|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 450/KH-UBND |
Vĩnh Phúc, ngày 20 tháng 01 năm 2016 |
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2016 - 2020 TỈNH VĨNH PHÚC
Phần I
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2011-2015
Vĩnh Phúc xây dựng kế hoạch 5 năm 2011-2015 trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội chung của cả nước rất thuận lợi và đặc biệt là kết quả phát triển kinh tế - xã hội tỉnh trong giai đoạn trước hết sức thành công.
Kế thừa những thành tựu đạt được từ khi tái lập tỉnh, nhất là 10 năm trước đó; nhờ đóng góp lớn của các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là của 2 công ty Toyota và Honda (giai đoạn 2006-2010: GTSX của ô tô và xe máy bình quân chiếm 59,1% trong tổng giá trị sản xuất toàn tỉnh, đóng góp khoảng 50-55% cho tăng trưởng chung của tỉnh; trong đó: riêng xe máy Honda về giá trị sản xuất chiếm 38,3% trong tổng giá trị sản xuất toàn tỉnh; đóng góp khoảng 30-33% cho tăng trưởng chung của tỉnh), tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp và tạo sự lan tỏa đối với công nghiệp hỗ trợ. Vì vậy thời kỳ này tăng trưởng kinh tế liên tục đạt cao (nhịp độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2010 tăng 16,5%/năm, trong đó: giai đoạn 2001-2005 tăng 15,02%/năm và giai đoạn 2006-2010 tăng 18%/năm); nguồn thu ngân sách lớn (đến năm 2010 thu ngân sách của tỉnh đạt trên 15.300 tỷ đồng); giải quyết công ăn việc làm; đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân;… Vị thế của Vĩnh Phúc trong khu vực và trong cả nước được nâng lên.
Hơn nữa, giai đoạn 2011-2015 cũng được dự báo là thời kỳ thu hút nhiều dự án mới, đặc biệt trong sản xuất công nghiệp như sản xuất ô tô, xe máy, gạch ốp lát,... sẽ tăng sản lượng sản xuất, mở rộng được thị trường tiêu thụ; các dự án đã đăng ký đầu tư của Tập đoàn Compal và Tập đoàn Hồng Hải (sản xuất máy tính xách tay và điện thoại di động) sẽ sản xuất vào năm 2013, giá trị sản xuất tạo ra chiếm khoảng 35% tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp, đóng góp khoảng 5-6% điểm tăng trưởng kinh tế của tỉnh và đóng góp khoảng từ 2-3 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu của tỉnh [1]…Do đó, đưa ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2015 tăng khoảng 14-15%/năm là có cơ sở.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thực hiện kế hoạch trong những năm vừa qua cho thấy còn tiềm ẩn nhiều khó khăn mà chúng ta không lường hết được.
- Những khó khăn trong nước và quốc tế:
+ Trước hết là ảnh hưởng của hậu khủng khoảng tài chính - tiền tệ, suy thoái kinh tế thế giới và khu vực, giá cả leo thang; lạm phát gia tăng tới 2 con số, lãi suất ngân hàng tăng cao theo từng tháng (giai đoạn 2010-2012), bất động sản bắt đầu có xu hướng “đóng băng”; nhu cầu tiêu dùng xã hội giảm mạnh; các thảm họa thiên tai như động đất, sóng thần ở Nhật Bản (năm 2011), lũ lụt ở Thái Lan (năm 2012) xảy ra đã ảnh hưởng lớn đến phát triển công nghiệp của tỉnh;…
+ Công ty Honda có công suất đăng ký 2 triệu xe máy/năm và đến năm 2010 đã sản xuất đạt trên 95%, năm 2011 đạt 100% công suất thiết kế, do vậy không tạo ra tăng trưởng kinh tế cho những năm sau; trong khi sản phẩm xe máy Honda đóng góp trên 30% tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
+ Hai dự án lớn sản xuất máy tính xách tay và điện thoại di động của Tập đoàn Compal và Tập đoàn Hồng Hải đã đăng ký đầu tư, dự kiến đến sẽ năm 2013 đi vào sản xuất; nhưng đã không đầu tư như dự kiến ban đầu; đã làm giảm khoảng 5-6 điểm % tăng trưởng của tỉnh; tỉnh đã phải thu hồi hầu hết diện tích đất đã giao cho 2 dự án này.
+ Đối phó với tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới cũng như những khó khăn mới phát sinh trong nước, Chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 đưa ra nhiều giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô như: thắt chặt đầu tư công, dừng, giãn tiến độ các công trình chưa cân đối được vốn, chưa thực sự bức thiết, tiết kiệm chi từ ngân sách nhà nước..., tiếp theo là Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ; nguồn lực được tập trung để xử lý, thanh toán nợ nên hạn chế đầu tư xây dựng mới. Những giải pháp này có tác động tích cực với nền kinh tế nhưng phần nào làm nhu cầu tiêu dùng xã hội giảm, dẫn đến hàng hóa tồn kho cao.
+ Bất động sản đóng băng, số doanh nghiệp ngừng hoạt động cao; thực hiện chủ trương của Chính phủ theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/1/2013 về giãn, hoãn thu tiền sử dụng đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm tiền thuê đất nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp làm giảm khả năng huy động nguồn lực cho phát triển.
+ Lợi thế cạnh tranh về vị trí địa lý của tỉnh mất dần so với các địa phương lân cận như Hà Nam, Bắc Ninh, Thái Nguyên,.. khi hệ thống giao thông quan trọng của quốc gia được đầu tư mới, mở rộng, nâng cấp và hoàn thiện. Điều đó tác động rất lớn đến môi trường đầu tư, chỉ số năng lực cạnh tranh giảm sút, một số nhà đầu tư đã đăng ký không đầu tư vào tỉnh.
- Những khó khăn nội tại của tỉnh:
+ Giá đất cho thuê trong các KCN cao, bồi thường giải phóng mặt bằng gặp khó khăn do giá đất của Vĩnh Phúc, đặc biệt ở những khu vực liền kề với thủ đô Hà Nội tăng vọt, tác động không nhỏ đến thu hút các dự án đầu tư vào tỉnh.
+ Đất dịch vụ của nhân dân qua 7 năm (từ năm 2004 đến năm 2011) chưa được giải quyết đang là vấn đề bức xúc.
+ Đầu tư dàn trải. Nợ công của tỉnh lớn, giai đoạn 2006-2010 tỉnh đã phê duyệt trên 1.200 dự án, với tổng mức đầu tư được duyệt trên 27.700 tỷ đồng.
+ Một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân có tư tưởng ỷ lại, chủ quan, ý chí phấn đấu, sáng tạo bị suy giảm,...; từ đó môi trường đầu tư bị tác động rất lớn, chỉ số năng lực cạnh tranh giảm sút.
Trước tình hình đó, bước vào năm 2011 Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tìm hiểu, phân tích cụ thể từng vấn đề, tìm nguyên nhân để đưa ra những quyết sách, trong đó thực hiện ngay việc tái cơ cấu, tái cấu trúc lại nền kinh tế, những vấn đề cần phải giải quyết ngay,...
(1) Trước hết, xác định vấn đề an dân phải được đặt lên hàng đầu, vì vậy Tỉnh đã có hàng loạt giải pháp với cách tiếp cận mới, ban hành nhiều chính sách về giải quyết đất ở, đất giãn dân, đất dịch vụ, đất đấu giá tạo nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới,.... đảm bảo hài hòa lợi ích của 3 bên, trong đó chú trọng lợi ích của người dân nên những vướng mắc về các loại đất tồn tại rất nhiều năm đã được giải quyết cơ bản xong.
(2) Khôi phục, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, trong đó trọng tâm là đẩy mạnh cải cải hành chính; xúc tiến đầu tư tại chỗ; nhất là tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
+ Thành lập Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư là cơ quan đầu mối thực hiện một cửa liên thông giải quyết thủ tục hành chính về đầu tư, xây dựng, đất đai với thời gian giảm chỉ bằng một nửa đến 1/3 so quy định của Nhà nước.
+ Thành lập Ban BT-GPMT cấp tỉnh, cấp huyện và Quỹ phát triển đất giải quyết vấn đề về mặt bằng “sạch” thực hiện dự án và thu hút đầu tư.
+ Xây dựng Đề án cải thiện, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh (PCI) giai đoạn 2013-2015.
+ Tạo điều kiện thuận lợi và tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp.
(3) Trong xây dựng cơ bản tỉnh đã xác định quan điểm, nguyên tắc, tiêu chí và chỉ đạo tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, chống đầu tư dàn trải, ưu tiên vốn trả nợ xong xây dựng cơ bản; trong đó ưu tiên đầu tư 4 công trình trọng điểm: Nhà hát tỉnh; Văn Miếu tỉnh; Hạ tầng trung tâm lễ hội Tây Thiên và Trục đường giao thông phát triển Công nghiệp phía Bắc tỉnh (Đường Nguyễn Tất Thành - Phúc Yên-> Đường Nguyễn Tất Thành - Bình Xuyên -> Đường KCN Bá Thiện -> Đường tỉnh 310).
(4) Tập trung đẩy mạnh khai thác các nguồn lực cho đầu tư phát triển, trong đó đã khai thông được nguồn vốn viện trợ ODA; đến nay có 03 dự án được nhà tài trợ chấp thuận bằng văn bản, đó là Dự án kiểm soát lũ lụt và quản lý nguồn nước tỉnh Vĩnh Phúc, Dự án phát triển đô thị loại II - thành phố xanh Vĩnh Yên và Dự án Bệnh viện sản nhi và Trung tâm ung bướu tỉnh Vĩnh Phúc.
(5) Quan tâm phát triển phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng Nghị quyết số 04/NQ-TU của Tỉnh ủy và hàng loạt kế hoạch triển khai cụ thể. Tiếp tục phát huy hiệu quả các cơ chế, chính sách đã ban hành như Nghị quyết 06 của Tỉnh ủy về phát triển nguồn nhân lực,... nhằm tạo động lực mạnh mẽ để thúc đẩy kinh tế- xã hội tỉnh.
(6) Chỉ đạo đồng bộ lập, điều chỉnh và triển khai các quy hoạch (quy hoạch kinh tế - xã hội; quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu; quy hoạch xây dựng; quy hoạch sử dụng đất) và đây là thời kỳ phê duyệt, tổ chức triển khai nhiều quy hoạch nhất so với các giai đoạn trước, có những quy hoạch được hoàn thành với tiến độ dẫn đầu cả nước (quy hoạch nông thôn mới).
(7) Trong sản xuất nông nghiệp:
+ Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh chỉ đạo tập trung dồn sức cho xây dựng nông thôn mới, có giải pháp đột phá, sáng tạo trong xây dựng nông thôn mới; trong đó: thay đổi cách chỉ đạo và triển khai thực hiện; tập trung hoàn thành quy hoạch, đề án (sớm nhất cả nước); lựa chọn các xã để chỉ đạo, làm điểm; phân công lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo sở, ngành trực tiếp chỉ đạo từng xã, từng tiêu chí; ưu tiên nguồn lực để đầu tư và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc bằng các cơ chế, chính sách,...
