạn, thời hiệu trong Luật này được áp dụng cách tính theo quy định của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp Luật có quy định cụ thể cách tính thời gian theo ngày làm việc.

Điều 9. Tình tiết giảm nhẹ

1. Những tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ:

a) Người vi phạm đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại;

b) Người vi phạm đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi;

c) Vi phạm trong tình trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra;

d) Vi phạm do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần;

đ) Người vi phạm là phụ nữ mang thai, người già yếu; người có bệnh hoặc khuyết tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

e) Vi phạm vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra;

g) Vi phạm do trình độ lạc hậu.

2. Ngoài những tình tiết quy định tại khoản 1 Điều này, Chính phủ có thể quy định những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trong các nghị định quy định về xử lý vi phạm hành chính.

Điều 10. Tình tiết tăng nặng

1. Chỉ những tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng:

a) Vi phạm có tổ chức;

b) Vi phạm nhiều lần;

c) Tái phạm;

d) Xúi giục, lôi kéo, sử dụng người chưa thành niên vi phạm; ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần vi phạm;

đ) Sử dụng người biết rõ là đang bị tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi để vi phạm;

e) Lăng mạ, phỉ báng cán bộ đang thi hành công vụ, vi phạm có tính chất côn đồ, vi phạm trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc các chất kích thích khác;

g) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm;

h) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm;

i) Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp hành quyết định áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính;

k) Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó;

l) Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính;

m) Vi phạm có quy mô, số lượng hàng hóa hoặc trị giá hàng hóa vi phạm lớn;

n) Vi phạm đối với nhiều người, trẻ em, người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai.

2. Những tình tiết quy định tại khoản 1 Điều này đã được quy định là hành vi vi phạm hành chính thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

Điều 11. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính

1. Không xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp sau đây:

a) Vi phạm trong tình thế cấp thiết;

b) Vi phạm do phòng vệ chính đáng;

c) Vi phạm do sự kiện bất ngờ;

d) Vi phạm do sự kiện bất khả kháng;

đ) Người vi phạm không có năng lực trách nhiệm hành chính; người vi phạm chưa đủ tuổi bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Luật này.

2. Đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt nhưng vẫn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả và tịch thu sung quỹ nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành.

Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm

1. Giữ lại các vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử phạt vi phạm hành chính.

2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, dung túng, bao che khi xử phạt hành chính hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

3. Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính.

4. Không xử phạt vi phạm hành chính, không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

5. Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng quy định tại Luật này.

6. Áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính.

7. Can thiệp trái pháp luật việc xử lý vi phạm hành chính.

8. Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

9. Sử dụng tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính hoặc từ bán tang vật, phương tiện bị tịch thu để khen thưởng, hỗ trợ kinh phí cho cơ quan, tổ chức, cá nhân xử lý vi phạm hành chính hoặc sử dụng trái các quy định khác của pháp luật.

10. Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ vụ vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

11. Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị xử phạt vi phạm hành chính, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính.

12. Chống đối, trốn tránh, trì hoãn hoặc cản trở chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 13. Bồi thường thiệt hại

1. Người vi phạm hành chính nếu gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự.

2. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Trách nhiệm đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính

1. Cá nhân, tổ chức phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Các tổ chức có nhiệm vụ giáo dục thành viên thuộc tổ chức mình về ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, các quy tắc của cuộc sống xã hội, kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân, điều kiện gây ra vi phạm hành chính trong tổ chức mình.

2. Khi phát hiện có vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm xử lý vi phạm đó theo đúng quy định của pháp luật.

3. Cá nhân, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, tố cáo và đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính.

Điều 15. Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính

1. Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

2. Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về tố cáo.

3. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, khiếu kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính bị khiếu nại, khiếu kiện sẽ gây hậu quả khó khắc phục, thì người giải quyết khiếu nại, khiếu kiện phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định pháp luật.

Điều 16. Trách nhiệm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

1. Trong quá trình xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải tuân thủ các quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, không đúng mức, xử lý vượt thẩm quyền quy định hoặc vi phạm quy định khác tại Điều 12 và các điều khác của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 17. Trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

1. Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Đề xuất, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

b) Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

c) Theo dõi chung và báo cáo về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính;

d) Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

3. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều này, hàng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của cơ quan mình.

4. Ủy ban nhân dân các cấp quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

b) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

c) Hàng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn.
Cơ quan tư pháp ở cấp tỉnh, cấp huyện, công chức tư pháp - hộ tịch ở cấp xã có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương.

Điều 18. Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý vi phạm hành chính

1. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:

a) Thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc xử lý vi phạm hành chính của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình, kịp thời xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

b) Không được can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính và phải chịu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm của người có thẩm quyền xử phạt thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình theo quy định của pháp luật;

c) Không được để xảy ra hành vi tham nhũng của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính do mình quản lý, phụ trách.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:

a) Thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra việc xử lý vi phạm hành chính của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình;

b) Xử lý kỷ luật đối với người có sai phạm trong xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình;

c) Giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính trong ngành, lĩnh vực mình phụ trách theo quy định của pháp luật;

d) Phát hiện quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót thì phải kịp thời xử lý hoặc xem xét sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền.

Điều 19. Giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính.

Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính; khi phát hiện hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thì có quyền yêu cầu, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó theo quy định của pháp luật.

Điều 20. Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Công dân, tổ chức Việt Nam vi phạm pháp luật hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngoài lãnh thổ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật này. PHẦN THỨ HAI: XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

CHƯƠNG I:

CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ

Mục 1: Các hình thức xử phạt

Điều 21. Các hình thức xử phạt và nguyên tắc áp dụng

1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Trục xuất;

e) Buộc học tập các quy định pháp luật liên quan đến vi phạm.

2. Hình thức xử phạt quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính.
Các hình thức xử phạt quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này có thể được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính hoặc hình thức xử phạt bổ sung.
Hình thức xử phạt quy định tại điểm e khoản 1 Điều này chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt bổ sung.

3. Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính; có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung quy định tại khoản 1 Điều này. Hình thức xử phạt bổ sung chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính.

Điều 22. Cảnh cáo

Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản.

Điều 23. Phạt tiền

1. Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính là từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức, trừ trường hợp quy định tại luật khác.
Đối với những hành vi vi phạm hành chính do cá nhân thực hiện thì mức phạt tiền tối đa phải dưới mức tối thiểu của phạt tiền là hình phạt chính đối với loại hành vi phạm tội tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự.

2. Chính phủ quy định khung phạt đối với hành vi vi phạm hành chính cụ thể theo một trong các phương thức sau đây nhưng khung phạt cao nhất không vượt quá mức phạt tiền tối đa quy định tại Điều 24 của Luật này:

a) Xác định số tiền phạt tối thiểu, tối đa;

b) Xác định số lần, tỷ lệ phần trăm (%) của giá trị, số lượng hàng hóa, tang vật vi phạm, đối tượng bị vi phạm hoặc doanh thu, số lợi thu được từ vi phạm hành chính.

3. Đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc trung ương, Chính phủ có thể quy định mức phạt tiền cao hơn không quá 2 (hai) lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm về giao thông, môi trường và trật tự quản lý đô thị nhưng không vượt quá mức phạt tiền tối đa trong từng lĩnh vực tương ứng được quy định tại Điều 24 của Luật này.

4. Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 9 của Luật này thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.

Điều 24. Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực

1. Lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội:

a) An ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình: 50.000.000 đồng;

b) Phòng cháy, chữa cháy: 100.000.000 đồng.

2. Lĩnh vực quốc phòng, an ninh quốc gia:

a) Quốc phòng, cơ yếu; quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia: 100.000.000 đồng;

b) Quản lý các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: 2.000.000.000 đồng.

3. Lĩnh vực tư pháp:

a) Hành chính tư pháp: 50.000.000 đồng;

b) Thi hành án dân sự: 100.000.000 đồng;

c) Bổ trợ tư pháp; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã: 100.000.000 đồng.

4. Lĩnh vực y tế, sức khỏe:

a) Dân số: 50.000.000 đồng;

b) Khám bệnh, chữa bệnh; bảo hiểm y tế; y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS; mỹ phẩm và trang thiết bị y tế: 100.000.000 đồng;

c) Quản lý dược; an toàn thực phẩm: 200.000.000 đồng.

5. Lĩnh vực văn hóa, giáo dục, thể thao, du lịch:

a) Giáo dục; văn hóa, thể thao, du lịch: 100.000.000 đồng;

b) Quyền tác giả và quyền liên quan: 200.000.000 đồng;

c) Quảng cáo; đặt cược và trò chơi có thưởng: 200.000.000 đồng.

6. Lĩnh vực khoa học, công nghệ:

a) Quản lý khoa học, công nghệ; chuyển giao công nghệ; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hóa; an toàn sinh học: 100.000.000 đồng;

b) Sở hữu công nghiệp: 250.000.000 đồng;

c) Quản lý hạt nhân và chất phóng xạ, năng lượng nguyên tử: 1.000.000.000 đồng.

7. Lĩnh vực lao động - xã hội:

a) Hôn nhân gia đình; bình đẳng giới: 30.000.000 đồng;

b) Bảo vệ, chăm sóc trẻ em: 50.000.000 đồng;

c) Lao động; dạy nghề; bảo hiểm xã hội; bảo trợ, cứu trợ xã hội: 100.000.000 đồng;

d) Quản lý người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: 200.000.000 đồng.

8. Lĩnh vực giao thông:

a) Giao thông đường bộ; giao thông đường sắt; giao thông đường thủy nội địa: 100.000.000 đồng;

b) Giao thông hàng hải; giao thông hàng không dân dụng; quản lý và bảo vệ các công trình giao thông: 200.000.000 đồng.

9. Lĩnh vực thông tin và truyền thông:

a) Chữ ký số: 50.000.000 đồng;

b) Công nghệ thông tin; viễn thông; tần số vô tuyến điện; bưu chính; báo chí, xuất bản: 100.000.000 đồng.

10. Lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp:

a) Quản lý công trình thuỷ lợi; đê điều; phòng chống lụt, bão; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; quản lý và bảo tồn nguồn gen, sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi, cây trồng; sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi, phân bón; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản; thú y: 100.000.000 đồng;

b) Quản lý rừng, lâm sản: 2.000.000.000 đồng.

11. Lĩnh vực thương mại:

a) Sản xuất, buôn bán hàng hóa; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: 200.000.000 đồng;

b) Buôn lậu, gian lận thương mại: 400.000.000 đồng.

12. Lĩnh vực tài chính, ngân hàng:

a) Hải quan; kế toán; kiểm toán độc lập; phí, lệ phí; quản lý tài sản công, hóa đơn; dự trữ quốc gia: 100.000.000 đồng;

b) Thủ tục thuế: 200.000.000 đồng;

c) Kinh doanh xổ số, kinh doanh bảo hiểm; thực hành tiết kiệm chống lãng phí: 200.000.000 đồng;

d) Quản lý giá: 300.000.000 đồng;

đ) Tiền tệ và ngân hàng, tín dụng; chứng khoán và thị trường chứng khoán: 2.000.000.000 đồng.

13. Lĩnh vực công nghiệp:

a) Điện lực, hóa chất: 100.000.000 đồng;

b) Quản lý vật liệu nổ: 200.000.000 đồng.