+ Tiếp tục kế thừa Nghị quyết 03-NQ/TU của Tỉnh ủy để thực hiện các chương trình đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, trong đó tập trung vào kiên cố hóa kênh mương, xây dựng các vùng sản xuất trồng trọt hàng hóa.
+ Tổ chức triển khai, lập Đề án Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với giải quyết lao động nông thôn đến 2020, với mục tiêu gắn sản xuất với tiêu thụ, hình thành ngành nông nghiệp công nghệ cao, phát triển hàng hóa.
(8) Trong phát triển công nghiệp:
- Tỉnh đã quan tâm trong việc tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm chủ lực, có đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng, thu ngân sách của tỉnh, cụ thể:
+ Lãnh đạo UBND tỉnh đã trực tiếp làm việc và thường xuyên chỉ đạo tháo gỡ khó khăn cho công ty Toyota do ảnh hưởng của động đất, sóng thần tại Nhật Bản.
+ Giải quyết mở rộng đất nhà máy, đầu tư nâng cấp hệ thống lưới điện, giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân của công ty Honda;
+ Cấp đủ điện cho sản xuất và tạo điều kiện được thuê đất với giá phù hợp để mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng nhà máy sản xuất động cơ xe máy đối với công ty Piaggio.
- Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp phụ trợ (Năm 2012 HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết 56; UBND tỉnh ban hành Quyết định 47).
+ Đổi mới trong việc lựa chọn các nhà đầu tư có năng lực (Tập đoàn Sumitomo, Tập đoàn FLC, Vitto...) vào đầu tư hạ tầng các khu KCN nhằm tạo sự cạnh tranh về giá cho thuê đất.
Mặt khác, Tỉnh đã chỉ đạo Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh kiểm soát cho vay sản xuất kinh doanh của các ngân hàng thương mại, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trên địa bàn được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, thực hiện công khai lãi suất từng thời điểm.
(9) Về phát triển dịch vụ: Tỉnh ủy ban hành nghị quyết 01 theo hướng tập trung phát triển 5 lĩnh vực dịch vụ có thế mạnh, có tiềm năng (du lịch, thương mại, y tế, giáo dục và vận tải). Từ đó, đẩy mạnh xúc tiến, kêu gọi các nhà đầu tư tiềm năng đầu tư vào Khu Tam Đảo II, tập trung nguồn lực đầu tư hoàn thành nhiều công trình lớn phục vụ văn hoá, du lịch như Khu danh thắng Tây Thiên, Quảng trường Hồ Chí Minh, Văn Miếu tỉnh, huy động các nguồn vốn ODA, trái phiếu Chính phủ để đầu tư một số tuyến giao thông, bệnh viện, trường học...
Bên cạnh đó, được sự quan tâm, giúp đỡ của Chính phủ và các Bộ, ngành TW, sự nỗ lực cố gắng khắc phục khó khăn của các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đã giúp kinh tế của tỉnh giữ được ổn định và tiếp tục có được sự tăng trưởng.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn cả nước, bình quân tăng 6,36%/năm, trong đó: nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng 3,66%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 9,55%/năm và dịch vụ tăng 7,14%/năm; Quy mô GRDP theo giá hiện hành tăng dần qua các năm, ước năm 2015 đạt 70,57 nghìn tỷ đồng tăng 1,6 lần so với năm 2010. GRDP/người ước đến năm 2015 đạt 67 triệu đồng, tăng bình quân 9,4%/năm; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; ước năm 2015, tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 62,12%; dịch vụ chiếm 28,11% và nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 9,77%. Các lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ; bảo vệ môi trường được tăng cường, quốc phòng được củng cố, an ninh trật tự an toàn xã hội ổn định.
Tình hình thực hiện của các ngành, lĩnh vực như sau:
I. KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới
Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản: Bình quân giá trị sản xuất (giá so sánh 2010) tăng 3,51%/năm, đạt mục tiêu đề ra. Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt. Dự kiến năm 2015: Trồng trọt chiếm 42,7% (giảm 3% so năm 2010), chăn nuôi chiếm 51% (tăng 2,4% so với năm 2010).
Trong 5 năm qua, trồng trọt đã có bước chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm. Toàn tỉnh đã hình thành 487 vùng trồng trọt hàng hoá tập trung với diện tích 4,3 ngàn ha, cung cấp hàng trăm tấn bí đỏ, bí xanh, dưa chuột, khoai tây,... cho thị trường trong và ngoài tỉnh. Đã xuất hiện một số mô hình doanh nghiệp đầu tư vào trồng trọt thông qua thuê đất của nông dân với diện tích hàng trăm ha. Giá trị sản xuất bình quân trên một ha canh tác tăng qua các năm, năm 2015 dự kiến đạt: 135 triệu đồng/ha, gấp 1,6 lần so năm 2010. Nhiều mô hình sử dụng giống lúa mới cho năng suất, chất lượng cao đã được nhân rộng, đưa năng suất lúa bình quân đạt 54,4 tạ/ha, tăng 4,1 tạ/ha so bình quân 5 năm 2006-2010. Sản lượng lương thực có hạt năm 2015 ước đạt 39,5 vạn tấn, đạt mục tiêu Đại hội đề ra (39-40 vạn tấn).
Chăn nuôi phát triển khá, giá trị sản xuất tăng bình quân 4,4%/năm. Tổng đàn gia súc gia cầm phát triển ổn định, trong đó đàn bò sữa tăng nhanh, năm 2015 toàn tỉnh có 8,73 nghìn con bò sữa, tăng 6,7 nghìn con so năm 201 Nhiều trang trại, khu chăn nuôi tập trung với quy mô lớn, áp dụng kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến đã được hình thành, nhất là trang trại chăn nuôi lợn, bò sữa, gia cầm. Một số trang trại đã được cấp giấy chứng nhận sản phẩm sản xuất phù hợp quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP). Chăn nuôi đang từng bước khẳng định là ngành sản xuất chính, đem lại giá trị thu nhập cao cho nông dân trong tỉnh.
Sản xuất thủy sản phát triển mạnh, giá trị sản xuất thủy sản bình quân tăng 11%/năm, trong đó sản xuất và cung ứng cá giống tăng với sản lượng tăng bình quân 13,9%/năm. Một số giống cá mới đã được đưa vào nuôi thâm canh, sử dụng thức ăn công nghiệp với năng suất đạt được 15 - 18 tấn/ha, lợi nhuận trên 100 triệu/ha, đã và đang tạo ra hướng nuôi trồng thủy sản mới trên địa bàn tỉnh.
Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được triển khai toàn diện, từng bước nâng cao chất lượng 3 loại rừng. Công tác phòng cháy chữa cháy rừng, ngăn chặn xâm hại tài nguyên rừng được thực hiện tích cực. Mô hình sản xuất nông lâm kết hợp được triển khai đã góp phần tăng thu nhập của chủ rừng, nâng cao khả năng phòng hộ và bảo vệ môi trường của rừng. Diện tích rừng trồng tập trung bình quân ước đạt 753,6 ha/năm, diện tích trồng cây phân tán đạt 330 ha/năm. Tỷ lệ che phủ rừng đã tăng từ 22,4% năm 2010 lên 25,4% năm 2015.
Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới được triển khai đồng bộ, tích cực. Sau 4 năm thực hiện, dưới sự lãnh, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở và nhân dân trong tỉnh, Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới đã đạt được những kết quả quan trọng:
Bộ máy chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở được kiện toàn củng cố, hoạt động có nề nếp và hiệu quả; công tác lãnh đạo, chỉ đạo được tăng cường; Công tác tuyên truyền, tập huấn về xây dựng Nông thôn mới được triển khai sâu rộng đã nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ các cấp và nhân dân trong tỉnh về vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới. Tỉnh đã ban hành được hệ thống cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư đồng bộ, công khai, phân cấp rõ ràng, kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc, quyết liệt chỉ đạo tập trung vốn đầu tư hàng năm để hỗ trợ các xã xây dựng nông thôn mới đạt chuẩn.
Kết quả năm 2011 toàn tỉnh đã hoàn thành công tác quy hoạch và lập đề án xây dựng nông thôn mới. Đến năm 2015 dự kiến có 2 huyện đạt chuẩn nông thôn mới; 70 xã đạt chuẩn, đạt tỷ lệ 62,5% số xã trong tỉnh, vượt mục tiêu đề ra (MTĐH: 35-40%).
2. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò là nền tảng của nền kinh tế, từng bước khắc phục được những khó khăn trong giai đoạn đầu và tăng khá trong những năm gần đây. Giá trị sản xuất (giá so sánh 2010) ngành công nghiệp - xây dựng ước tăng bình quân 9,57%/năm, trong đó công nghiệp tăng 9,36%/năm.
Các sản phẩm công nghiệp ngày càng tăng về số lượng và chủng loại, nhiều sản phẩm mới được sản xuất như linh kiện điện tử, hàng công nghiệp tiêu dùng như điều hoà, tủ lạnh, thuốc chữa bệnh,...Sản phẩm ô tô, xe máy vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Sản lượng sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá như: xe ô tô 5-14 chỗ ngồi tăng 8,5%/năm, xe máy các loại giảm 0,3%/năm (do xe máy Honda giảm 2,3%/năm), gạch ốp lát tăng 9,3%/năm, quần áo các loại tăng 13,2%/năm, thức ăn gia súc, gia cầm tăng 8,9%/năm, ống thép tăng 14,9%/năm,... trong đó sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng, nhất là xuất khẩu sản phẩm xe máy, linh kiện điện tử,.. đây là hướng đi mới của các doanh nghiệp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ.
Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tiếp tục được quan tâm. Trong 5 năm qua, thông qua Chương trình khuyến công, ngân sách tỉnh đã hỗ trợ hàng chục tỷ đồng đào tạo, truyền nghề, xây dựng các mô hình trình diễn,.....giúp các làng nghề bảo tồn và phát triển. Đến năm 2015 toàn tỉnh đã có 24/77 làng nghề được công nhận đạt chuẩn, trong đó nhiều làng nghề phát triển mạnh. Các làng nghề đã giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động, góp phần phát triển kinh tế khu vực nông thôn trong tỉnh.
- Phát triển khu, cụm công nghiệp tiếp tục được quan tâm thực hiện theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt [2]. Giai đoạn 2011 - 2015, tỉnh đã thành lập mới 02 khu (Tam Dương II, Bình Xuyên II - giai đoạn 2); điều chỉnh cục bộ phạm vi 54 ha tại KCN Bá Thiện (đợt 1); giao Chủ đầu tư KCN Tam Dương II (khu A và khu B) cho hai công ty Vitto và Tập đoàn FLC; bàn giao hồ sơ KCN Chấn Hưng cho công ty FLC tạm thời quản lý; làm việc với tập đoàn Sumimoto để đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Thăng Long II (trên phần diện tích điều chỉnh giảm của KCN Bình Xuyên II do công ty Fuchuan làm chủ đầu tư). Đồng thời, chỉ đạo rà soát và đưa 2 KCN (Hội Hợp - 150 ha và Vĩnh Tường - 200 ha) ra khỏi danh mục đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý quy hoạch.