14. Lĩnh vực xây dựng và quản lý đô thị:

a) Quản lý đô thị (quản lý cây xanh đô thị; trật tự vệ sinh đô thị): 50.000.000 đồng;

b) Kinh doanh bất động sản, khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý, phát triển nhà và công sở: 200.000.000 đồng;

c) Xây dựng: 1.000.000.000 đồng.

15. Lĩnh vực tài nguyên và môi trường:

a) Khí tượng thủy văn; đo đạc bản đồ: 100.000.000 đồng;

b) Thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước: 300.000.000 đồng;

c) Dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường, đất đai: 2.000.000.000 đồng.

16. Lĩnh vực kế hoạch đầu tư:

a) Thống kê; đăng ký kinh doanh: 100.000.000 đồng;

b) Đấu thầu; đầu tư: 200.000.000 đồng.

17. Lĩnh vực lưu trữ; tôn giáo; thi đua khen thưởng: 30.000.000 đồng.

18. Đối với hành vi vi phạm hành chính thuộc các lĩnh vực từ khoản 1 đến khoản 17 của Điều này mà chưa được quy định, thì Chính phủ quy định mức phạt tiền không vượt quá mức tối đa quy định đối với lĩnh vực đó.

19. Đối với các lĩnh vực hoặc nhóm hành vi vi phạm hành chính mới chưa được quy định từ khoản 1 đến khoản 17 Điều này thì Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội; mức phạt tiền tối đa không được quá 1.000.000.000 đồng.

Điều 25. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn

1. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng quy định sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

2. Đình chỉ hoạt động có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong các trường hợp sau:

a) Đình chỉ một phần hoạt động gây hậu quả hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả tới môi trường và tính mạng, sức khỏe con người của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật phải có giấy phép hoạt động;

b) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc hoạt động khác mà theo quy định của pháp luật không phải có giấy phép hoạt động và hoạt động đó gây hậu quả hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả tới môi trường và tính mạng, sức khỏe con người, trật tự, an toàn xã hội.

3. Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, thời hạn đình chỉ hoạt động quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này từ 1 (một) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành. Người có thẩm quyền xử phạt giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép.

Điều 26. Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính là việc sung vào công quỹ nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính. Việc xử lý tang vật, phương tiện bị tịch thu được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật này.

Điều 27. Trục xuất

1. Trục xuất là hình thức xử phạt buộc công dân nước ngoài, người không quốc tịch thường trú ở nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Chính phủ quy định chi tiết việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất.

Điều 28. Buộc học tập các quy định pháp luật liên quan đến vi phạm hành chính

1. Buộc học tập các quy định pháp luật liên quan đến vi phạm hành chính là hình thức xử phạt bổ sung buộc cá nhân vi phạm hành chính về giao thông, bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm mà bị tước quyền sử dụng chứng chỉ, giấy phép hành nghề phải học tập các quy định của pháp luật liên quan đến vi phạm hành chính do người đó thực hiện.

2. Nội dung, chương trình học tập cho đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt này do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý nhà nước trong lĩnh vực chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ liên quan xây dựng. Cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm phối hợp với các cơ sở đào tạo hoặc tổ chức việc học tập và kiểm tra kết quả học tập của đối tượng bị xử phạt sau khi kết thúc chương trình học.

3. Chính phủ quy định chi tiết việc áp dụng hình thức xử phạt buộc học tập các quy định pháp luật liên quan đến vi phạm hành chính.

Mục 2: Các biện pháp khắc phục hậu quả

Điều 29. Các biện pháp khắc phục hậu quả và nguyên tắc áp dụng

1. Biện pháp khắc phục hậu quả là biện pháp do cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc cơ quan của người có thẩm quyền thực hiện để hạn chế hoặc xử lý những hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra, bao gồm:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;

b) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;

c) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;

d) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện;

đ) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường; văn hóa phẩm có nội dung độc hại;

e) Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn;

g) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, phương tiện, vật phẩm;

h) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;

i) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái với quy định của pháp luật;

k) Các biện pháp khắc phục hậu quả khác.
Chính phủ quy định các biện pháp khắc phục hậu quả khác và thẩm quyền áp dụng quy định tại điểm này.

2. Nguyên tắc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả

a) Đối với mỗi vi phạm hành chính, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng độc lập trong trường hợp quá thời hiệu xử phạt quy định tại khoản 1 Điều 6; quá thời hiệu thi hành quyết định xử phạt quy định tại Điều 76 và trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 11 của Luật này.

Điều 30. Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính của mình gây ra; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế.

Điều 31. Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế.

Điều 32. Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải thực hiện các biện pháp để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế.

Điều 33. Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ Việt Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc hàng tạm nhập tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật . Biện pháp khắc phục hậu quả này cũng được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyện liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế.

Điều 34. Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hoá phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật, phương tiện khác được sử dụng để vi phạm hành chính thuộc đối tượng bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế.

Điều 35. Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đã công bố, đưa thông tin trên chính phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử đã công bố, đưa tin.

Điều 36. Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, bao bì, phương tiện kinh doanh, vật phẩm

Cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa hoặc sử dụng phương tiện kinh doanh, vật phẩm có chứa yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì, phương tiện kinh doanh thì phải loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hóa, phương tiện kinh doanh đó; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế.

Điều 37. Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng

Cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng đã đăng ký hoặc công bố và hàng hóa khác không bảo đảm chất lượng, điều kiện lưu thông thì phải thu hồi các sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế.

Điều 38. Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật

Cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp lại số lợi bất hợp pháp là tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá có được từ vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện để sung quỹ nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt; phải nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật, phương tiện nếu tang vật, phương tiện đó đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.

CHƯƠNG II:

THẨM QUYỀN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH, VÀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ

Điều 39. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 10% (mười phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 10.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị bằng với mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50% (năm mươi phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 100.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

e) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c, đ, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 40. Thẩm quyền của Công an nhân dân

1. Chiến sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan (sau đây gọi chung là Chiến sĩ) Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 1% (một phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 1.000.000 đồng.

2. Trạm trưởng, Đội trưởng của người được quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 3% (ba phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 3.000.000 đồng.

3. Trưởng Công an cấp xã có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 5% (năm phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị bằng với mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

4. Trưởng Công an cấp huyện có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 20% (hai mươi phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

5. Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát trật tự, Trưởng Phòng Cảnh sát phản ứng nhanh, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ-đường sắt, Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy, Trưởng phòng Cảnh sát bảo vệ và cơ động, Trưởng phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy trên sông, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy các quận, huyện thuộc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng trạm Công an cửa khẩu, khu chế xuất có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 20% (hai mươi phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

6. Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50% (năm mươi phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 100.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất ;

e) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

7. Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Cục trưởng Cục Cảnh sát đường thủy, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn, Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ, Cục trưởng Cục theo dõi thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Cục trưởng Cục cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến đến mức tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

8. Cục trưởng Cục Quản lý xuất, nhập cảnh có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 7 Điều này và có quyền quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất.

Điều 41. Thẩm quyền của Bộ đội biên phòng

1. Chiến sĩ Bộ đội biên phòng đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 2% (hai phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 1.000.000 đồng.

2. Trạm trưởng, Đội trưởng của người được quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 5% (năm phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng.

3. Trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Hải đội biên phòng, Chỉ huy trưởng Tiểu khu biên phòng, Chỉ huy trưởng biên phòng Cửa khẩu cảng có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 20% (hai mươi phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

4. Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh, Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 42. Thẩm quyền của Cảnh sát biển

1. Cảnh sát viên Cảnh sát biển đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 2% (hai phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 2.000.000 đồng.

2. Tổ trưởng Tổ nghiệp vụ Cảnh sát biển có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 5% (năm phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng.

3. Đội trưởng Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển, trạm trưởng Trạm Cảnh sát biển có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 10% (mười phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 10.000.000 đồng;

c) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

4. Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 20% (hai mươi phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, d, đ và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

5. Hải đoàn trưởng Hải đoàn Cảnh sát biển có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 30% (ba mươi phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 100.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, d, đ và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

6. Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50% (năm mươi phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 200.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, d, đ và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

7. Cục trưởng Cục Cảnh sát biển có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 43. Thẩm quyền của Hải quan

1. Công chức hải quan đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 1.000.000 đồng.

2. Đội trưởng Đội nghiệp vụ thuộc Chi cục Hải quan, Đội trưởng Đội nghiệp vụ thuộc Chi cục kiểm tra sau thông quan có quyền phạt:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 10.000.000 đồng.

3. Chi cục trưởng chi cục Hải quan, chi cục trưởng chi cục kiểm tra sau thông quan, Đội trưởng đội kiểm soát thuộc cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cục Hải quan), Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu, Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển và Đội trưởng đội kiểm soát bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ thuộc Cục điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 50.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm d, đ, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

4. Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan thuộc Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực thủ tục thuế, hải quan quy định tại Điều 24 của Luật này;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm d, đ, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 44. Thẩm quyền của Kiểm lâm

1. Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 1.000.000 đồng.

2. Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 20.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị bằng với mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này.

3. Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt phúc kiểm lâm sản, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 50.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị bằng với mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

4. Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm đặc nhiệm Cục Kiểm lâm có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 100.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c, đ, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

5. Cục trưởng Cục Kiểm lâm có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực rừng, lâm sản quy định tại Điều 24 của Luật này;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c, đ, i, và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 45. Thẩm quyền của cơ quan Thuế

1. Công chức thuế đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 1.000.000 đồng.

2. Đội trưởng Đội Thuế có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 5.000.000 đồng.

3. Chi cục trưởng Chi cục Thuế có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 50.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, i, k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

4. Cục trưởng Cục Thuế có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực thủ tục thuế quy định tại Điều 24 của Luật này;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, i, k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 46. Thẩm quyền của Quản lý thị trường

1. Kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 1.000.000 đồng.

2. Đội trưởng Đội Quản lý thị trường có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 10.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị bằng với mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm đ, k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

3. Chi Cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 100.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm đ, e, h, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này .

4. Cục trưởng Cục Quản lý thị trường có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm đ, e, h, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 47. Thẩm quyền của Thanh tra

1. Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 2% (hai phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 1.000.000 đồng.;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị bằng với mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

2. Chánh thanh tra sở, Chánh Thanh tra Cục Hàng không, Chánh Thanh tra Cục Hàng hải, Thủ trưởng cơ quan thuộc Sở hoặc tương đương được giao chức năng thanh tra chuyên ngành có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50% (năm mươi phần trăm) mức phạt tiền tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 100.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.

3. Chánh thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, cơ quan ngang bộ hoặc tương đương được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.

4. Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành và trưởng đoàn thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền:

a) Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở, trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của cơ quan quản lý nhà nước được giao chức năng thanh tra chuyên ngành, có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 48. Thẩm quyền của Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ hàng không, Cảng vụ đường thuỷ nội địa

1. Trưởng đại diện Cảng vụ hàng hải, Trưởng đại diện Cảng vụ hàng không, Trưởng đại diện Cảng vụ đường thủy nội địa có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 10.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị bằng với mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này.