Như vậy, đến hết năm 2015 toàn tỉnh có 19 KCN nằm trong danh mục ưu tiên phát triển đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, với diện tích là 5.540 ha, trong đó: 09 Khu được thành lập và có 7 Khu đã đi vào hoạt động [3]. Tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất công nghiệp đã được thành lập đến hết năm 2015 ước đạt 44,8% (nếu tính trên diện tích đã bồi thường - GPMB, tỷ lệ lấp đầy đạt 75,3%).
Ngoài ra, thực hiện cơ chế chính sách phát triển cụm công nghiệp theo Nghị quyết số 12 của HĐND tỉnh, đến nay đã hình thành 16 cụm công nghiệp, trong đó có 7 cụm công nghiệp đi vào hoạt động [4], giải quyết việc làm cho hơn 7 nghìn lao động.
3. Dịch vụ
Các ngành dịch vụ đều có bước phát triển, đặc biệt là những ngành dịch vụ kinh doanh như thương mại, du lịch khách sạn, vận tải kho bãi, thông tin liên lạc,... Giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng bình quân 6,82%/năm.
Hoạt động kinh doanh thương mại trên địa bàn phong phú và đa dạng, hàng hoá trên thị trường đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Kinh doanh thương mại phát triển mạnh theo hướng hiện đại, văn minh. Hạ tầng thương mại được quan tâm, nhiều trung tâm thương mại, siêu thị lớn đã đi vào khai thác. Tổng mức bán lẻ thị trường xã hội toàn giai đoạn tăng bình quân 18,7%/năm.
Công tác quản lý thị trường được tăng cường nhất là công tác hướng dẫn, tuyên truyền, kiểm tra, kiểm soát. Qua 5 năm các cơ sở sản xuất kinh doanh đã có ý thức chấp hành và hoạt động theo đăng ký kinh doanh. Tình hình buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng từng bước được kiềm chế, góp phần vào ổn định sản xuất kinh doanh.
Hoạt động xuất khẩu tăng khá do sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 ước đạt 1,575 tỷ USD tăng bình quân 24,5%/năm, trong đó giá trị linh kiện điện tử tăng mạnh với 83,1%/năm, xe máy (kể cả linh kiện đồng bộ) tăng 34,16%/năm.
Kim ngạch nhập khẩu năm 2015 ước đạt 2,326 tỷ USD, tăng 7,7%/năm, sản phẩm nhập khẩu chủ yếu là nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng phục vụ sản xuất và máy móc thiết bị để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp.
Kinh doanh du lịch có nhiều đổi mới; Tỉnh đã tập trung nguồn lực đầu tư hoàn thành nhiều công trình phục vụ văn hoá, du lịch lớn đã góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân trong tỉnh và thu hút hàng triệu lượt du khách tỉnh ngoài đến với Vĩnh Phúc. Các hoạt động quảng bá được triển khai mạnh mẽ, các cơ sở kinh doanh du lịch tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng phục vụ. Ngoài ra các lễ hội truyền thống hàng năm được tổ chức ngày càng hấp dẫn du khách, ước đến năm 2015 doanh thu du lịch đạt khoảng 1,17 nghìn tỷ đồng, bình quân tăng 7,7%/năm.
Kinh doanh vận tải có bước phát triển khá, đã đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân, đặc biệt những dịp tết và lễ hội, mùa tham quan du lịch hàng năm. Hệ thống giao thông được đầu tư nâng cấp; mạng lưới xe buýt được mở rộng. Khối lượng vận tải hàng hoá và hành khách đều tăng cao. Bình quân giai đoạn 2011-2015: khối lượng vận chuyển hàng hoá tăng 9,7%/năm; khối lượng luân chuyển tăng 10,4%/năm. Vận chuyển hành khách 3,2%/năm; luân chuyển tăng 6,5%/năm.
Các dịch vụ bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển nhanh, đa dạng với chất lượng ngày càng tốt hơn do các đơn vị kinh doanh tăng cường đầu tư áp dụng công nghệ hiện đại, thay thế bởi các công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng phục vụ. Đến nay các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu về dịch vụ viễn thông, Internet, thuê kênh… tại địa bàn các khu, cụm công nghiệp. Dịch vụ về viễn thông, Internet có tốc độ tăng trưởng cao. Doanh thu toàn ngành năm 2015 ước đạt 3,2 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 8,9%/năm.
Dịch vụ tín dụng, ngân hàng đáp ứng tốt cho các nhu cầu của xã hội. Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tăng trưởng khá, bình quân tăng 24,3%/năm. Các tổ chức tín dụng đã thực hiện hiệu quả nhiều biện pháp tháo gỡ khó khăn về thủ tục cho vay vốn, thực hiện khoanh nợ, giãn nợ... để thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh. Dòng vốn tín dụng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và chủ yếu vào khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển (chiếm 95%); tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân tăng 13%/năm. Nợ xấu đã được kiềm chế và cơ bản được xử lý, đến cuối năm 2015 chiếm khoảng 1,41% trên tổng dư nợ.
4. Công tác lập, quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch tiếp tục được quan tâm
Công tác lập quy hoạch được tỉnh đặc biệt quan tâm và đây là thời kỳ phê duyệt, tổ chức triển khai nhiều quy hoạch nhất so với các giai đoạn trước, có những quy hoạch được hoàn thành với tiến độ dẫn đầu cả nước như quy hoạch nông thôn mới. UBND tỉnh đã chỉ đạo đồng bộ từ khâu lập mới đến rà soát, bổ sung, điều chỉnh các loại quy hoạch nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo tính thống nhất, khả thi của quy hoạch. Ngay từ đầu kỳ, tỉnh đã tập trung chỉ đạo hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 tầm nhìn 2030, Quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030 tầm nhìn 2050 và trên cơ sở đó tỉnh tiếp tục chỉ đạo lập và phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng tỉnh đến năm 2030 làm căn cứ để triển khai lập quy hoạch chi tiết các phân khu đô thị, đảm bảo khép kín trên địa bàn tỉnh. Đối với các dự án quy hoạch có tính chất quan trọng, tác động mạnh đến quá trình phát triển của tỉnh, UBND tỉnh đã đề xuất, xin ý kiến Tỉnh ủy cho phép thuê tư vấn nước ngoài hoặc lựa chọn ý tưởng tốt nhất của nước ngoài để thực hiện. Cụ thể:
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu được các cấp, các ngành tích cực triển khai đồng bộ. Đến nay, đã hoàn thành và phê duyệt 58 quy hoạch cho thời kỳ đến năm 2020. Trong đó có 10 quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 cấp tỉnh, cấp huyện; 48 quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu. Các dự án quy hoạch sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành tổ chức công bố, tổ chức triển khai thực hiện và định kỳ kiểm tra, giám sát thực hiện bằng các kế hoạch cụ thể đã góp phần quan trọng và là cơ sở để kế hoạch hoá trong đầu tư xây dựng, thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Quy hoạch xây dựng: toàn tỉnh đã triển khai lập 194 đồ án quy hoạch, trong đó có nhiều đồ án lớn, quan trọng như: Quy hoạch Vùng tỉnh, quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc, Quy hoạch phân khu theo quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc, quy hoạch phân khu các khu chức năng hành lang kinh tế, quy hoạch chung các khu chức năng về du lịch dịch vụ (bắc Ngọc Thanh, hồ Làng Hà), quy hoạch khu du lịch Tam Đảo I, khu du lịch Tam Đảo II và khu du lịch Đại Lải, quy hoạch chi tiết các khu công nghiệp, quy hoạch chi tiết chỉnh trang đô thị trong phạm vi quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc... Đồng thời, tiếp tục rà soát các quy hoạch đã được duyệt nhằm điều chỉnh, bổ sung kịp thời, phù hợp với thực tế của tỉnh và ban hành Quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị trên địa bàn tỉnh làm cơ sở để quản lý đầu tư xây dựng và cấp phép xây dựng. Là tỉnh dẫn đầu trong cả nước hoàn thành quy hoạch nông thôn mới (vào năm 2011).
- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) cả 3 cấp đã được duyệt và tổ chức triển khai thực hiện, đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xúc tiến kêu gọi đầu tư, tiến hành các thủ tục giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, đúng mục đích theo quy định của pháp luật Đất đai hiện hành. Hiện nay, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành tiến hành rà soát để có cơ sở thực hiện các bước điều chỉnh Quy hoạch, Kế hoạch định kỳ theo quy định của pháp luật về Đất đai.
5. Hoạt động quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng có nhiều đổi mới
Tỉnh đã có những giải pháp đột phá, thay đổi về tư duy, cách làm giúp cho công tác quản lý, điều hành, thực hiện về lĩnh vực đầu tư và xây dựng có bước chuyển biến cơ bản, nhất là sau khi có Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Phân cấp quyết định đầu tư được thực hiện mạnh mẽ và quyết liệt gắn với phân cấp, phân quyền và phân trách nhiệm. Xác định đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; bố trí vốn đầu tư tập trung, cơ cấu vốn đầu tư được điều chỉnh hợp lý. Đặc biệt, với những cải cách mạnh mẽ trong quản lý, tỉnh đã chặn đứng việc phát sinh nợ đọng trong xây dựng cơ bản, nhiều vấn đề tồn tại từ những năm trước như đầu tư dàn trải, phê duyệt dự án tràn lan,... đã được giải quyết, từ đó nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng của tỉnh. Tỉnh đã tập trung đầu tư nhiều công trình thuộc hạ tầng khung đô thị, công trình phúc lợi xã hội tạo điểm nhấn cho đô thị, ...với cách làm mới nhiều công trình rút ngắn được thời gian thi công, hiệu quả đầu tư được nâng lên.
- Công tác chuẩn bị đầu tư đã có những chuyển biến mạnh mẽ, nhiều dự án chuẩn bị đầu tư mới, chưa thực sự cấp thiết được dừng thực hiện nhằm tập trung nguồn vốn cho trả nợ. Số dự án chuẩn bị đầu tư giảm mạnh, đã tạm dừng chuẩn bị đầu tư 82 dự án với tổng mức đầu tư 6,54 nghìn tỷ đồng (gần 40% tổng mức đầu tư các dự án được duyệt).
- Công tác thẩm định dự án có nhiều tiến bộ. Số lượng dự án do UBND tỉnh phê duyệt giai đoạn 2011 - 2014 là 617 dự án, với tổng mức đầu tư 16,3 nghìn tỷ đồng, thấp hơn nhiều so với giai đoạn 2006 - 2010 (chỉ bằng 49,1% về dự án và bằng 59% về giá trị tổng mức đầu tư). Công tác thẩm tra thiết kế kỹ thuật bản vẽ thi công - dự toán được thực hiện đúng qui định, nhất là từ khi Nghị định 15/2013/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực.