2. Giám đốc Cảng vụ hàng hải, Giám đốc Cảng vụ hàng không, Giám đốc Cảng vụ đường thuỷ nội địa có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 30.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c, đ, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 49. Thẩm quyền của Toà án nhân dân

1. Thẩm phán chủ tọa phiên toà có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 2.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

2. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phá sản có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 10.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

3. Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự khu vực có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 15.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

4. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Chánh tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 20.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Điều 50. Thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự

1. Chấp hành viên thi hành án dân sự đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 1.000.000 đồng.

2. Chi Cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 10.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

3. Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự, Trưởng phòng Phòng Thi hành án cấp quân khu có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với đối với lĩnh vực thi hành án dân sự quy định tại Điều 24 của Luật này;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

b) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

4. Chấp hành viên thi hành án dân sự là Tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản của vụ phá sản có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền không quá 10.000.000 đồng;

c) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 51. Thẩm quyền của Cục trưởng Cục quản lý lao động ngoài nước [1]

1. Phạt cảnh cáo.

2. Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực quản lý người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Điều 24 của Luật này.

3. Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

4. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn.

5. Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 52. Thẩm quyền của Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài

1. Phạt cảnh cáo.

2. Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực đối với các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này.

3. Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

4. Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 53. Thẩm quyền của Ủy ban chứng khoán nhà nước

Chủ tịch Ủy ban chứng khoán nhà nước có quyền:

1. Phạt cảnh cáo;

2. Phạt tiền không quá 2.000.000.000 đồng

3. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

4. Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, e, i và k khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Điều 54. Nguyên tắc phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả

1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các điều từ Điều 39 đến Điều 53 của Luật này có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý.
Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện.

2. Thẩm quyền xử phạt của những người được quy định tại các điều từ Điều 39 đến Điều 53 của Luật này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.

3. Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc sau đây:

a) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;

b) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt, thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt;

c) Nếu các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

Điều 55. Thay đổi tên gọi của chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Trường hợp các chức danh có thẩm quyền xử phạt quy định tại Luật này có sự thay đổi về tên gọi thì các chức danh đó có thẩm quyền xử phạt.

Điều 56. Ủy quyền xử phạt

1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các Điều 39; khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 40; khoản 2, 3 và 4 Điều 41; khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 42; khoản 2, 3 và 4 Điều 43; khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 44; khoản 2, 3 và 4 Điều 45; khoản 2, 3 và 4 Điều 46; khoản 2 và 3 Điều 47; Điều 48; khoản 3 và 4 Điều 49; khoản 2 và 3 Điều 50; Điều 51; Điều 52 và Điều 53 của Luật này có thể ủy quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

2. Việc ủy quyền có thể được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn ủy quyền.

3. Cấp phó được ủy quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được uỷ quyền không được ủy quyền tiếp cho bất kỳ cá nhân nào khác.

CHƯƠNG III:

THỦ TỤC XỬ PHẠT

Mục 1: Thủ tục xử phạt

Điều 57. Buộc chấm dứt hành vi vi phạm

Buộc chấm dứt hành vi vi phạm được người có thẩm quyền đang thi hành công vụ áp dụng đối với hành vi vi phạm đang diễn ra nhằm chấm dứt ngay hành vi vi phạm. Buộc chấm dứt hành vi vi phạm có thể được thực hiện bằng lời nói, còi, hiệu lệnh, văn bản hoặc các hình thức khác.

Điều 58. Xử phạt không lập biên bản

1.Xử phạt không lập biên bản được áp dụng đối với trường hợp phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền tại chỗ đến 500.000 đồng hoặc trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 65 của Luật này.

2. Quyết định xử phạt phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; các chứng cứ và tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng. Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt.

Điều 59. Xử phạt có lập biên bản

Xử phạt có lập biên bản được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật này.

Điều 60. Lập biên bản vi phạm hành chính

1. Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật này.
Trong trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ thì việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay khi xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm.
Vi phạm hành chính xảy ra trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa thì người chỉ huy tàu bay, thuyển trưởng, trưởng tàu có trách nhiệm tổ chức lập biên bản để chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt khi tàu bay, tàu biển, tàu hỏa về đến sân bay, bến cảng, nhà ga.

2. Trong biên bản về vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp người vi phạm hoặc tên, địa chỉ tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm; các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý; tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ; lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm hoặc đại diện của tổ chức vi phạm; cơ quan tiếp nhận giải trình.
Trong trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người chứng kiến.

3. Biên bản phải được lập thành ít nhất 2 (hai) bản; phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không thực hiện ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trong trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Biên bản lập xong phải được gửi cho cá nhân, tổ chức vi phạm 1 (một) bản; trong trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt.
Trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính thì biên bản được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ.

Điều 61. Xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính

1. Khi ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xác minh, xem xét các tình tiết sau đây:

a) Có hay không có vi phạm hành chính;

b) Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính, lỗi, nhân thân người vi phạm;

c) Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;

d) Tính chất, mức độ thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra;

đ) Các tình huống loại trừ việc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 67 của Luật này;

e) Các tình tiết, sự việc khác có ý nghĩa đối với việc xem xét, quyết định xử phạt.
Trong quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định.

2. Việc xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính phải được thể hiện bằng văn bản.

Điều 62. Xác định trị giá tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt

1. Trong trường hợp cần xác định trị giá tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt, sau khi tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải định giá tang vật, phương tiện và phải chịu trách nhiệm về việc định giá.

2. Tùy theo loại tang vật, phương tiện cụ thể, việc xác định giá dựa trên một trong các căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau đây:

a) Giá niêm yết hoặc giá ghi trên hợp đồng hoặc hoá đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu;

b) Giá theo thông báo của cơ quan tài chính địa phương; trường hợp không có thông báo giá thì theo giá thị trường của địa phương tại thời điểm xảy ra vi phạm.

c) Giá thành của tang vật, phương tiện nếu là hàng hoá chưa xuất bán;

d) Đối với tang vật, phương tiện là hàng giả thì giá của tang vật, phương tiện đó là giá thị trường của hàng hoá thật hoặc hàng hoá có cùng tính năng, kỹ thuật, công dụng tại thời điểm nơi phát hiện vi phạm hành chính.

3. Trường hợp không áp dụng được các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều này để định giá tang vật, phương tiện hoặc cần xác định giá trị thực tế còn lại của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện thành lập Hội đồng định giá. Hội đồng định giá gồm có người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện làm Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp và đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan là thành viên.

4. Căn cứ định giá và các tài liệu liên quan đến việc định giá hàng hoá, tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính phải thể hiện trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 63. Giải trình

1. Đối với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật quy định có thể áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 30.000.000 đồng trở lên thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm trước khi ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức không có yêu cầu giải trình trong thời hạn quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2. Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản, cá nhân, tổ chức vi phạm phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn không quá 5 (năm) ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.
Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì cá nhân, tổ chức được giải trình trong thời hạn không quá 10 (mười) ngày.
Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho luật sư, trợ giúp viên pháp lý hoặc người đại diện hợp pháp của mình thực hiện việc giải trình bằng văn bản.

3. Đối với trường hợp giải trình trực tiếp, cá nhân, tổ chức vi phạm phải gửi văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 3 (ba) ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.
Người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 5 (năm) ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm.
Người có thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu các căn cứ pháp lý và tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi phạm. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, luật sư, người đại diện hợp pháp của họ có quyền tham gia phiên giải trình và đưa ra các ý kiến, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Việc giải trình trực tiếp phải được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên quan; trong trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì các bên phải ký vào từng tờ biên bản. Biên bản này phải được lưu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính và giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc luật sư, người đại diện hợp pháp của họ 1 (một) bản.

Điều 64. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng để xem xét khởi tố vụ án hình sự.

2. Trong quá trình thi hành quyết định xử phạt, nếu phát hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đã ra quyết định xử phạt phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó và trong thời hạn 3 (ba) ngày, kể từ ngày tạm đình chỉ phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng để xem xét khởi tố vụ án hình sự. Trường hợp đã thi hành xong quyết định xử phạt thì người đã ra quyết định xử phạt phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

3. Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có trách nhiệm xem xét, kết luận vụ việc và trả lời kết quả giải quyết bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển hồ sơ trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trong trường hợp không khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 3 (ba) ngày kể từ ngày có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải trả hồ sơ vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển hồ sơ đến.
Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, nếu cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt phải huỷ bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính và chuyển toàn bộ tang vật, phương tiện và tài liệu về việc thi hành quyết định xử phạt cho cơ quan tố tụng hình sự.

4. Việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự phải được thông báo bằng văn bản cho cá nhân, tổ chức vi phạm.

Điều 65. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính

1. Đối với các vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 3 (ba) ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

2. Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt có thể tiến hành xác minh thêm tình tiết để làm căn cứ ra quyết định xử phạt.

3. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong trường hợp cần xác minh thêm quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa không quá 45 (bốn mươi lăm) ngày.

Điều 66. Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong việc phát hiện vi phạm hành chính.

1. Cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường.

2. Việc quản lý, sử dụng và quy định danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

a) Tôn trọng các quyền tự do, danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư của công dân, các lợi ích hợp pháp khác của công dân và tổ chức;

b) Tuân thủ đúng quy trình, quy tắc về sử dụng phương tiện, kỹ thuật;

c) Kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được ghi nhận bằng văn bản và chỉ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính;

d) Phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan có thẩm quyền quy định.

3. Thủ tướng Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính.

Điều 67. Những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp sau đây:

1. Các trường hợp quy định tại Điều 11 của Luật này.

2. Không xác định được đối tượng vi phạm hành chính.

3. Hết thời hạn ra quyết định xử phạt hoặc hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

4. Cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã bị giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt.

5. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 68. Thời hạn ra quyết định xử phạt

1. Người có thẩm quyền phải ra quyết định xử phạt hành chính trong thời hạn 7 (bảy) ngày, kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính.Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2, Điều 63 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày lập biên bản. Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2, khoản 2 Điều 63 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá ba mươi ngày.

2. Quá thời hạn nói trên, người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt nhưng vẫn quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điều 29 của Luật này và quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành.
Người có thẩm quyền xử phạt nếu có lỗi trong việc để quá thời hạn mà không ra quyết định xử phạt thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 69. Ra quyết định xử phạt

1. Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính, thì người có thẩm quyền chỉ ra 1 (một) quyết định xử phạt trong đó quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm.

2. Trường hợp nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có thể ra một quyết định xử phạt trong đó quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng người.

3. Trường hợp nhiều người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau trong cùng một vụ vi phạm thì người có thẩm quyền xử phạt có thể ra 1 (một) quyết định xử phạt trong đó quyết định hình thức, mức xử phạt đối với hành vi vi phạm của từng người.

4. Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp trong quyết định quy định ngày có hiệu lực khác.

Điều 70. Nội dung quyết định xử phạt

1. Quyết định xử phạt phải bao gồm các nội dung chính sau đây:

a) Địa danh, ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Căn cứ pháp lý để ban hành quyết định;

c) Kết quả xác minh, biên bản vi phạm hành chính, văn bản giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc biên bản họp giải trình và các tài liệu khác (nếu có);

d) Họ, tên, chức vụ của người ra quyết định;

đ) Họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm;

e) Hành vi vi phạm hành chính; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;

g) Điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng;

h) Hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung (nếu có), các biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có);

i) Quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt hành chính;

k) Hiệu lực của quyết định, thời hạn và nơi thi hành quyết định xử phạt;

l) Họ tên, chữ ký của người ra quyết định xử phạt;

m) Trách nhiệm thi hành quyết định xử phạt và việc cưỡng chế trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt không tự nguyện chấp hành.