- Công tác đầu thầu được các cấp, các ngành quan tâm. 100% kế hoạch lựa chọn nhà thầu được thẩm định đúng thời hạn trong đó có trên 90% xong trước thời gian quy định. Việc phân chia gói thầu và xác định thời gian lựa chọn nhà thầu được cải tiến, thực hiện nghiêm túc theo quy định của Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/06/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
- Bồi thường - giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch phục vụ thu hút đầu tư và đáp ứng yêu cầu về tiến độ thực hiện dự án được UBND tỉnh tập trung chỉ đạo và các cấp, các ngành tổ chức triển khai tích cực. Tỉnh đã thành lập Ban GPMB và Phát triển quỹ đất chuyên trách ở cấp tỉnh và cấp huyện, đồng thời thành lập Quỹ phát triển đất với số vốn điều lệ ban đầu là 300 tỷ đồng, hàng năm được bổ sung từ 30-50 tỷ đồng nhằm đáp ứng ngay các yêu cầu cần phải GPMB nhanh. Cũng trong giai đoạn này, tỉnh đã dành 460 tỷ đồng để giải phóng mặt bằng, mở rộng các trường học với diện tích 220 ha nhằm đáp ứng yêu cầu đạt chuẩn quốc gia. Nhiều dự án trong giai đoạn trước gặp khó khăn về BT-GPMB đến nay đã được giải quyết xong. Tổng diện tích BT-GPMB giai đoạn 2011-2014 là 1.236,8 ha và dự kiến năm 2015 sẽ giải phóng mặt bằng khoảng 150 ha.
- Công tác phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện tốt, bám sát các chỉ đạo của Chính phủ nhất là Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 và đảm bảo đủ cơ cấu đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo và Khoa học - Công nghệ. Vốn đầu tư được phân bổ với cơ cấu hợp lý (30% trọng điểm, 30% thanh toán nợ và 40% chuyển tiếp và mới), tập trung hơn (số dự án giao kế hoạch đầu năm và dự án mới giảm dần, số dự án hoàn thành tăng lên) [5] nhằm vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, vừa giải quyết nợ XDCB theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời vẫn tiếp tục thực hiện đầu tư phát triển. Việc phân bổ vốn được triển khai kịp thời, công khai, minh bạch theo đúng nguyên tắc, tiêu chí và định mức quy định tại Nghị quyết số 24/2010/NQ-HĐND ngày 22/12/2010 của HĐND tỉnh. Khối lượng thực hiện và giải ngân hàng năm đều đạt trên 90% kế hoạch được giao.
- Công tác quản lý nhà nước về chất lượng xây dựng được chỉ đạo quyết liệt, đã kịp thời uốn nắn, nhắc nhở và xử lý các chủ đầu tư vi phạm về chất lượng công trình. Giám sát, đánh giá đầu tư có nhiều chuyển biến tích cực và đi vào nề nếp hơn nhất là từ khi có Chỉ thị số 07/CT-UBND ngày 10/5/2013 của UBND tỉnh.
- Công tác quyết toán vốn đầu tư chuyển biến rất tích cực. Tỉnh ủy đã chỉ đạo quyết liệt trong việc xử lý chủ đầu tư, nhà thầu chậm quyết toán. UBND tỉnh kịp thời chỉ đạo giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong quá trình quyết toán công trình. UBND tỉnh giao cơ quan chức năng thường xuyên cập nhật thông tin các dự án chậm quyết toán của Chủ đầu tư và nhà thầu vi phạm Chỉ thị 27 của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, công bố trên phương tiện thông tin đại chúng nhằm đôn đốc, chấn chỉnh các chủ đầu tư, nhà thầu hoàn thiện hồ sơ báo cáo quyết toán.
6. Thu ngân sách nhà nước đạt cao, chi ngân sách được kiểm soát chặt chẽ
Thu ngân sách nhà nước gặp nhiều khó khăn, có những năm hụt thu ngân sách lớn so dự toán Trung ương giao (năm 2012 hụt thu 5.153 tỷ đồng). Tỉnh đã đề ra kịp thời các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh tạo nguồn thu, tăng cường đôn đốc thu số thuế còn nợ nộp ngân sách, đẩy mạnh kiểm tra chống thất thu thuế và đặc biệt một số doanh nghiệp đóng góp số thu lớn cho tỉnh đã có sản lượng tiêu thụ khá như Toyota, Honda... Đến năm 2014 thu ngân sách của tỉnh vượt mốc 20 nghìn tỷ đồng, đứng thứ 7 cả nước về tổng thu, thứ 2 miền Bắc về thu nội địa và ước đến năm 2015 tổng thu đạt 24,3 nghìn tỷ đồng (riêng khu vực FDI đạt 18,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,6% tổng thu), bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng 9,6%/năm, trong đó thu nội địa tăng 14,3%/năm; riêng thu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,8%/năm.
UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn xây dựng và chủ động bảo vệ Kế hoạch dự toán ngân sách hàng năm với Bộ Tài chính, các cơ quan Trung ương, đồng thời quyết liệt trong điều hành triển khai thực hiện kế hoạch được giao, vì vậy trong kỳ nhiều năm chúng ta đã thu vượt dự toán được giao, do đó có thêm nguồn chi từ nguồn thưởng vượt dự toán thu [6]. Công tác quản lý chi ngân sách được tăng cường, kiểm soát chi chặt chẽ, quản lý chi theo dự toán, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nguồn thưởng vượt thu được sử dụng đúng mục đích. Ước giai đoạn 2011-2015 tổng chi ngân sách bình quân tăng 12,3%/năm.
7. Công tác xúc tiến và thu hút đầu tư có nhiều đổi mới, vận động thu hút vốn ODA và viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài được triển khai tích cực
- Hoạt động xúc tiến và thu hút đầu tư có nhiều đổi mới và đạt kết quả khá. Trước những khó khăn do ảnh hưởng suy thoái kinh tế, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tụt giảm năm 2011, 2012 ảnh hưởng đến thu hút đầu tư, tỉnh đã đặc biệt chú trọng đến công tác xúc tiến đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, trong đó coi trọng hoạt động xúc tiến đầu tư tại chỗ bằng giải pháp quan tâm và giải quyết ngay các khó khăn cho doanh nghiệp đang đầu tư tại tỉnh. UBND tỉnh đã tổ chức nhiều buổi tiếp và làm việc với các nhà đầu tư đến tìm hiểu cơ hội đầu tư.
Để cải thiện môi trường đầu tư tỉnh đã tập trung vào khâu cải cách thủ tục hành chính, đây được coi là khâu đột phá của những năm qua. Thành lập Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư là cơ quan chuyên trách tổ chức các hoạt động xúc tiến và hỗ trợ đầu tư nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp trong xúc tiến và hỗ trợ đầu tư, nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư. Thành lập Ban Giải phóng mặt bằng và Phát triển quỹ đất cấp tỉnh; ban hành chính sách hỗ trợ công nghiệp phụ trợ; xây dựng Đề án cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); có các giải pháp cụ thể, tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án lớn, các dự án đầu tư hạ tầng khu công nghiệp; chỉ đạo thu hồi đất đã giao cho Tập đoàn Compal tại Khu công nghiệp Bá Thiện để giao cho BQL các Khu công nghiệp quản lý góp phần hạ mặt bằng giá thuê hạ tầng và có sức cạnh tranh với các tỉnh lân cận; điều chỉnh quy hoạch của Khu công nghiệp Bình Xuyên II để kêu gọi thu hút Tập đoàn Sumitomo vào đầu tư... Vì vậy, thu hút đầu tư đã đạt được kết quả khá, đã có nhiều dự án đầu tư vào lĩnh vực tỉnh đang chú trọng như lĩnh vực công nghiệp phụ trợ cho sản xuất linh kiện điện tử, sản xuất ô tô xe máy; sản xuất vật liệu xây dựng… Một số nhà đầu tư có năng lực đã đăng ký đầu tư tại tỉnh như: Tập đoàn Pegasus (Singapo), Công ty TNHH Shindoh Vina (Hàn Quốc) và một số nhà đầu tư của Hàn Quốc trong lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử và sắp tới đây là Tập đoàn Sumitomo, Tập đoàn đầu tư phát triển Việt Nam; Tập đoàn Vingroup; Tập đoàn Betixco... đây là kết quả và là cơ hội quan trọng để phát triển công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp trong giai đoạn tới.
- Công tác vận động thu hút các dự án ODA được UBND tỉnh chỉ đạo quyết liệt và được coi là thời kỳ thành công nhất, nhanh nhất trong vận động các dự án ODA. UBND tỉnh đã tổ chức hàng trăm buổi làm việc với các đối tác và các cơ quan Trung ương. Kết quả, đến nay có 03 dự án được nhà tài trợ chấp thuận bằng văn bản, với tổng số vốn được vay 345,7 triệu USD. Ngoài ra tỉnh tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện 6 dự án ODA [7].
- Kết quả viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài: Từ năm 2010 đến thời điểm hiện nay trên địa bàn tỉnh tiếp nhận 199 khoản viện trợ, với tổng giá trị là 34,43 triệu USD, trong đó đã cam kết viện trợ là 12,92 triệu USD, đã giải ngân được 11,65 triệu USD. Các lĩnh vực tài trợ chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực hỗ trợ nhân đạo và dạy nghề, phát triển cộng đồng, bảo vệ thiên nhiên.
8. Phát triển doanh nghiệp và hợp tác xã
- Phát triển doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ được các cấp ủy Đảng, chính quyền xác định là nhân tố quan trọng để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Tỉnh đã tạo bước đột phá về chính sách khi ban hành Nghị quyết số 04/NQ-TU của Tỉnh ủy và Kế hoạch số 4589/KH-UBND của UBND tỉnh về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đến năm 2020 với nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng. Mặt khác, đã chỉ đạo triển khai nhiều biện pháp để cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh; đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính, duy trì bộ phận một cửa, một cửa liên thông ở các sở, ngành, cấp huyện; vận hành Cổng thông tin đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền để kịp thời giải đáp các câu hỏi, kiến nghị của doanh nghiệp; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án đầu tư, kiên quyết thu hồi đối với các dự án chậm tiến độ, không sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích thuê đất để giải quyết cho những doanh nghiệp có nhu cầu thiết thực; định kỳ hàng năm tổ chức các cuộc đối thoại 2 lần/năm giữa lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các sở ngành với các doanh nghiệp... Do đó, hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn đã có sự hồi phục, số doanh nghiệp mới thành lập bình quân đạt 567 doanh nghiệp/năm, lũy kế đến hết năm 2015 toàn tỉnh có 6.598 doanh nghiệp (tăng 600 doanh nghiệp so với mục tiêu Nghị quyết 04-NQ/TU của Tỉnh ủy), tổng vốn đăng ký là 47,0 nghìn tỷ đồng.