2. Trường hợp ban hành một quyết định xử phạt chung đối với nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hoặc nhiều người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau trong cùng một vụ vi phạm thì nội dung hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt đối với từng người phải quy định cụ thể, rõ ràng.

Mục 2: Thi hành quyết định xử phạt không lập biên bản

Điều 71. Thi hành quyết định xử phạt trong trường hợp không lập biên bản

1. Quyết định xử phạt phải được giao cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt 1 (một) bản. Trong trường hợp người chưa thành niên bị phạt cảnh cáo thì quyết định xử phạt cảnh cáo còn được gửi cho cha mẹ, người giám hộ của người đó.

2. Cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt; trường hợp không có khả năng thi hành quyết định xử phạt tại chỗ thì nộp tiền phạt tại kho bạc nhà nước ghi trong quyết định xử phạt.
Người thu tiền phạt có trách nhiệm giao chứng từ thu tiền phạt cho cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt và phải nộp tiền phạt trực tiếp tại Kho bạc nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc nhà nước trong thời hạn 2 (hai) ngày kể từ ngày thu tiền phạt.

Mục 3: Thi hành quyết định xử phạt có lập biên bản

Điều 72. Gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành

Trong thời hạn 3 (ba) ngày, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, quyết định xử phạt được gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và các cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành. Quyết định xử phạt có thể gửi trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm.

Điều 73. Chuyển quyết định xử phạt để tổ chức thi hành

1. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính ở đơn vị hành chính thuộc cấp tỉnh này nhưng cư trú, đóng trụ sở ở cấp tỉnh khác và không có điều kiện chấp hành quyết định xử phạt tại nơi bị xử phạt thì quyết định được chuyển đến cơ quan cùng cấp nơi cá nhân cư trú, tổ chức đóng trụ sở để tổ chức thi hành; nếu nơi cá nhân cư trú, tổ chức đóng trụ sở không có cơ quan cùng cấp thì quyết định xử phạt được chuyển đến Ủy ban nhân dân cấp huyện để tổ chức thi hành.

2. Trong trường hợp vi phạm xảy ra ở địa bàn cấp huyện này nhưng cá nhân cư trú, tổ chức đóng trụ sở ở cấp huyện khác và thuộc phạm vi một tỉnh ở miền núi, hải đảo, vùng xa xôi, hẻo lánh mà việc đi lại gặp khó khăn và cá nhân, tổ chức vi phạm không có điều kiện chấp hành quyết định xử phạt tại nơi bị xử phạt thì quyết định được chuyển đến cơ quan cùng cấp nơi cá nhân cư trú, tổ chức đóng trụ sở để tổ chức thi hành.

Điều 74. Công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm

1. Trường hợp vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm; y tế, lao động; xây dựng; bảo hiểm; môi trường; thuế; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, hàng giả mà không xử lý thì có thể gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội thì cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm công bố công khai về việc xử phạt.

2. Nội dung công bố công khai bao gồm đối tượng thực hiện hành vi vi phạm bị xử phạt, hành vi vi phạm, các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả.

3. Cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt công bố công khai về việc xử phạt trên trang thông tin điện tử hoặc báo của cơ quan quản lý cấp bộ, cấp sở hoặc của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi xảy ra hành vi vi phạm.

Điều 75. Thi hành quyết định xử phạt

1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận quyết định xử phạt; trường hợp quyết định xử phạt có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 (mười) ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.
Trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt thì vẫn phải chấp hành quyết định xử phạt. Việc khiếu nại, khởi kiện được giải quyết theo quy định của pháp luật.

2. Người có thẩm quyền xử phạt đã ra quyết định xử phạt có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt.

Điều 76. Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1. Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 1 (một) năm, kể từ ngày ra quyết định, quá thời hạn này thì không thi hành quyết định đó nữa. Đối với quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện để vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp cần thiết để bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông, xây dựng và trật tự an toàn xã hội.

2. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.

Điều 77. Thi hành quyết định xử phạt trong trường hợp người bị xử phạt chết, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản

1. Trường hợp người bị xử phạt chết, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản thì không thi hành quyết định phạt tiền nhưng vẫn thi hành hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định.

2. Chính phủ quy định chi tiết thi hành khoản 1 Điều này.

Điều 78. Hoãn thi hành quyết định xử phạt

1. Quyết định xử phạt có thể được hoãn thi hành trong các trường hợp sau:

a) Cá nhân bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng trở lên đang gặp khó khăn đặc biệt, đột xuất về kinh tế do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc;

b) Cá nhân bị áp dụng hình thức xử phạt buộc học tập các quy định pháp luật liên quan đến vi phạm bị ốm đau, tai nạn có chứng nhận của bệnh viện.

2. Cá nhân phải có đơn đề nghị hoãn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính gửi cơ quan nơi người đã ra quyết định xử phạt làm việc. Trong thời hạn 5 (năm) ngày, kể từ ngày nhận được đơn, người đã ra quyết định xử phạt xem xét quyết định hoãn chấp hành quyết định xử phạt đó.
Thời hạn hoãn chấp hành quyết định xử phạt không quá 3 (ba) tháng, kể từ ngày có quyết định hoãn.

3. Cá nhân được hoãn chấp hành quyết định xử phạt được nhận lại giấy tờ, tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 128 của Luật này.

Điều 79. Giảm, miễn mức phạt tiền

1. Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 78 của Luật này mà không có khả năng thi hành quyết định thì có thể được xem xét giảm hoặc miễn một phần hoặc toàn bộ mức phạt tiền ghi trong quyết định xử phạt.

2. Cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này phải có đơn đề nghị giảm hoặc miễn chấp hành phần còn lại của hình thức xử phạt tiền gửi người đã ra quyết định xử phạt. Trong thời hạn 3 (ba) ngày, kể từ ngày nhận được đơn, người đã ra quyết định xử phạt phải chuyển đơn kèm hồ sơ vụ việc đến cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 5 (năm) ngày kể từ ngày nhận được đơn, cấp trên trực tiếp phải xem xét quyết định và thông báo cho người đã ra quyết định xử phạt, người có đơn đề nghị giảm, miễn biết; nếu không đồng ý với việc giảm, miễn thì phải nêu rõ lý do.
Đối với trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ra quyết định xử phạt thì thẩm quyền xem xét, quyết định việc giảm, miễn thuộc Bộ trưởng Bộ quản lý chuyên ngành.

3. Cá nhân được giảm, miễn mức phạt tiền được nhận lại giấy tờ, tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 128 của Luật này.

Điều 80. Thủ tục nộp tiền phạt

1. Trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải nộp tiền phạt tại Kho bạc nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt, trừ trường hợp đã nộp tiền phạt quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. Nếu quá thời hạn nêu trên, thì sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và cứ mỗi ngày chậm nộp phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0,05% (không phẩy không năm phần trăm) trên tổng số tiền phạt chưa nộp.

2. Tại những vùng sâu, vùng xa, biên giới, miền núi mà việc đi lại gặp khó khăn thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt cho người có thẩm quyền xử phạt. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm thu tiền phạt tại chỗ và nộp tại Kho bạc nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc nhà nước trong thời hạn không quá 7 (bảy) ngày, kể từ ngày thu tiền phạt.
Trường hợp xử phạt trên biển hoặc ngoài giờ hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được thu tiền phạt trực tiếp và phải nộp tại Kho bạc nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc nhà nước trong thời hạn 2 (hai) ngày, kể từ ngày vào đến bờ hoặc ngày thu tiền phạt.

3. Tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần. Việc nộp tiền phạt nhiều lần được thực hiện theo quy định tại Điều 81 của Luật này.
Người thu tiền phạt có trách nhiệm giao chứng từ thu tiền phạt cho cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt.

Điều 81. Nộp tiền phạt nhiều lần

1. Việc nộp tiền phạt nhiều lần được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 200.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức;

b) Đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần. Đơn đề nghị của cá nhân phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế; đối với đơn đề nghị của tổ chức phải được xác nhận của cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước.

2. Thời hạn nộp tiền phạt nhiều lần không quá 6 (sáu) tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực; số lần nộp tiền phạt tối đa không quá 3 (ba) lần.

3. Người đã ra quyết định phạt tiền có quyền quyết định việc nộp tiền phạt nhiều lần. Quyết định về việc nộp tiền phạt nhiều lần phải bằng văn bản.

Điều 82. Thủ tục tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn

1. Trường hợp tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề được ghi trong quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt thu giữ, bảo quản giấy phép, chứng chỉ hành nghề và thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó biết. Khi hết thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề ghi trong quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt giao lại giấy phép, chứng chỉ hành nghề cho cá nhân, tổ chức đã bị tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó.

2. Trường hợp đình chỉ hoạt động có thời hạn, cá nhân, tổ chức vi phạm phải đình chỉ ngay một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được ghi trong quyết định xử phạt.

3. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc tạm đình chỉ hoạt động, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không được tiến hành các hoạt động ghi trong quyết định xử phạt.

4. Đối với các trường hợp quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có khả năng thực tế gây hậu quả tới môi trường, tính mạng, sức khỏe con người thì người có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản việc tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn cho các cơ quan có liên quan.

5. Trường hợp phát hiện giấy phép, chứng chỉ hành nghề được cấp không đúng thẩm quyền hoặc có nội dung trái pháp luật thì người có thẩm quyền xử phạt phải tiến hành thu hồi ngay, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó biết.

Điều 83. Thủ tục tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

1. Khi tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng của vật, tiền, hàng hoá, phương tiện bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến hành tịch thu, người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng kiến; trường hợp người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt vắng mặt thì phải có hai người chứng kiến. Đối với tang vật, phương tiện cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay trước mặt người bị xử phạt, đại diện tổ chức bị xử phạt hoặc người chứng kiến. Việc niêm phong phải được ghi nhận vào biên bản.
Đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ, người có thẩm quyền xử phạt thấy tình trạng tang vật, phương tiện có thay đổi so với thời điểm ra quyết định tạm giữ thì phải lập biên bản đối với những thay đổi này và phải có chữ ký của người tiến hành tịch thu, người có trách nhiệm tạm giữ và người chứng kiến.