- Sắp xếp, đổi mới và tái cơ cấu DNNN đã cơ bản hoàn thành phương án tổng thể theo Quyết định số 663/TTg-DNNN của Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch số 3341/KH-UBND của UBND tỉnh và là một trong hai tỉnh được Chính phủ tuyên dương (Vĩnh Phúc và Lâm Đồng). Giai đoạn 2011-2015 tỉnh tiếp tục duy trì 5 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; triển khai thoái vốn nhà nước tại 5 công ty cổ phần theo quy định của Chính phủ; tiếp tục triển khai các bước chuyển đổi công ty TNHH MTV Thương mại tổng hợp Vĩnh Phúc; thí điểm chuyển đổi 3 trung tâm, đơn vị sự nghiệp công lập; trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm cổ phần hóa Trại nghiên cứu thực nghiệm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Vĩnh Phúc; chuẩn bị các nội dung để xây dựng Đề án sắp xếp công ty TNHH MTV Nông công nghiệp Tam Đảo theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ.
- Kinh tế hợp tác xã: Dự kiến đến cuối năm 2015 toàn tỉnh có 707 hợp tác xã với 155,3 nghìn thành viên và 70 nghìn lao động, tăng 211 hợp tác xã so năm 2010, trong đó hợp tác xã nông nghiệp chiếm 41,3%, hợp tác xã phi nông nghiệp chiếm 58,7%. Các hợp tác xã thành lập mới chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh tổng hợp, thương mại dịch vụ, vận tải, môi trường,... Bước đầu các hợp tác xã đã huy động tốt nguồn vốn của thành viên để mở rộng sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa ngành nghề, làm tốt các khâu dịch vụ như cung ứng giống, vật tư nông nghiệp, điện, tín dụng, tiêu thụ sản phẩm,… góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho nhân dân khu vực nông thôn.
9. Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật
- Hạ tầng giao thông tiếp tục được quan tâm đầu tư. Các tuyến quốc lộ chạy qua tỉnh đã được nhựa hoá, chất lượng mặt đường cơ bản tốt. Việc Trung ương hoàn thành đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai đoạn qua địa bàn tỉnh, hoàn thành cầu Vĩnh Thịnh giúp hệ thống giao thông đối ngoại và đối nội cơ bản đồng bộ và hết sức thuận lợi. Các tuyến đường tỉnh cơ bản đã được rải nhựa hoặc bê tông xi măng; hệ thống đường đô thị đã được cứng hóa; các tuyến đường giao thông nông thôn được kiên cố hóa đến năm 2015 đạt 92%; giao thông nội đồng kiên cố hóa được 47%.
- Hạ tầng điện trên địa bàn được phát triển rộng khắp, đảm bảo cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. 100% các xã được phủ lưới điện quốc gia, 99,8% dân số được dùng điện lưới.
- Hạ tầng cấp nước thoát nước: được tỉnh quan tâm đầu tư bằng nhiều nguồn vốn. Hiện nay, toàn tỉnh có 11 nhà máy cấp nước với tổng công suất 78.100 m3/ngày đêm đảm bảo cấp nước cho đô thị Vĩnh Yên, Phúc Yên và các thị trấn huyện lỵ. Hệ thống thoát nước đô thị hầu hết chưa được đầu tư đồng bộ, hiện tỉnh đang đầu tư nhà máy xử lý nước thải bằng nguồn vốn JICA.
- Hạ tầng thông tin truyền thông đã cơ bản đáp ứng cho nhu cầu phát triển. Mạng phục vụ Bưu chính được phát triển rộng khắp. Hạ tầng viễn thông phát triển rộng khắp, sóng thông tin di động 3G phủ 100% địa bàn, internet đã phủ đến trung tâm các xã; hệ thống mạng ngoại vi, mạng truyền dẫn được chuyển đổi sang cáp quang cơ bản hoàn thiện. Hạ tầng kỹ thuật về CNTT của các cơ quan Đảng và nhà nước được đầu tư đồng bộ đáp ứng nhu cầu ứng dụng về CNTT trong hoạt động của các cơ quan đảng nhà nước, góp phần tích cực cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh.
10. Phát triển đô thị
Tỉnh đã xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình tổng thể về xây dựng và phát triển đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống đô thị Vĩnh Phúc theo định hướng quy hoạch vùng, quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc đã được phê duyệt. Tập trung từng bước xây dựng hạ tầng khung đô thị, gồm 5 đường vành đai, 9 đường hướng tâm. Từng bước xây dựng các trung tâm giáo dục, y tế, Thể dục thể thao, du lịch, dịch vụ.
Công tác quản lý đô thị được quan tâm, tăng cường: ban hành quy định về phân cấp quản lý đô thị trên địa bàn tỉnh, Quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo quyết liệt tăng cường quản lý trật tự đô thị, đầu tư, chỉnh trang các đô thị lớn như Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên; đến nay Vĩnh Yên đã trở thành đô thị loại 2; Phúc Yên trở thành đô thị loại III. Nhiều khu đô thị mới được thành lập. Xây dựng, phát triển nhà ở xã hội trong các khu đô thị được chú trọng đầu tư. Tỷ lệ dân cư đô thị chiếm 30%.
11. Giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển theo hướng đổi mới, chất lượng giữ ổn định ở mức cao
Quy mô màng lưới trường học từ bậc mầm non đến TH, THCS và THPT được củng cố, hoàn thiện, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân. Cơ sở vật chất và trang thiết bị học tập được tập trung đầu tư theo chiều sâu, đạt chuẩn quốc gia. Công tác mở rộng diện tích đất trường học được triển khai quyết liệt (từ năm 2011-2013 đã mở rộng được 220 ha) đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn diện cả trước mắt và lâu dài. Chất lượng đội ngũ giáo viên tiếp tục được nâng lên, 100% giáo viên các bậc học đều đạt chuẩn và trên chuẩn. Phương pháp dạy và học trong các nhà trường được thực hiện tích cực theo hướng đổi mới; các chương trình, đề án chuyên đề mang tính đột phá vể đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện được ban hành kịp thời như: Chương trình hành động số 66/CTr/TU ngày 27/01/2014 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW “về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”, Đề án dạy và học ngoại ngữ trong các trường phổ thông đến 2020... Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia được nâng lên, toàn tỉnh đạt 66%. Vĩnh Phúc là tỉnh thứ 5 của toàn quốc được công nhận đạt chuẩn phổ cập mẫu giáo 5 tuổi vào năm 2012 và phổ cập tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 vào năm 2014 với chỉ số cao.
Chất lượng giáo dục cả đại trà và mũi nhọn tiếp tục được duy trì ổn định ở mức cao. Học sinh của tỉnh luôn đạt được thứ hạng cao trong các cuộc thi học sinh giỏi cấp quốc gia và nhiều năm có học sinh tham gia đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế và khu vực; điểm thi trung bình 3 môn thi đại học liên tục 3 năm đứng thứ nhất cả nước. Công tác phân luồng học sinh sau THCS được triển khai quyết liệt và có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ học sinh sau THCS vào học tại các trường THPT giảm xuống còn khoảng 70% và vào học hệ bổ túc THPT - nghề tăng lên, đạt trên 20%.
Hoạt động dạy nghề tiếp tục được tăng cường và đổi mới theo nhu cầu thị trường gắn với giải quyết việc làm. Hệ thống mạng lưới cơ sở dạy nghề được kiện toàn và sắp xếp lại theo hướng tinh gọn và hiệu quả. Cơ chế đặc thù của tỉnh về một số chính sách hỗ trợ dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo giai đoạn 2012 - 2015 được xây dựng, ban hành đi vào thực hiện là một trong những giải pháp mang tính đột phá về đào tạo nghề. Hiệu quả dạy nghề gắn với giải quyết việc làm bước đầu thể hiện khá rõ nét. Ước đến năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 66% đạt mục tiêu kế hoạch đã đề ra, trong đó đào tạo được cấp chứng chỉ là 23%.
12. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm thường xuyên.
Hệ thống tổ chức bộ máy ngành y tế từ tỉnh đến huyện được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; màng lưới y tế cơ sở cấp xã được củng cố và nâng cấp theo chuẩn quốc gia. Cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế được quan tâm đầu tư. Kinh phí đầu tư phát triển cho ngành y tế tăng dần qua các năm từ 2% năm 2013 lên 4% năm 2014 và đạt mức 7% vào năm 2015. Ngoài việc đầu tư mở rộng, tăng quy mô gường bệnh cho các cơ sở y tế thuộc tỉnh quản lý, tỉnh đã đầu tư khoa khám chữa bệnh nhân dân thuộc Bệnh viện Quân y 109 đóng trên địa bàn góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến tỉnh. Số lượng và chất lượng đội ngũ y, bác sỹ của tỉnh tăng lên; ước đến hết năm 2015 số bác sỹ/vạn dân đạt 8,5 bác sỹ/vạn dân.
Trong lĩnh vực dự phòng, các mục tiêu, chỉ tiêu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra; các Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế được triển khai thực hiện tích cực, đồng bộ và hiệu quả; chủ động kiểm soát, phòng chống dịch bệnh nên không có dịch bệnh xảy ra; tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm đầy đủ 8 loại vắc xin đạt trên 95%.
Trong lĩnh vực khám, chữa bệnh, tỉnh đã triển khai ứng dụng một số kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị; chất lượng khám chữa bệnh từng bước được cải thiện.
Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được duy trì thường xuyên, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi liên tục giảm, đến năm 2015 còn 10% giảm 5% so với năm 2010, đạt mục tiêu đề ra.
13. Chính sách giải quyết việc làm, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp các ngành quan tâm và thực hiện tốt.
- Giải quyết việc làm được tỉnh đặc biệt quan tâm. UBND tỉnh đã tham mưu cho HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 37/2011/NQ-HĐND về một số cơ chế chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo đã tạo sự thay đổi quan trọng trong dạy nghề và giải quyết việc làm của tỉnh, do đó hoạt động tư vấn, giới thiệu và giải quyết việc làm được tăng cường, tổ chức 2 phiên/tháng tại Sàn giao dịch việc làm của tỉnh và các phiên lưu động tại các huyện, ngoài ra việc hình thành các trung tâm tư vấn, giới thiệu việc làm của các cơ sở dạy nghề và các tổ chức đoàn thể (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh…) đã cung cấp nhiều thông tin cần thiết về thị trường lao động và mở ra cho người lao động nhiều cơ hội việc làm. Các dự án vay vốn tạo việc làm, dự án hỗ trợ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài và các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm được thực hiện hiệu quả. Trong 5 năm toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 106,75 nghìn lượt người, trong đó đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 7.244 lao động, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 21,35 nghìn lao động vượt mục tiêu đề ra (Kế hoạch tạo việc làm cho 20-21 nghìn lao động/năm).