2. Tang vật, phương tiện bị tịch thu phải được quản lý và bảo quản theo quy định của Chính phủ.

Điều 84. Xử lý tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị áp dụng hình thức xử phạt tịch thu

1. Tang vật, phương tiện bị tịch thu được xử lý như sau:

a) Đối với tang vật, phương tiện bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trường hợp chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp có lỗi trong việc để người vi phạm sử dụng tang vật, phương tiện để vi phạm thì có thể bị tịch thu.

b) Đối với tang vật là tiền Việt Nam, ngoại tệ, chứng chỉ có giá, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý thì chuyển giao cho Kho bạc Nhà nước;

c) Đối với giấy tờ, tài liệu, chứng từ liên quan tới tài sản thì chuyển giao cho cơ quan tài chính cấp tỉnh;

d) Đối với các tang vật, phương tiện là vũ khí,vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; vật có giá trị lịch sử, văn hoá; bảo vật quốc gia; cổ vật; hàng lâm sản quý hiếm và các tài sản khác thì chuyển giao cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành để quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật;

đ) Đối với các tang vật, phương tiện đã được cấp có thẩm quyền ra quyết định chuyển giao cho cơ quan nhà nước có chức năng quản lý, sử dụng thì cơ quan đã ra quyết định tịch thu chủ trì, phối hợp với cơ quan tài chính tổ chức chuyển giao cho cơ quan nhà nước có chức năng quản lý, sử dụng;

e) Đối với tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị tịch thu không thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này thì tiến hành thuê tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi xảy ra hành vi vi phạm để thực hiện việc bán đấu giá; trường hợp không thuê được tổ chức bán đấu giá thì thành lập hội đồng để bán đấu giá.
Việc bán đấu giá tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá;

g) Đối với tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị tịch thu nhưng không còn giá trị sử dụng hoặc không bán đấu giá được thì cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tịch thu phải lập hội đồng xử lý gồm đại diện các cơ quan nhà nước hữu quan. Việc xử lý tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính phải được lập thành biên bản có chữ ký của các thành viên hội đồng xử lý. Phương thức, trình tự, thủ tục xử lý tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

2. Thủ tục xử lý đối với tang vật, phương tiện quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện như sau:

a) Đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều này thì cơ quan quyết định tịch thu, lập biên bản chuyển giao tang vật, phương tiện. Việc bàn giao và tiếp nhận các tang vật, phương tiện theo quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải được tiến hành theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

b) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này, giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá khi làm thủ tục chuyển giao được xác định theo Điều 62 của Luật này. Trường hợp trị giá của tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính đã được xác định có sự thay đổi tại thời điểm chuyển giao thì cơ quan ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện quyết định thành lập hội đồng để định giá tài sản trước khi làm thủ tục chuyển giao. Thành phần hội đồng định giá theo quy định tại khoản 3 Điều 62 của Luật này.

3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm, cơ quan có thẩm quyền phải xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này. Quá thời hạn này mà không thực hiện thì cơ quan có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

4. Chi phí lưu kho, phí bến bãi, phí bảo quản tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính, phí bán đấu giá và các khoản chi phí khác phù hợp với quy định của pháp luật được trừ vào tiền bán tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.
Tiền thu được từ bán đấu giá tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính, sau khi trừ các chi phí theo quy định của pháp luật, phải được nộp vào ngân sách nhà nước qua tài khoản mở tại Kho bạc nhà nước.

Điều 85. Quản lý tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, chứng từ thu tiền phạt

1. Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính gồm tiền nộp phạt vi phạm hành chính; tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền; tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác.

2. Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính phải nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước qua tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước và được quản lý theo đúng quy định tại Luật này và các quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Điều 86. Thủ tục trục xuất

1. Quyết định trục xuất phải được thông báo cho Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người bị trục xuất là công dân hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc trước khi thi hành.

2. Cơ quan Công an có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành và áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính quy định tại Chương I Phần thứ tư của Luật này.

Điều 87. Thủ tục buộc học tập các quy định pháp luật liên quan đến vi phạm

1. Sau khi nhận được quyết định xử phạt, người vi phạm phải đăng ký việc học tập các quy định pháp luật liên quan đến vi phạm, phải tham gia học, kiểm tra theo đúng chương trình và đóng lệ phí theo quy định của pháp luật. Trường hợp người vi phạm được hoãn thi hành hình thức xử phạt theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 78 của Luật này hoặc đã đăng ký nhưng không thể tham gia học thì phải có lý do chính đáng (được cơ quan có thẩm quyền xác nhận) và phải thông báo cho cơ quan đã đăng ký học để đăng ký thời gian học tiếp theo.

2. Cơ quan tổ chức học và kiểm tra có trách nhiệm tiếp nhận, xếp lịch học; thông báo cho người vi phạm thời gian học. Trường hợp người vi phạm kiểm tra không đạt yêu cầu thì được thông báo ngày kiểm tra lại vào tuần tiếp theo.

3. Sau khi kiểm tra đạt yêu cầu, người vi phạm được xác nhận bằng văn bản về kết quả học và kiểm tra để xuất trình với cơ quan ra quyết định tước quyền sử dụng giấy phép liên quan đến vi phạm. Người ra quyết định tước quyền sử dụng giấy phép trả lại giấy phép cho người vi phạm khi có kết quả kiểm tra lại đạt yêu cầu.

Điều 88. Thi hành các biện pháp khắc phục hậu quả

1. Thời hạn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả được thực hiện theo nội dung thi hành đối với từng biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc trong quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả độc lập theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 29 của Luật này.

2. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có trách nhiệm thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định theo thời hạn quy định và phải chịu mọi chi phí cho việc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đó.

3. Người có thẩm quyền ra quyết định có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện.

4. Trường hợp không xác định được đối tượng vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 67 hoặc cá nhân chết hoặc tổ chức bị giải thể, phá sản mà không có tổ chức nào tiếp nhận chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo Điều 77 của Luật thì cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt đang thụ lý hồ sơ vụ vi phạm hành chính phải tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.
Chi phí cho việc tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định thực hiện được lấy từ nguồn ngân sách dự phòng cấp cho cơ quan đó.

5. Trong trường hợp khẩn cấp, cần khắc phục hậu quả để kịp thời bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông thì cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt đang thụ lý hồ sơ vụ vi phạm hành chính tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, nếu không hoàn trả thì sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành.

Mục 4: Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

Điều 89. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

1. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt theo thời hạn quy định tại Điều 75 của Luật này.

2. Các biện pháp cưỡng chế bao gồm:

a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm;

b) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;

c) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ;

3. Chính phủ quy định cụ thể về thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế.

Điều 90. Thẩm quyền quyết định cưỡng chế

1. Những người sau đây có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế:

a) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp;

b) Trưởng đồn Công an, Trưởng Công an cấp huyện, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ-đường sắt, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường thủy, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn, Cục trưởng Cục Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh, Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Cục trưởng Cục cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao;

c) Trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh, Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng; Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Cảnh sát biển;

d) Cục trưởng Cục Hải quan, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan;

đ) Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Cục trưởng Cục Kiểm lâm;

e) Chi cục trưởng Chi cục Thuế, Cục trưởng Cục Thuế;

g) Chi Cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường, Cục trưởng Cục Quản lý thị trường.

h) Cục trưởng Cục quản lý lao động ngoài nước; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài;

i) Chủ tịch Ủy ban chứng khoán nhà nước;

k) Chánh thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, Chánh thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ;

l) Giám đốc Cảng vụ hàng hải, Giám đốc Cảng vụ đường thuỷ nội địa, Giám đốc Cảng vụ hàng không;

m) Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự khu vực, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Chánh toà Tòa án nhân dân tối cao; Cục Trưởng Cục Thi hành án dân sự, Trưởng phòng Phòng thi hành án cấp quân khu.

2. Người có thẩm quyền cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này có thể uỷ quyền cho cấp phó. Việc ủy quyền chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được ủy quyền. Cấp phó được ủy quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho bất kì cá nhân nào khác.

Điều 91. Thi hành quyết định cưỡng chế

1. Người ra quyết định cưỡng chế tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt của mình và của cấp dưới.

2. Cá nhân, tổ chức nhận được quyết định cưỡng chế phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định cưỡng chế và phải chịu mọi chi phí về việc tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế.

3. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc phối hợp thi hành quyết định cưỡng chế

a) Cá nhân, tổ chức liên quan có nghĩa vụ phối hợp với người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế hoặc cơ quan được giao chủ trì tổ chức cưỡng chế triển khai các biện pháp nhằm thực hiện các quyết định cưỡng chế hành chính.

b) Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc quyết định cưỡng chế của các cơ quan nhà nước khác khi được yêu cầu.

c) Tổ chức tín dụng nơi cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế thi hành mở tài khoản phải giữ lại trong tài khoản của cá nhân, tổ chức đó số tiền tương đương với số tiền mà cá nhân, tổ chức đó phải nộp theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế. Trường hợp số dư trong tài khoản tiền gửi ít hơn số tiền mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế phải nộp thì tổ chức tín dụng vẫn phải giữ lại và trích chuyển số tiền đó. Trước khi trích chuyển năm ngày làm việc, tổ chức tín dụng có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế biết việc trích chuyển, nhưng việc trích chuyển không cần sự đồng ý của họ.
PHẦN THỨ BA: ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

CHƯƠNG I:

CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 92. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

1. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với các đối tượng quy định tại Điều 93 của Luật này để giáo dục, quản lý họ tại nơi cư trú trong trường hợp nhận thấy không cần thiết phải cách ly họ khỏi cộng đồng.

2. Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là từ 3 (ba) tháng đến 6 (sáu) tháng.

Điều 93. Đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.

3. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng.

4. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định.

5. Người trên 55 tuổi đối với nữ và trên 60 tuổi đối với nam thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân hoặc người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội có tính chất thường xuyên nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 94. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

1. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 95 của Luật này nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường;

2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 6 (sáu) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng.

Điều 95. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật Hình sự;

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

4. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này mà không có nơi cư trú ổn định.

5. Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với các trường hợp sau đây:

a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

b) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

c) Phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 (ba mươi sáu) tháng có đơn đề nghị và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Điều 96. Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục

1. Đưa vào cơ sở giáo dục là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 100 của Luật này để lao động, học văn hoá, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục.

2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục từ 6 (sáu) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng.

Điều 97. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục

1. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục là người thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội có tính chất thường xuyên nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với các trường hợp sau đây:

a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

b) Người chưa đủ 18 tuổi;

c) Nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi;

d) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

đ) Phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 (ba mươi sáu) tháng tuổi có đơn đề nghị và được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Điều 98. Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh

1. Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh áp dụng đối với người có hành vi vi phạm quy định tại Điều 99 của Luật này để chữa bệnh và lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở chữa bệnh.

2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh là từ 12 (mười hai) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng.

Điều 99. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh

1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với các trường hợp sau đây:

a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

b) Phụ nữ trên 55 tuổi, nam giới trên 60 tuổi;

c) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

d) Phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 (ba mươi sáu) tháng tuổi có đơn đề nghị và được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

CHƯƠNG II:

THỦ TỤC LẬP HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 100. Lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

1. Trưởng Công an cấp xã nơi người vi phạm thuộc đối tượng giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định tại Điều 93 của Luật này cư trú tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã hoặc đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị dân cư ở cơ sở lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

2. Trong trường hợp người vi phạm do Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định tại Điều 93 của Luật này thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người đó.

3. Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó; các tình tiết quan trọng có liên quan đến người vi phạm; bệnh án (nếu có), bản tường trình của người vi phạm.
Đối với các người bị xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là người chưa thành niên, hồ sơ phải có nhận xét của nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người chưa thành niên đang học tập, làm việc (nếu có), ý kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ.

4. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, cơ quan đã lập hồ sơ phải gửi cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định, đồng thời thông báo cho người bị áp dụng, cha mẹ hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ. Những người này được quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 5 (năm) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo.

Điều 101. Chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

1. Trong thời hạn 03 (ba) ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do công an cấp xã lập theo quy định tại Điều 100 của Luật này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì giao công an cấp xã thu thập tài liệu bổ sung hồ sơ.

2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn gồm:

a) Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định tại Điều 100 của Luật này;

b) Văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Điều 102. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với đối tượng được quy định tại Điều 95 của Luật này được thực hiện như sau:

a) Đối với người chưa thành niên vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ, ý kiến của nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người chưa thành niên đang học tập hoặc làm việc (nếu có).

b) Đối với người chưa thành niên vi phạm không có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó; bản trích lục tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ.

c) Cơ quan Công an cấp xã có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc thu thập các tài liệu và lập hồ sơ đề nghị quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều này.

2. Trong trường hợp người chưa thành niên vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định tại Điều 95 của Luật này thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người đó.
Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ.

3. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo cho đối tượng bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ. Những người này được quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 5 (năm) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Sau khi người bị áp dụng hoặc người đại diện của họ đọc xong hồ sơ thì hồ sơ được gửi cho Trưởng Công an cấp huyện.
Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng Công an cấp huyện có trách nhiệm thẩm tra, hoàn chỉnh hồ sơ và trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

Điều 103. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

1. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định tại Điều 102 của Luật này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì giao cơ quan công an cấp huyện thu thập tài liệu bổ sung hồ sơ.

2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng gồm:

a) Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng quy định tại Điều 102 của Luật này;

b) Văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.

Điều 104. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục

1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với đối tượng được quy định tại Điều 100 của Luật này được thực hiện như sau:

a) Đối với người vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.
Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ.

b) Đối với người không cư trú tại nơi có hành vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.
Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó; bản trích lục tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ.

c) Công an cấp xã có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc thu thập các tài liệu và lập hồ sơ đề nghị quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều này.

2. Trong trường hợp người vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định tại Điều 100 của Luật này thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với người đó.
Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ.

3. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo cho đối tượng bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ. Những người này được quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 5 (năm) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Sau khi người bị áp dụng hoặc người đại diện của họ đọc xong hồ sơ thì hồ sơ được gửi cho Trưởng Công an cấp huyện.
Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng Công an cấp huyện có trách nhiệm thẩm tra, hoàn chỉnh hồ sơ và trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

Điều 105. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục

1. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định tại Điều 104 và Điều 124 của Luật này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì giao cơ quan công an cấp huyện thu thập tài liệu bổ sung hồ sơ.

2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục gồm:

a) Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục quy định tại Điều 104 của Luật này;

b) Văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.

Điều 106. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh

1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người nghiện ma túy quy định tại Điều 99 của Luật này được thực hiện như sau:

a) Đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh.
Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ;

b) Đối với người nghiện ma túy không cư trú tại nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh.
Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người vi phạm; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người vi phạm;

c) Công an cấp xã có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc thu thập các tài liệu và lập hồ sơ đề nghị quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

2. Trong trường hợp người nghiện ma túy vi phạm do Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh theo quy định tại Điều 99 của Luật này thì Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người đó.
Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ.

3. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, Cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ. Những người này được quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 5 (năm) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Sau khi người bị áp dụng hoặc người đại diện của họ đọc xong hồ sơ thì hồ sơ được gửi cho Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện.
Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện có trách nhiệm thẩm tra, hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

Điều 107. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh

1. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định tại Điều 105 của Luật này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì giao cơ quan công an cấp huyện thu thập tài liệu bổ sung hồ sơ.

2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh gồm:

a) Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh quy định tại Điều 105 của Luật này;

b) Văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh.

CHƯƠNG III :

THẨM QUYỀN, THỦ TỤC XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 108. Thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính quy định tại Điều 92, Điều 94, Điều 96 và Điều 98 của Luật này.

Điều 109. Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

1. Việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính được thực hiện theo thủ tục rút gọn.

2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

CHƯƠNG IV:

THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 110. Gửi quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính để thi hành

Trong thời hạn 3 (ba) ngày kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có hiệu lực, Tòa án đã ra quyết định phải gửi cho người bị áp dụng, người giám hộ, Ủy ban nhân dân nơi đã gửi hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và các cơ quan hữu quan để thi hành theo quy định của pháp luật.

Điều 111. Thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

1. Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hết thời hiệu thi hành sau 6 (sáu) tháng, kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật.

2. Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục và quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh hết thời hiệu thi hành sau 1 (một) năm, kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật.

3. Trong trường hợp người phải chấp hành quyết định cố tình trốn tránh việc thi hành, thì thời hiệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh chấm dứt.

Điều 112. Thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

1. Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã đã lập hồ sơ đề nghị có trách nhiệm:

a) Phân công cá nhân, cơ quan, tổ chức trực tiếp giúp đỡ người được giáo dục;

b) Chỉ đạo, tổ chức và giám sát thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

2. Cơ quan, tổ chức được giao giáo dục, quản lý người được giáo dục có trách nhiệm:

a) Tổ chức việc thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

b) Phân công người trực tiếp giúp đỡ người được giáo dục;

c) Lập hồ sơ theo dõi và định kỳ báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn của người được giáo dục;

d) Giúp đỡ, động viên người được giáo dục trong cuộc sống, giúp đỡ họ tìm kiếm việc làm hoặc đề xuất với Uỷ ban nhân dân cấp xã tạo điều kiện, tìm kiếm việc làm cho người được giáo dục.

3. Người được phân công trực tiếp giúp đỡ phải có kế hoạch quản lý, giáo dục, giúp đỡ người được giáo dục và được hưởng khoản kinh phí hỗ trợ theo quy định của Bộ Tài chính.

4. Người được giáo dục phải cam kết bằng văn bản về việc chấp hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

5. Gia đình có người được giáo dục có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với người được phân công trực tiếp giúp đỡ, cơ quan, tổ chức được giao quản lý, giáo dục.

Điều 113. Thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh

1. Trong thời hạn 5 (năm) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án nhân dân đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục hoặc quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị có trách nhiệm tổ chức thi hành, cụ thể như sau:

a) Công an cấp huyện đưa người phải chấp hành quyết định vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục;

b) Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Công an cấp huyện đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở chữa bệnh.

2. Thời hạn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được tính từ ngày người phải chấp hành quyết định đưa đi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.

3. Chính phủ quy định cụ thể việc thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh.

Điều 114. Hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh

1. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:

a) Đang ốm nặng có chứng nhận của bệnh viện;

b) Gia đình đang có khó khăn đặc biệt có đơn đề nghị, được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
Khi điều kiện hoãn chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành.

2. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:

a) Mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội;

b) Trong thời gian hoãn chấp hành quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn nghiện ma túy.

c) Đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện.

3. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành trên cơ sở đơn đề nghị của người phải chấp hành quyết định. Trong trường hợp cần thiết, có thể đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp có ý kiến trước khi quyết định.

Điều 115. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh

1. Người đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh đã chấp hành một nửa thời hạn, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công, thì được xét giảm một phần hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

2. Trong trường hợp người đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh bị ốm nặng mà được đưa về gia đình điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định; thời gian điều trị được tính vào thời hạn chấp hành quyết định; nếu sau khi sức khoẻ được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ 3 (ba) tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp hành; nếu trong thời gian tạm đình chỉ mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại. Đối với người mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

3. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh quyết định việc giảm thời hạn tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này trên cơ sở đề nghị của Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục, Giám đốc cơ sở chữa bệnh.
Quyết định tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được gửi cho Tòa án nhân dân nơi ra quyết định, Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi gửi hồ sơ đề nghị , Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, người được tạm đình chỉ hoặc miễn và gia đình người đó.

4. Đối tượng không xác định được nơi cư trú thuộc trường hợp được tạm đình chỉ chấp hành quyết định hoặc được miễn chấp hành phần thời gian còn lại quy định tại khoản 2 Điều này được đưa về cơ sở y tế tại địa phương nơi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh đóng trụ sở.

Điều 116. Quản lý người được hoãn chấp hành hoặc được tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh

1. Người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có trách nhiệm trình diện với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú.

2. Trong thời gian được hoãn chấp hành hoặc được tạm đình chỉ thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục mà người đó có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh và trật tự, an toàn xã hội hoặc có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn thì Tòa án nhân dân cấp huyện đã ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định buộc chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục.
Trong thời gian được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh mà người đó tiếp tục sử dụng ma túy hoặc có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn thì Tòa án nhân dân cấp huyện đã ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định buộc chấp hành quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh.

3. Quyết định buộc chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được gửi cho Công an cùng cấp nơi Tòa án đã ra quyết định. Ngay sau khi nhận được quyết định, cơ quan Công an phải tổ chức áp giải đối tượng.

Điều 117. Hết thời hạn chấp hành quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

1. Khi người vi phạm đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục, Giám đốc cơ sở chữa bệnh cấp giấy chứng nhận cho người đã chấp hành xong và gửi bản sao cho gia đình người đó, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, cơ quan quản lý các trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.

2. Đối tượng không xác định được nơi cư trú là người chưa thành niên hoặc người ốm yếu không còn khả năng lao động sau khi hết hạn chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được đưa về Trung tâm bảo trợ xã hội tại địa phương nơi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh đóng trụ sở.

CHƯƠNG V:

CÁC QUY ĐỊNH KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 118. Tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự

1. Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục, Giám đốc cơ sở chữa bệnh quyết định tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính ra khỏi nơi chấp hành các biện pháp đó để tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan đến người đó.

2. Thời gian tạm thời đưa ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp đó.

Điều 119. Chuyển hồ sơ của đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Khi xem xét hồ sơ của đối tượng để quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm của người đó có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.

2. Đối với trường hợp đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm của người bị áp dụng biện pháp này có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì Tòa án nhân dân đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải huỷ quyết định đó và trong thời hạn 3 (ba) ngày, kể từ ngày huỷ quyết định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.
Trong trường hợp bị Toà án xử phạt tù thì thời hạn chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, 2 (hai) ngày chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh được tính bằng 1 (một) ngày chấp hành hình phạt tù.

Điều 120. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời gian chấp hành biện pháp xử lý hành chính

Trong trường hợp phát hiện người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã thực hiện hành vi phạm tội trước hoặc trong thời gian chấp hành quyết định, thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đang thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục, Giám đốc cơ sở chữa bệnh phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đối với người đó và chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; trường hợp bị Toà án xử phạt tù thì người đó được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; nếu hình phạt được áp dụng không phải là hình phạt tù thì người đó có thể phải tiếp tục chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 121. Xử lý trường hợp một người vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh

1. Trường hợp người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh.

2. Trong trường hợp người nghiện ma túy thuộc loại côn đồ hung hãn thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. Cơ sở giáo dục thực hiện việc cai nghiện cho những người này.

3. Trong giai đoạn cắt cơn, phục hồi, đối tượng đang chấp hành quyết định tại cơ sở chữa bệnh nếu có hành vi vi phạm các quy định tại Điều 97 của Luật này thì bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.
Giám đốc cơ sở chữa bệnh tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục đối với đối tượng có hành vi quy định tại đoạn 1 khoản này trên cơ sở hồ sơ hiện có và biên bản về hành vi vi phạm mới gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có cơ sở chữa bệnh để xem xét, gửi hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.
Thủ tục xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với các đối tượng này thực hiện theo quy định của pháp luật.
PHẦN THỨ TƯ: CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

CHƯƠNG I:

QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Điều 122. Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính

Trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp sau đây theo thủ tục hành chính:

1. Tạm giữ người;

2. Áp giải người vi phạm;

3. Tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề;

4. Khám người;

5. Khám phương tiện vận tải, đồ vật;

6. Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

7. Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất;

8. Quản lý của gia đình, tổ chức đối với người đang làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

9. Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn.