- Các chính sách giảm nghèo được lồng ghép với nhiều chương trình, kế hoạch khác nhau góp phần tích cực vào giảm số hộ nghèo của địa phương. Đến hết năm 2015 toàn tỉnh ước có trên 39 nghìn lượt hộ nghèo được vay vốn để phát triển sản xuất, gần 49 nghìn lượt hộ nghèo được hướng dẫn cách làm ăn, hơn 12 nghìn hộ nghèo được hỗ trợ sản xuất. Xây dựng được trên 5.300 nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo; đầu tư nhiều công trình cơ sở hạ tầng xã nghèo ngoài xã thuộc Chương trình 135; hơn 43,5 nghìn lượt học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh dân tộc thiểu số được miễn giảm học phí; hơn 118,8 nghìn người cận nghèo được hỗ trợ mua thẻ BHYT; mỗi năm có trên 15 nghìn hộ nghèo được hỗ trợ tiền điện, được tư vấn, trợ giúp pháp lý thường xuyên... Qua đó, tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm, ước đến năm 2015 còn 2,5%, bình quân giảm 1,7%/năm đạt mục tiêu đề ra (Kế hoạch: giảm 1,5-2%/năm).
- Các chế độ chính sách ưu đãi đối với người có công, gia đình người có công được thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời theo quy định. Phong trào xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”; xây dựng nhà tình nghĩa; tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, vườn cây tình nghĩa; phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng… được phát động mạnh mẽ sâu rộng, đến nay đời sống vật chất và tinh thần của người có công được nâng lên, nhà ở được cải thiện; 100% hộ gia đình người có công của tỉnh có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú.
Công tác bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) được quan tâm thực hiện theo Chương trình hành động số 49-CTr/TU ngày 16/5/2013 của Tỉnh ủy và đạt được những kết quả quan trọng, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn. Các chế độ, chính sách BHXH, BHYT được giải quyết kịp thời, đúng định mức, đúng đối tượng thụ hưởng, đảm bảo nhanh chóng, chính xác. Số người tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT tăng qua các năm, ước đến năm 2015 tỷ lệ dân số tham gia BHYT trên địa bàn đạt 71% tăng 11,5% so với năm 2010. Các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ được tiếp tục phát triển.
14. Hoạt động văn hoá - thông tin, thể thao, phát thanh và truyền hình được duy trì, ổn định và phát triển góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.
Các hoạt động văn hóa được tổ chức sôi động, rộng khắp. Các lễ hội văn hóa được tổ chức trang trọng góp phần bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hoá. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư” tiếp tục được chú trọng. Đặc biệt, đầu năm 2013, tỉnh đã tổ chức thành công Tuần Văn hóa - Du lịch tạo dấu ấn đậm nét nhằm quảng bá, giới thiệu mảnh đất và con người Vĩnh Phúc.
Các thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cơ sở được củng cố và quan tâm đầu tư, nhất là các xã thực hiện xây dựng Chương trình mục tiêu Quốc gia Nông thôn mới. HĐND tỉnh đã ban hành 6 Nghị quyết chuyên đề về cơ chế đầu tư cho lĩnh vực này, các cấp các ngành tích cực triển khai xây dựng và được nhân dân đồng tình ủng hộ do đó hạ tầng các thiết chế được đầu tư tương đối đồng bộ. Toàn tỉnh có 8/9 huyện, thành, thị có trung tâm văn hóa thể thao cấp huyện; 128/137 xã, phường, thị trấn có trung tâm văn hóa xã (đạt 93%); 93,6% thôn có nhà văn hóa. 15 công trình trung tâm văn hóa thể thao làng văn hóa trọng điểm được đầu tư. Nhiều công trình văn hóa, tín ngưỡng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân được tu bổ, tôn tạo. Đặc biệt các công trình trọng điểm của tỉnh thuộc lĩnh vực văn hóa - thể thao và du lịch được tập trung ưu tiên đầu tư hoàn thiện đưa vào sử dụng tạo điểm nhấn về môi trường và cảnh quan du lịch.
Công tác xây dựng gia đình văn hoá - làng văn hoá được triển khai tích cực, ước đến hết năm 2015 tỷ lệ hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá đạt 85% (kế hoạch đến 2015: 80%), tỷ lệ làng đạt tiêu chuẩn làng văn hoá là 71%.
Hoạt động thể dục thể thao quần chúng được duy trì thường xuyên. Thể thao thành tích cao được quan tâm. Tỉnh đã đăng cai tổ chức thành công nhiều giải thi đấu quốc tế như: các giải bóng chuyền nam, nữ quốc tế; các giải quốc gia như: chung kết giải Bóng đá Nhi đồng toàn quốc, vô địch Pencaksilat Đông Nam Á, vô địch Wushu toàn quốc.
Hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, văn học nghệ thuật có tiến bộ, được cải thiện cả về hình thức lẫn nội dung, đã đáp ứng tốt nhiệm vụ chính trị của tỉnh, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí. Từ 01/01/2013, Truyền hình Vĩnh Phúc đã đưa vào sử dụng hệ thống phát sóng trên vệ tinh Vinasat 2 nhằm nâng cao chất lượng truyền hình của tỉnh, đáp ứng tốt hơn nhu cầu về thông tin văn hóa của đông đảo tầng lớp nhân dân trong thời kỳ hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế quốc tế.
15. Khoa học - Công nghệ được quan tâm đầu tư, tiềm lực khoa học, công nghệ được nâng lên
Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có nhiều đổi mới, nhiều tiến bộ kỹ thuật, mô hình đã cho kết quả cao và triển khai rộng rãi vào thực tiễn sản xuất và đời sống như: kỹ thuật thâm canh tổng hợp SRI trong sản xuất lúa, mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, mô hình xử lý nước thải sinh hoạt nông thôn bằng công nghệ tự chảy, mô hình xử lý rác thải sinh hoạt theo phương pháp đốt, mô hình đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, mô hình xây dựng vùng sản xuất hàng hóa cà chua ghép theo hướng VietGAP, đẩy mạnh ứng dụng thụ tinh nhân tạo lợn, bò bằng các giống lợn, bò ngoại có năng suất, chất lượng cao. Tiếp tục quan tâm nghiên cứu để bảo vệ phát triển cây dược liệu quý hiếm có lợi thế trên địa bàn. Xây dựng quỹ phát triển khoa học công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ để giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực khoa học công nghệ và khả năng cạnh tranh.
Nguồn vốn đầu tư khoa học và công nghệ đã tập trung đầu tư cho các tổ chức khoa học công lập, các đơn vị thuộc ngành nông nghiệp, y tế, giáo dục và đào tạo..., bổ sung quỹ hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân.
Năng suất, chất lượng, hàm lượng KH&CN trong một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như ô tô, xe máy, điện, điện tử, vật liệu xây dựng ngày càng tăng. Hiệu lực, hiệu quả của các hoạt động quản lý nhà nước về KH&CN trên các lĩnh vực: quản lý công nghệ, an toàn bức xạ hạt nhân, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng ngày càng được nâng lên. Triển khai có hiệu quả việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 trong các cơ quan hành chính, UBND xã, phường, thị trấn góp phần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
16. Quản lý nhà nước về Tài nguyên và Môi trường được quan tâm
Quản lý nhà nước về đất đai, khoáng sản được tỉnh đặc biệt chú trọng. Các cấp, các ngành tổ chức triển khai tốt Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 23/4/2012 của Tỉnh ủy về quản lý và sử dụng tài nguyên trên địa bàn; các quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên cát, sỏi, quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng… do đó, đã chấn chỉnh tình trạng lấn chiếm đất công, xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp, lãng phí tài nguyên đất và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Trung ương khen thưởng [8]; những vi phạm về khai thác khoáng sản được xử lý nghiêm minh và được lập lại trật tự theo quy hoạch đã được duyệt.
Về thực hiện chính sách đất dịch vụ: UBND tỉnh đã có cách tiếp cận mới về xây dựng cơ chế, chính sách đảm bảo đúng pháp luật, hài hòa 3 lợi ích, chú trọng đảm bảo lợi ích của người dân bị mất đất và giải quyết đất ở, nhà ở của nhân dân và đã đề xuất với HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 01/2011/NQ-HĐND về giải quyết chính sách đất dịch vụ; ban hành Quyết định 18/2011/QĐ-UBND thực hiện quy định về bồi thường, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; ban hành các quyết định số 06/2012/QĐ-UBND, quyết định số 40/2014/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung quyết định số 60/2009/QĐ-UBND và các ngành có hướng dẫn liên ngành số 03/HDLN về trình tự, thủ tục, phê duyệt địa điểm, giải phóng mặt bằng, thu hồi và giao đất thực hiện dự án đầu tư; ngoài ra UBND tỉnh đã phân cấp, phân quyền, phân trách nhiệm và tạo quyền chủ động cho cấp huyện, cấp xã giải quyết về đất dịch vụ... Vì vậy, những vướng mắc về đất dịch vụ tồn tại rất nhiều năm đã được giải quyết cơ bản xong, nguồn thu từ đất tăng dần qua các năm (năm 2012 đạt 354 tỷ, năm 2013 đạt 535 tỷ, năm 2014 đạt 724 tỷ đồng), ước cả giai đoạn đạt 2,74 nghìn tỷ đồng.
Các hoạt động bảo vệ môi trường được quan tâm. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 27/2011/NQ-HĐND của HĐND tỉnh đã và đang phát huy hiệu quả. Nguồn kinh phí để xử lý, cải thiện môi trường được bố trí năm sau luôn cao hơn năm trước; nhiều nội dung được hỗ trợ trực tiếp đến cấp xã để chủ động triển khai. Ngoài ra, các hoạt động truyền thông bảo vệ môi trường được triển khai sâu rộng, ý thức bảo vệ môi trường của các tầng lớp nhân dân được nâng lên; các hoạt động quan trắc, cảnh báo môi trường được duy trì thường xuyên. Đến nay, công tác thu gom, xử lý rác thải nhất là việc đầu tư vận hành các lò đốt rác thải liên xã đã giải quyết tích cực vấn đề rác thải sinh hoạt. Việc sử dụng nước sạch và nước hợp vệ sinh ở nông thôn cũng đang có bước chuyển biến rõ nét, tỉnh đang tiếp tục chỉ đạo xây dựng các công trình cấp nước tập trung bằng nguồn vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia, vốn vay của Ngân hàng thế giới (WB) và dự án hỗ trợ xây dựng công trình cấp nước nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình. Hạ tầng tiêu thoát và xử lý nước thải như các dự án hỗ trợ xây dựng hầm biogas, hỗ trợ công trình xử lý nước thải khu dân cư, xây dựng rãnh thoát nước thải đang được triển khai góp phần giảm thiểu đáng kể tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn.