Điều 123. Nguyên tắc áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính

1. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định tại các điều từ Điều 123 đến Điều 135 của Luật này, nếu vi phạm thì bị xử lý theo quy định tại Điều 16 của Luật này.

2. Chỉ áp dụng trong trường hợp cần thiết theo quy định tại Chương II của phần này.

3. Người ra quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình.

4. Việc sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý hành chính phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 124. Huỷ bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính

1. Trong trường hợp việc áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính không còn phù hợp với mục đích và điều kiện áp dụng biện pháp đó theo quy định của Luật này thì quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn đã ban hành phải được huỷ bỏ.

2. Người có thẩm quyền ban hành quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính quyết định huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác.

CHƯƠNG II:

THẨM QUYỀN, THỦ TỤC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Điều 125. Tạm giữ người theo thủ tục hành chính

1. Việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác.

2. Mọi trường hợp tạm giữ người đều phải có quyết định bằng văn bản và phải giao cho người bị tạm giữ một bản.

3. Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không được quá 12 (mười hai) giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm; trong trường hợp cần thiết thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 24 (hai mươi tư) giờ.
Đối với người vi phạm quy chế biên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo, trên tàu bay, tàu biển thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không được vượt quá 48 (bốn mươi tám) giờ kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.

4. Theo yêu cầu của người bị tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho gia đình, tổ chức nơi làm việc hoặc học tập của họ biết. Trong trường hợp tạm giữ người chưa thành niên vi phạm hành chính vào ban đêm hoặc giữ trên 6 (sáu) giờ, thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ngay cho cha mẹ hoặc người giám hộ của họ biết.

5. Nơi tạm giữ người theo thủ tục hành chính là nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính được bố trí tại trụ sở cơ quan, đơn vị nơi làm việc của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ người vi phạm hành chính. Trường hợp không có nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính thì có thể tạm giữ tại phòng trực ban hoặc phòng khác tại nơi làm việc, nhưng phải đảm bảo các quy định chung.
Cơ quan có chức năng phòng, chống vi phạm pháp luật mà thường xuyên phải tạm giữ người vi phạm hành chính cần bố trí, thiết kế, xây dựng nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính riêng, trong đó cần có nơi tạm giữ riêng cho người chưa thành niên, phụ nữ hoặc người nước ngoài và phải có cán bộ chuyên trách quản lý, bảo vệ.
Đối với tàu bay, tàu biển, tàu hỏa khi đã rời sân bay, bến cảng, nhà ga thì tùy theo điều kiện và đối tượng vi phạm cụ thể, người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu quyết định nơi tạm giữ và phân công người thực hiện việc tạm giữ.

6. Nghiêm cấm việc giữ người vi phạm hành chính trong các phòng tạm giữ, phòng tạm giam hình sự hoặc những nơi không bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người bị tạm giữ.

7. Chính phủ ban hành Quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính.

Điều 126. Thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính

1. Những người sau đây có quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính:

a) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Trưởng Công an phường;

b) Trưởng Công an cấp huyện;

c) Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát trật tự, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ-đường sắt, Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Trưởng phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Trưởng phòng Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh của Công an cấp tỉnh; Trưởng phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường;

d) Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, Trạm trưởng Trạm Công an cửa khẩu;

đ) Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động;

e) Chi cục trưởng Hải quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát chống buôn lậu và Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển thuộc Cục điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan;

g) Đội trưởng Đội Quản lý thị trường;

h) Chỉ huy trưởng Tiểu khu biên phòng, Chỉ huy trưởng biên phòng cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng, Chỉ huy trưởng Hải đội biên phòng, Trưởng đồn biên phòng và Thủ trưởng đơn vị bộ đội biên phòng đóng ở biên giới, hải đảo;

i) Hải đội trưởng, Hải đoàn trưởng Cảnh sát biển, Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển;

k) Người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu khi tàu bay, tàu biển, tàu hỏa đã rời sân bay, bến cảng, nhà ga.

2. Người có thẩm quyền tạm giữ người quy định từ điểm a đến điểm i khoản 1 Điều này có thể uỷ quyền cho cấp phó. Việc ủy quyền chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được ủy quyền. Cấp phó được ủy quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho bất kì cá nhân nào khác.

Điều 127. Áp giải người vi phạm

1. Người vi phạm không tự nguyện chấp hành yêu cầu của người có thẩm quyền thì bị áp giải trong các trường hợp sau đây:

a) Bị tạm giữ người theo thủ tục hành chính;

b) Đưa trở lại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Luật này..

2. Người có thẩm quyền đang thi hành công vụ thực hiện việc áp giải người vi phạm.

3. Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành biện pháp này.

Điều 128. Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính

1. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Để xác minh tình tiết làm căn cứ quyết định xử phạt;

b) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính;

c) Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt.
Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính quy định tại Chương II Phần thứ hai của Luật này thì có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

2. Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không tạm giữ ngay thì tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có thể bị tẩu tán, tiêu hủy thì người phụ trách trực tiếp của chiến sĩ cảnh sát nhân dân, cảnh sát viên cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, công chức hải quan, kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ phải tạm giữ ngay tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Trong thời hạn 24 (hai mươi tư) giờ, kể từ khi lập biên bản, người lập biên bản phải báo cáo thủ trưởng của mình là người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính được quy định tại khoản 1 Điều này để xem xét ra quyết định tạm giữ; trong trường hợp không ra quyết định tạm giữ thì phải trả lại ngay tang vật, phương tiện đã bị tạm giữ. Đối với trường hợp tang vật là hàng hóa dễ hư hỏng thì người ra quyết định tạm giữ phải báo cáo ngay thủ trưởng trực tiếp để quyết định việc xử lý.

3. Người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện đó; nếu do lỗi của người này mà tang vật, phương tiện bị mất, bán, đánh tráo hoặc hư hỏng thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp tang vật, phương tiện bị tạm giữ cần được niêm phong thì phải tiến hành ngay trước mặt người vi phạm; nếu người vi phạm vắng mặt thì phải tiến hành niêm phong trước mặt đại diện gia đình, đại diện tổ chức, đại diện chính quyền và người chứng kiến.
Việc tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản kèm theo biên bản tạm giữ và phải giao cho người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm 1 (một) bản.
Đối với phương tiện vi phạm là tàu bay, phương tiện thủy nội địa, tàu biển, tàu cá khi bị tạm giữ để đảm bảo quyết định xử phạt thì giao cho chủ phương tiện, người điều khiển phương tiện tự bảo quản dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền.

4. Trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy phép lái xe hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan cho đến khi cá nhân, tổ chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có những giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm

5. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thuộc trường hợp có thể bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì có thể bị tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt. Việc tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời gian chờ ra quyết định không làm ảnh hưởng quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề của cá nhân, tổ chức đó.

6. Trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo những biện pháp ghi trong quyết định xử phạt hoặc trả lại cho cá nhân, tổ chức nếu không áp dụng hình thức phạt tịch thu đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá thời hạn quy định tại Điều 68 của Luật này, kể từ ngày tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

7. Mọi trường hợp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải được lập thành biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện bị tạm giữ và phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ, người vi phạm;trường hợp người vi phạm vắng mặt hoặc không kí thì phải có chữ kí của 2 (hai) người làm chứng. Biên bản phải được lập thành 2 (hai) bản, người có thẩm quyền xử phạt giữ 1 bản, người vi phạm giữ 1 bản.

Điều 129. Xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo thủ tục hành chính

1. Đối với tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo khoản 4 Điều 128 của Luật này phải được trả ngay cho người bị xử phạt sau khi thi hành xong quyết định xử phạt.

2. Đối với tang vật vi phạm hành chính là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người ra quyết định tạm giữ phải tổ chức bán ngay theo giá thị trường và việc bán phải được lập thành biên bản. Tiền thu được phải gửi vào tài khoản tạm gửi mở tại Kho bạc nhà nước. Nếu sau đó theo quyết định của người có thẩm quyền, tang vật đó bị tịch thu thì tiền thu được phải nộp vào ngân sách nhà nước; trường hợp tang vật đó không bị tịch thu thì tiền thu được phải trả cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp.

3. Đối với tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính quá thời hạn tạm giữ mà người vi phạm không đến nhận thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ; trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày thông báo được niêm yết công khai, nếu người vi phạm không đến nhận thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm để xử lý theo quy định tại Điều 84 của Luật này.

4. Đối với tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính là hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hoá phẩm độc hại thì phải tiến hành tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 34 của Luật này.

5. Đối với các chất ma túy và những vật thuộc loại cấm lưu hành thì tịch thu hoặc tiêu hủy theo quy định tại Điều 34 của Luật này.

6. Người có tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị tạm giữ phải trả chi phí lưu kho, phí bến bãi, phí bảo quản tang vật, phương tiện và các khoản chi phí khác theo quy định của pháp luật và chỉ phải trả các khoản chi phí nói trên trong thời gian tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo thời hạn quy định tại Điều 68 Luật này.
Không thu phí lưu kho, phí bến bãi và phí bảo quản trong thời gian tang vật, phương tiện bị tạm giữ nếu chủ tang vật, phương tiện không có lỗi trong việc vi phạm hành chính hoặc không áp dụng biện pháp tịch thu đối với tang vật, phương tiện.

Điều 130. Khám người theo thủ tục hành chính

1. Việc khám người theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng người đó cất giấu trong người đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

2. Những người được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này có quyền quyết định khám người theo thủ tục hành chính.
Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có thể bị tẩu tán, tiêu hủy, thì ngoài những người được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này, chiến sĩ cảnh sát nhân dân, cảnh sát viên cảnh sát biển, chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, công chức hải quan, kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ được khám người theo thủ tục hành chính và báo cáo ngay bằng văn bản cho thủ trưởng của mình là một trong những người được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc khám người.

3. Việc khám người phải có quyết định bằng văn bản, trừ trường hợp cần khám ngay theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều này.

4. Trước khi tiến hành khám người, người khám phải thông báo quyết định cho người bị khám biết. Khi khám người, nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến.

5. Mọi trường hợp khám người đều phải lập biên bản. Quyết định khám người và biên bản khám người phải được giao cho người bị khám 1 (một) bản.

Điều 131. Khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính

1. Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành chính.

2. Những người được quy định tại Điều 126 của Luật này, chiến sĩ cảnh sát nhân dân, cảnh sát viên cảnh sát biển, chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, công chức thuế, công chức hải quan, kiểm soát viên thị trường, thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ có quyền khám phương tiện vận tải, đồ vật trong phạm vi thẩm quyền của mình.

3. Khi tiến hành khám phương tiện vận tải, đồ vật phải có mặt chủ phương tiện vận tải, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vận tải và một người chứng kiến; trong trường hợp chủ phương tiện, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vắng mặt thì phải có hai người chứng kiến.

4. Mọi trường hợp khám phương tiện vận tải, đồ vật đều phải lập biên bản và phải giao cho chủ phương tiện vận tải, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vận tải 1 (một) bản.