17. Cải cách hành chính được tăng cường, công tác xây dựng chính quyền được quan tâm, góp phần củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của chính quyền các cấp
Cải cách hành chính nhất là cải cách các thủ tục hành chính của tỉnh đã được UBND tỉnh chỉ đạo quyết liệt và có những chuyển biến rất tích cực. Việc thành lập và đưa vào hoạt động Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư (IPA) đã rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính từ một nửa đến 1/3 so với quy định, góp phần giảm thời gian và chi phí cho các doanh nghiệp, tổ chức, công dân đến làm việc và được đánh giá cao thông qua việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), tăng từ vị trí số 43/63 năm 2012 lên 26/63 tỉnh, thành phố năm 2013 và đặc biệt năm 2014 tỉnh đã tăng 20 bậc vươn lên vị trí thứ 6/63 tỉnh, thành. Bên cạnh đó tỉnh đã chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên theo hướng chuyên nghiệp hoá, hiện đại hoá và hiện đại hóa nền hành chính thông qua việc áp dụng thực hiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 ở các cấp, ứng dụng công nghệ thông tin như: phần mềm quản lý văn bản tại các cơ quan, xây dựng mạng lưới thông tin,... Bằng những cố gắng thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp cải cách hành chính đã đưa chỉ số cải cách hành chính của tỉnh (PAR INDEX) tăng từ thứ 25/63 năm 2012 lên 13/63 năm 2014.
Công tác xây dựng, củng cố chính quyền được tăng cường, tỉnh tiếp tục thực hiện thí điểm bước 2 không tổ chức HĐND giai đoạn 2011-2014; đã tổ chức thành công bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu HĐND các cấp. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nội dung được mở rộng và đa dạng; tiếp tục thực hiện tốt các chế độ thu hút, ưu đãi sử dụng, tuyển dụng nhân tài...
18. Công tác quân sự địa phương được đảm bảo, an ninh trật tự được giữ vững
Công tác quân sự địa phương được tăng cường. Các lực lượng vũ trang địa phương thường xuyên được củng cố, kiện toàn, không ngừng nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, tham gia tích cực, có hiệu quả vào công tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai. Tỉnh đã lập và triển khai có hiệu quả Đề án xây dựng khu vực phòng thủ đến năm 2020, từ đó đã có nhiều công trình quân sự, quốc phòng quan trọng phục vụ nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ và nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu được đầu tư. Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo tổ chức thành công các đợt huấn luyện, các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập chiến đấu trị an, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn theo đúng chương trình, kế hoạch. Đặc biệt, tỉnh đã tổ chức làm điểm cho toàn quân, toàn quốc tham quan cuộc diễn tập dự bị động viên năm 2011, cuộc diễn tập chiến đấu trị an làm điểm cho Quân khu và Bộ Quốc phòng, các cuộc diễn tập đều đạt kết quả xuất sắc. Công tác bồi dưỡng, phổ biến kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng, công tác xây dựng quân dự bị động viên, dân quân tự vệ, hậu cần quân đội luôn được quan tâm, đổi mới, đem lại nhiều kết quả tích cực. Việc tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ và tổ chức các buổi lễ giao quân được đảm bảo công khai, công bằng, đúng luật, trang trọng và luôn đảm bảo hoàn thành 100% về chỉ tiêu, chất lượng tân binh năm sau cao hơn năm trước.
An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Lực lượng công an các cấp đã chủ động nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, nhất là những địa bàn, khu vực trọng điểm, phức tạp; chủ động tham mưu, giúp cấp ủy, chính quyền các cấp giải quyết kịp thời những vấn đề phức tạp nảy sinh về an ninh trật tự ngay từ cơ sở, không để phát sinh điểm nóng, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đặc biệt, đã đảm bảo tuyệt đối an toàn, an ninh trật tự tại các khu công nghiệp trong thời gian Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD981 trên thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, không để xảy ra biểu tỉnh, bạo loạn, mất an ninh trật tự. Công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông đạt mục tiêu ba giảm, công tác phòng, chống cháy nổ được quan tâm. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc tiếp tục được phát triển sâu rộng theo hướng tự quản, tự phòng, tự hòa giải với nhiều mô hình hoạt động sáng tạo, hiệu quả. Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa lực lượng công an, quân sự trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng. Công an tỉnh đã thành lập và duy trì tổ tuần tra vũ trang theo mô hình 141, công an các cấp đã mở nhiều đợt tấn công, trấn áp các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, triệt phá nhiều tụ điểm phức tạp về an ninh trật tự và phát hiện điều tra làm rõ 82,6% các vụ phạm pháp hình sự, trên 96,5% các vụ trọng án. Công tác quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội được thực hiện tốt.
19. Công tác tư pháp, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo được tăng cường
Chất lượng công tác xây dựng, thẩm định và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được tăng lên, 100% văn bản quy phạm pháp luật được thẩm định. Việc rà soát văn bản QPPL được triển khai đồng bộ. Các hình thức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật được duy trì và đẩy mạnh.
Công tác thanh tra, kiểm tra được triển khai tích cực, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, tài chính, đất đai, tài nguyên môi trường. Thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và xử lý vi phạm hành chính được kết hợp thực hiện tốt, tập trung vào những vấn đề bức xúc mà dư luận đang quan tâm.
Công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo được quan tâm giải quyết với nhiều chủ trương, biện pháp tích cực như: xây dựng chương trình, kế hoạch, thành lập các đoàn thanh tra, tổ công tác để thẩm tra, xác minh giải quyết các vụ việc nhất là các vụ việc phức tạp, đông người; tổ chức thực hiện các quyết định, kết luận giải quyết đã có hiệu lực pháp luật; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra lĩnh vực thường có khiếu kiện, như: Quản lý sử dụng đất đai; thường xuyên rà soát, hoàn thiện quy định về cơ chế trong lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư xây dựng, thực hiện tốt các chính sách xã hội nên đã góp phần giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc khiếu nại tố cáo tồn đọng, kéo dài, đưa tỷ lệ giải quyết, xử lý đơn thư đạt trên 75%. Công tác phòng chống tham nhũng, thực hiện tiết kiệm chống lãng phí đã được các cấp, các ngành quan tâm, triển khai tốt ở tất cả các lĩnh vực.
Đánh giá chung
Mặc dù có nhiều khó khăn, thách thức, song kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 của tỉnh vẫn đạt được nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.
Kinh tế tiếp tục phát triển, ước đến năm 2015 có 28/28 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch (so với mục tiêu Kế hoạch chưa điều chỉnh có 13/28 chỉ tiêu đạt, vượt kế hoạch). Nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng cao hơn bình quân chung cả nước; Sản xuất nông nghiệp đã hình thành được một số vùng sản xuất tập trung, vùng sản xuất hàng hóa đem lại hiệu quả kinh tế cao; chăn nuôi đã trở thành ngành sản xuất chính. Xây dựng nông thôn mới đạt kết quả cao. Sản xuất công nghiệp tiếp tục là nền tảng của nền kinh tế, đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng và thu ngân sách của tỉnh. Các ngành dịch vụ duy trì được sự phát triển, dịch vụ du lịch có nhiều tiến bộ. Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả cao. Hoạt động đối ngoại, xúc tiến đầu tư có nhiều đổi mới về phương thức, nội dung; thu hút vốn đầu tư đạt kết quả tốt; chất lượng các hoạt động quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản được nâng lên. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được tăng cường theo hướng hiện đại. Công tác cải cách các thủ tục hành chính được quan tâm, đạt được kết quả tích cực, Các lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ. Thu nhập và đời sống của nhân dân được cải thiện, nâng lên. An sinh xã hội được đảm bảo. Công tác quân sự địa phương - an ninh được củng cố, giữ vững, chính trị, xã hội ổn định.
II. NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ
1. Tăng trưởng kinh tế sau một thời gian duy trì mức cao ở giai đoạn trước, đang có xu hướng chững lại. Công tác thống kê, phân tích, dự báo tình hình chưa sát với thực tế, chưa lường hết các yếu tố tiềm ẩn.
2. Các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ còn thiếu. Kết cấu hạ tầng trong các khu công nghiệp còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Một số làng nghề tiểu thủ công nghiệp còn chậm phát triển. Hầu hết các cơ sở tiểu thủ công nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ lẻ dưới dạng hộ gia đình, thiếu vốn, thiếu mặt bằng sản xuất. Môi trường làng nghề có nguy cơ ô nhiễm cao.
3. Tỉ trọng dịch vụ trong GRDP còn thấp, đến năm 2015 mới chiếm 28,5%, thấp hơn mức bình quân chung cả nước và một số địa phương trong vùng. Dịch vụ chất lượng cao còn thiếu, chưa được đầu tư khai thác, sản phẩm du lịch đơn điệu, thiếu hấp dẫn du khách.
4. Sản xuất nông nghiệp phần lớn có quy mô sản xuất nhỏ; Năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều loại sản phẩm nông nghiệp còn thấp. Đổi mới tổ chức hợp tác xã nông nghiệp chậm và kém hiệu quả. Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp còn ít. Ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng tăng.
5. Các doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh còn yếu. Số doanh nghiệp dân doanh tạm dừng hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ cao, có thời điểm trên 32%.
6. Tổng chi đầu tư phát triển trên tổng chi cân đối ngân sách địa phương giai đoạn 2011-2015 thấp (dưới 35%) do đó chưa đáp ứng được các nhiệm vụ tái cơ cấu kinh tế của tỉnh, trong đó có nhiệm vụ trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công.
7. Đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng so với yêu cầu phát triển. Trong đầu tư công: một số công trình, dự án đầu tư chậm tiến độ; chất lượng một số công trình thấp; tỷ lệ nợ đọng trong xây dựng cơ bản còn cao; số công trình hoàn thành chậm quyết toán lớn. Việc khai thác, huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển còn hạn chế.
8. Bồi thường, giải phóng mặt bằng còn gặp khó khăn. Tình trạng khai thác đất san lấp, đá, cát sỏi và sản xuất vật liệu xây dựng thủ công có thời điểm diễn ra phức tạp. Ô nhiễm môi trường chưa được giải quyết triệt để.
9. Cơ sở vật chất và việc phân bổ mạng lưới các trường học ở một số nơi còn chưa hợp lý, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả khai thác sử dụng. Chất lượng dạy và học ngoại ngữ, tin học trong một số nhà trường chưa cao. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.
10. Tình trạng quá tải trong một số bệnh viện tuyến tỉnh chưa được khắc phục. Cở sở vật chất, trang thiết bị, năng lực, chất lượng, hiệu quả khám chữa bệnh còn hạn chế so với yêu cầu (như số trang thiết bị: tuyến xã thiếu 45%, tuyến huyện thiếu 50%, tuyến tỉnh thiếu 45% so với quy định của Bộ Y tế). Thiếu các cơ sở dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng cao, công nghệ hiện đại. Hệ thống tổ chức bộ máy y tế của tỉnh còn nhiều đầu mối, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Việc thực hiện các kỹ thuật khám chữa bệnh ở cả 3 tuyến còn thấp so với quy định.