Điều 132. Khám nơi cất giấu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

1. Khám nơi cất giấu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng ở nơi đó có cất giấu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

2. Những người được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này có quyền quyết định khám nơi cất giấu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; trong trường hợp nơi cất giấu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính là chỗ ở thì quyết định khám phải được sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện trước khi tiến hành.

3. Khi khám nơi cất giấu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính phải có mặt người chủ nơi bị khám hoặc người thành niên trong gia đình họ và người chứng kiến. Trong trường hợp người chủ nơi bị khám, người thành niên trong gia đình họ vắng mặt mà việc khám không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và 2 (hai) người chứng kiến.

4. Không được khám nơi cất giấu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc việc khám đang được thực hiện mà chưa kết thúc nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

5. Mọi trường hợp khám nơi cất giấu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản và phải lập biên bản. Quyết định khám nơi cất giấu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính và biên bản phải được giao cho người chủ nơi bị khám 1 (một) bản.

Điều 133. Quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

1. Quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất được áp dụng khi có căn cứ cho rằng nếu không áp dụng biện pháp này thì người đó sẽ trốn tránh hoặc cản trở việc thi hành quyết định xử phạt trục xuất hoặc để ngăn chặn người đó tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

2. Thủ trưởng Cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh nơi lập hồ sơ đề nghị trục xuất có quyền ra quyết định quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật trong thời gian làm thủ tục trục xuất bằng các biện pháp sau:

a) Hạn chế việc đi lại của người bị quản lý;

b) Chỉ định chỗ ở bắt buộc của người bị quản lý;

c) Tạm giữ hộ chiếu hoặc giấy tờ tuỳ thân khác thay hộ chiếu.

3. Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.

Điều 134. Trách nhiệm quản lý của gia đình, tổ chức đối với người đang làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính

1. Trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định việc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính thì gia đình, tổ chức xã hội thực hiện việc quản lý người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh .
Trong trường hợp đối tượng là người chưa thành niên thì việc quản lý được giao cho cha mẹ hoặc người giám hộ.

2. Đối tượng vi phạm có nơi cư trú ổn định thì giao cho gia đình quản lý; trường hợp người đó không có nơi cư trú ổn định thì giao cho tổ chức xã hội quản lý;

3. Thời hạn quản lý được tính từ khi lập hồ sơ cho đến khi người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quyết định của Tòa án. .

4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân nơi lập hồ sơ có thẩm quyền giao đối tượng vi phạm cho gia đình, tổ chức xã hội quản lý. Quyết định giao quản lý phải ghi rõ: ngày, tháng, năm quyết định; họ, tên, chức vụ của người quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được giao quản lý hoặc tên, địa chỉ của tổ chức xã hội được giao quản lý; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được quản lý; lý do, thời hạn, trách nhiệm của người được quản lý, trách nhiệm của người hoặc tổ chức quản lý và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng cư trú; chữ ký của người quyết định giao quản lý. Trong thời hạn 5 (năm) ngày, kể từ ngày ra quyết định, quyết định giao quản lý được gửi cho người hoặc tổ chức xã hội nhận quản lý, người được quản lý và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được quản lý cư trú để tổ chức thực hiện.

5. Trong thời gian quản lý, gia đình, tổ chức xã hội được giao quản lý có trách nhiệm:

a) Giám sát, quản lý không để người được quản lý tiếp tục vi phạm pháp luật;

b) Bảo đảm sự có mặt của người được quản lý tại nơi cư trú khi có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

c) Báo cáo kịp thời với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giao quản lý để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo với Chủ tịch Ủy ban nhân dân nơi lập hồ sơ trong trường hợp người được quản lý bỏ trốn hoặc có các hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian quản lý.

6. Trong thời gian quản lý, người được quản lý có trách nhiệm:

a) Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tạm trú, tạm vắng. Khi đi ra khỏi địa bàn xã, phường, thị trấn phải thông báo cho gia đình, tổ chức xã hội được giao quản lý biết về địa chỉ nơi đến, thời gian tạm trú tại đó;

b) Có mặt kịp thời tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã khi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu.

7. Trong thời gian quản lý, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản lý đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm sau:

a) Thông báo cho gia đình, tổ chức xã hội được giao quản lý và người được quản lý về quyền và nghĩa vụ của họ trong thời gian quản lý;

b) Thực hiện các biện pháp hỗ trợ gia đình, tổ chức xã hội được giao quản lý trong việc quản lý, giám sát người được quản lý tại nơi cư trú;

c) Khi được thông báo về việc người được quản lý bỏ trốn khỏi nơi cư trú hoặc có hành vi vi phạm pháp luật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải báo cáo ngay cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân nơi đã ra quyết định quản lý để có biện pháp xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.

8. Chính phủ quy định chi tiết về việc quản lý.

Điều 135. Truy tìm đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn

1. Trong trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh bỏ trốn trước khi được đưa vào trường hoặc cơ sở, thì cơ quan Công an cấp huyện nơi lập hồ sơ ra quyết định truy tìm đối tượng.

2. Trong trường hợp người đang chấp hành tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh bỏ trốn thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục và Giám đốc cơ sở chữa bệnh ra quyết định truy tìm đối tượng. Cơ quan Công an có trách nhiệm phối hợp với trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong việc truy tìm đối tượng để đưa người đó trở lại trường hoặc cơ sở.

3. Đối với người có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này, nếu khi truy tìm được mà người đó đã đủ 18 tuổi thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có trường giáo dưỡng xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.
PHẦN THỨ NĂM: NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM HÀNH CHÍNH

CHƯƠNG I:

QUY ĐỊNH CHUNG VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Điều 136. Phạm vi áp dụng

Việc xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của Phần thứ năm và các quy định khác có liên quan của Luật này.

Điều 137. Nguyên tắc xử lý

Ngoài những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính quy định tại Điều 3 của Luật này, việc xử lý đối với người chưa thành niên còn được áp dụng các nguyên tắc sau đây:

1. Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Trong quá trình xem xét xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng chỉ được áp dụng khi xét thấy không có biện pháp xử lý khác phù hợp hơn.

2. Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính còn căn cứ vào khả năng nhận thức của người chưa thành niên về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, nguyên nhân và hoàn cảnh vi phạm để quyết định việc xử phạt hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp.

3. Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính chỉ bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo.
Trong trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính mà bị phạt tiền thì mức phạt tiền không quá ½ (một phần hai) mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên.Trường hợp người chưa thành niên không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay.

4. Trong quá trình xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, bí mật riêng tư của người chưa thành niên phải được tôn trọng và bảo vệ.

5. Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính phải được xem xét áp dụng khi đủ các điều kiện quy định tại Chương II của Phần này. Việc áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính không coi là đã bị xử lý vi phạm hành chính.

Điều 138. Áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả

1. Các hình thức xử phạt áp dụng đối với người chưa thành niên:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền;

c) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 84 của Luật này.

2. Các biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với người chưa thành niên:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;

b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;

c) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường; văn hóa phẩm có nội dung độc hại;

d) Buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái với quy định của pháp luật.

Điều 139. Áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

1. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật theo quy định tại Chương I Phần thứ ba của Luật này.
Người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn có nghĩa vụ sống cùng cha, mẹ hoặc người giám hộ; được đi học hoặc tham gia các chương trình học tập hoặc dạy nghề khác; tham gia các chương trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống tại cộng đồng.

2. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật theo quy định tại Chương II Phần thứ ba của Luật này.

Điều 140. Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1. Người chưa thành niên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 6 (sáu) tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 1 (một) năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử lý hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử lý mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

CHƯƠNG II:

CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Điều 141. Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính

Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên bao gồm:

1. Nhắc nhở;

2. Quản lý tại gia đình.

Điều 142. Nhắc nhở

1. Nhắc nhở là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính được thực hiện đối với người chưa thành niên thực hiện vi phạm hành chính mà theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính khi có đủ các điều kiện sau:

a) Vi phạm hành chính theo quy định có thể bị phạt cảnh cáo;

b) Người chưa thành niên vi phạm đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình.

2. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều này người có thẩm quyền xử phạt quyết định áp dụng biện pháp nhắc nhở.
Nhắc nhở được thực hiện bằng lời nói, ngay tại chỗ để chỉ ra những vi phạm.do người chưa thành niên thực hiện.

Điều 143. Quản lý tại gia đình

1. Quản lý tại gia đình là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối với người chưa thành niên thuộc đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 93 của Luật này khi có đủ các điều kiện sau:

a) Người chưa thành niên vi phạm đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình;

b) Có môi trường sống thuận lợi cho việc thực hiện biện pháp này;

c) Cha mẹ hoặc người giám hộ có đủ điều kiện thực hiện việc quản lý và tự nguyện nhận trách nhiệm quản lý tại gia đình.

2. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án nhân dân cấp huyện quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình.

3. Thời hạn áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình là từ 3 (ba) tháng đến 6 (sáu) tháng.

4. Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình có hiệu lực, Tòa án nhân dân đã ra quyết định phải gửi cho gia đình để thực hiện và thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để phối hợp, giám sát thực hiện.
Người chưa thành niên đang quản lý tại gia đình được đi học hoặc tham gia các chương trình học tập hoặc dạy nghề khác; tham gia các chương trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống tại cộng đồng.

5. Trong thời gian quản lý tại gia đình nếu người chưa thành niên tiếp tục vi phạm pháp luật thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp này.
PHẦN THỨ SÁU: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 144. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2013, trừ Phần thứ ba và các quy định khác của Luật này về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, biện pháp xử lý thay thế quản lý tại gia đình đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính có hiệu lực sau 2 (hai) năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

2. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12 ngày 02 tháng 4 năm 2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hết hiệu lực thi hành, trừ các quy định về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

3. Bãi bỏ khoản 2 Điều 19, Điều 20 và bỏ cụm từ “bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh” tại khoản 1 Điều 23 của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003.

Điều 145. Điều khoản chuyển tiếp

Kể từ ngày có hiệu lực thi hành, Luật này được áp dụng như sau:

1. Các điều luật quy định việc không ra quyết định xử phạt; hoãn, miễn thi hành quyết định xử phạt; hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên và các quy định khác có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thì được áp dụng đối với cả những vi phạm hành chính xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2013 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, xử lý hoặc đối với cá nhân đang được xét hoãn, miễn thi hành quyết định xử lý.

2. Các điều luật quy định hình thức xử phạt mới, biện pháp khắc phục hậu quả mới, tình tiết tăng nặng mới; quy định mới biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hoặc quy định thời hiệu xử lý dài hơn và các quy định khác không có lợi cho cá nhân, tổ chức, thì không áp dụng đối với những vi phạm hành chính xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 07 năm 2013. mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, xử lý hoặc đối với cá nhân đang được xét hoãn, miễn thi hành quyết định xử lý; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trước đây để giải quyết.

Điều 146. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản cụ thể được giao trong Luật này. Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá ..., kỳ họp thứ…… thông qua ngày…. tháng…. năm 201….

Tổng quan văn bản

Số ký hiệuKhông số
Ngày ban hành02/01/1753
Loại văn bảnDự thảo
Ngày có hiệu lực02/01/1753
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýBộ Tư pháp
Phạm viTrung ương, Bộ Tư pháp
Trích yếuLuật xử lý vi phạm hành chính
Tình trạng hiệu lựcĐã thông qua

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.