11. Phong trào thực hiện nếp sống văn hóa ở một số nơi chưa tốt, gây lãng phí, tốn kém; một số hạ tầng để thực hiện nếp sống văn hóa chưa được xây dựng như nhà tang lễ, nghĩa trang, khu xử lý rác thải,... Mức thụ hưởng văn hóa của người dân ở nhiều nơi còn chưa cao. Xây dựng thiết chế văn hóa cấp huyện, cấp xã chưa đồng bộ. Một số thiết chế văn hóa - thể thao nhất là ở cấp thôn chưa thật sự được khai thác hiệu quả.
12. Ứng dụng khoa học - công nghệ trong quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh còn thấp. Chất lượng nguồn nhân lực và năng suất, hiệu quả lao động trong nhiều lĩnh vực còn thấp; tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm có thu nhập ổn định khá phổ biến, nhất là ở nông thôn; chất lượng đào tạo nghề, đào tạo lao động kỹ thuật cao chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác đào tạo và sử dụng sau đào tạo còn hạn chế, số lượng lao động sau đào tạo chưa có việc làm lớn trong khi nguồn nhân lực phục vụ cho sản xuất công nghiệp còn thiếu đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, chưa đáp ứng được nhu cầu.
13. Tai tệ nạn xã hội vẫn còn bức xúc.
14. Tổ chức, bộ máy chính quyền ở một số nơi hoạt động chưa hiệu quả, kỷ cương, kỷ luật hành chính chưa nghiêm. Chất lượng thực thi công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức chưa tốt, tác phong, thái độ, kỹ năng làm việc thiếu chuyên nghiệp. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ ở một số nơi, trong một số việc còn hạn chế, chưa chặt chẽ, đồng bộ. Một số cơ chế, chính sách đã ban hành nhưng thiếu nguồn lực để thực hiện; một số chính sách còn bất cập, nhưng chậm được điều chỉnh. Hệ thống các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc các sở, ngành, UBND các cấp chưa thật sự tinh gọn; hiệu quả chưa cao.
III. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ
- Nguyên nhân khách quan
1. Kinh tế cả nước cũng như của tỉnh ngày càng hội nhập sâu, rộng với thế giới, độ mở ngày càng lớn, trong khi khủng hoảng, suy thoái kinh tế diễn ra với quy mô rộng trên toàn thế giới làm cho mặt trái của chính sách kích cầu và những yếu kém nội tại bộc lộ rõ hơn; lạm phát có thời điểm tăng cao, kinh tế vĩ mô không ổn định, tổng cầu xã hội giảm, sức mua kém... Mặt khác, thiên tai (động đất, sóng thần) xảy ra tại Nhật Bản và Thái Lan tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô, xe máy.
Tình hình chính trị một số khu vực trên thế giới bất ổn, trong đó có sự kiện Biển Đông đã ảnh hưởng nhất định đến kinh tế của tỉnh.
2. Giai đoạn 2011-2015, chủ trương của Đảng và Chính phủ là tập trung thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô trong đó chính sách thắt chặt tiền tệ, cắt giảm đầu tư công, tiết kiệm chi thường xuyên... do vậy mục tiêu tăng trưởng xác định chỉ là thứ yếu, nguồn lực cho đầu tư xây dựng mới bị hạn chế, sản xuất bị thu hẹp, tăng trưởng tín dụng giảm sâu. Vấn đề này không chỉ riêng đối với Vĩnh Phúc mà ảnh hưởng chung của cả nước.
3. Vị trí địa lý là nhân tố, lợi thế chủ yếu để thu hút vốn đầu tư trong giai đoạn trước đang giảm dần do sự cạnh tranh của các địa phương lân cận khi hệ thống giao thông quốc gia được hoàn thiện.
- Nguyên nhân chủ quan
1. Một số cơ chế, chính sách của tỉnh sau quá trình thực hiện đã bộc lộ những hạn chế, vướng mắc nhưng chưa được điều chỉnh, bổ sung kịp thời gây ra những khó khăn cho quá trình tổ chức thực hiện. Chi phí thuê hạ tầng gắn với đất trong các khu công nghiệp của tỉnh còn ở mức cao so với các tỉnh lân cận. Huy động nguồn lực xã hội hóa cho đầu tư ở một số ngành, lĩnh vực đạt kết quả thấp. Bồi thường, giải phóng mặt bằng ở một số nơi vẫn gặp nhiều khó khăn, ách tắc.
2. Năng lực, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế, chưa chủ động, sáng tạo, chưa sâu sát với thực tiễn, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý còn hạn chế. Công tác chỉ đạo, điều hành của một số cấp ủy đảng, chính quyền còn chưa quyết liệt, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ của các cấp, các ngành.
3. Tư tưởng trông chờ, ỷ nại của người dân vào sự hỗ trợ từ nguồn vốn nhà nước ở nhiều nơi còn cao. Nhận thức về nông nghiệp, nông dân, nông thôn của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa đầy đủ. Ý thức giữ gìn môi trường của người dân nhất là ở khu vực nông thôn còn thấp.
IV. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Qua hơn 4 năm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2011-2015) và dự kiến năm 2015; từ những kết quả đạt được, khó khăn, hạn chế và nguyên nhân, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Một là: Tiếp tục phát huy, khơi dậy truyền thống và bản chất con người Vĩnh Phúc: đó là năng động, sáng tạo, luôn có cách làm mới, vươn lên trong khó khăn. Phát hiện được những sáng tạo của quần chúng, cộng đồng doanh nghiệp từ thực tiễn để tổng hợp, đề xuất thành những cơ chế, chính sách phù hợp. Bên cạnh đó là tính tiên phong, gương mẫu, sâu sát, quyết liệt và năng động của cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt là nhân tố quyết định.
Thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cho thấy phải xác định nhiệm vụ, mục tiêu trọng tâm, trọng điểm, các khâu đột phá phù hợp từng giai đoạn, từng chương trình dự án quan trọng; có biện pháp tổ chức thực hiện thật cụ thể, giao nhiệm vụ, trách nhiệm cho từng ngành, từng cá nhân rõ ràng; bố trí nguồn lực tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các ngành có liên quan; thường xuyên kiểm tra đôn đốc, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh.
Hai là: Tập trung nguồn lực, nhất là vốn để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh. Thực tiễn những năm vừa qua cho thấy nếu có biện pháp, chủ trương phù hợp thì việc tập trung vốn đầu tư phục vụ phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội sẽ đem lại nhiều kết quả cao hơn.
Ba là: Phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và các nhu cầu dân sinh, trước hết là tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc như giải quyết việc làm, đất dịch vụ, đất giãn dân, đất đấu giá quyền sử dụng đất, chăm lo sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, bảo đảm cho sự ổn định chính trị, xã hội.
Phần II
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2016-2020
I. NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
1. Căn cứ Chỉ thị số 22/CT-TTg, ngày 05/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 12/CT-CT ngày 26/9/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016- 2020.
2. Căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng Thủ đô; Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng và Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
3. Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, các sản phẩm chủ yếu của tỉnh đến năm 2020 đã được phê duyệt.
4. Căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015.
5. Dự báo năng lực tăng thêm của tỉnh giai đoạn 2016-2020.
II. THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2016-2020
1. Những thuận lợi
- Vị trí địa lý thuận lợi nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Thủ đô và vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, nằm trong tuyến hành lang hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, gắn liền với chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng vẫn luôn là một lợi thế quan trọng, lâu dài của tỉnh.
- Vĩnh Phúc nằm trong vùng trung du, miền núi nên đất đai thuận lợi cho phát triển các ngành lĩnh vực phi nông nghiệp với quy mô lớn như phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng và đô thị, phát triển các dịch vụ du lịch, vận tải… cũng như các dịch vụ khác gắn với sự phát triển của Thủ đô Hà Nội.
- Tiềm năng để phát triển du lịch ở khu vực Tam Đảo, Tây Thiên, Đầm Vạc với các di tích lịch sử, văn hóa.... cùng với việc gần Thủ đô Hà Nội tạo ra một lợi thế so sánh.
- Những cơ chế, chính sách mới của Nhà nước, của tỉnh, cùng với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia năng động, sáng tạo, đang tiếp tục tạo uy tín và sức hút đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
- Sự phát triển nhanh chóng của Thủ đô Hà Nội là cơ hội cho Vĩnh Phúc tiếp nhận sự lan tỏa vốn, khoa học - công nghệ và phát triển các ngành sản xuất bổ trợ và các loại hình dịch vụ cho Hà Nội.
- Việt Nam hội nhập sâu, rộng vào kinh tế thế giới, đã ký kết các Hiệp định thương mại song phương và đa phương như: Hiệp định hợp tác với Hàn Quốc, Hiệp định thương mại với Cộng Hòa Liên Bang Nga, Hiệp định hợp tác xuyên Thái bình Dương (TPP), cộng đồng Asean…
- Xu hướng đầu tư của các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc,... đang chuyển dần từ Trung Quốc sang các nước ASEAN và các nước thuộc Châu Phi do lợi thế cạnh tranh về giá nhân công khi Trung Quốc trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới.
- Sự phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đối ngoại mang lại cơ hội phát triển cho các ngành lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp hướng về xuất khẩu… Các nguồn lực từ bền ngoài tạo ra sự phát triển của hệ thống giao thông đối ngoại (tuyến hành lang xuyên Á: Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, đường vành đai IV vành đai V của Thủ đô Hà Nội, Sân bay quốc tế Nội Bài… đã, đang và sẽ được xây dựng) mang lại nhiều cơ hội cho Vĩnh Phúc mở rộng mối quan hệ kinh tế đối ngoại với bên ngoài. Hạ tầng kỹ thuật khung đô thị, hạ tầng điện, nước, viễn thông, hạ tầng xã hội (bệnh viện, trường học và văn hóa) đã và đang triển khai đồng bộ, hoàn thiện.
- Vĩnh Phúc có nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là lao động trẻ. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao. Tiềm lực kinh tế của tỉnh đã có bước nâng lên và đặc biệt với những phát hiện kịp thời, xây dựng được nền móng cho phát triển giai đoạn 2016-2020 trong từng lĩnh vực như:
+ Sản xuất nông nghiệp đã và đang triển khai Đề án tái cơ cấu, có một số doanh nghiệp lớn như Vingroup, Hòa Phát quan tâm, khảo sát và có kế hoạch đầu tư. Sản xuất nông nghiệp khẳng định được về sản xuất hàng hóa, bắt đầu liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ; đã khuyến khích các doanh nghiệp, các hợp tác xã đầu tư vào sản xuất dần hình thành ngành nông nghiệp công nghệ cao, từng bước đưa những người nông dân trở thành công nhân nông nghiệp, từ đó khuyến khích, tích tụ đầu tư công nghệ cao vào trồng trọt, chăn nuôi.
+ Công nghiệp đã có quyết định thành lập KCN có chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng, trước mắt là KCN Bá Thiện II, Bá Thiện I, Bình Xuyên II, đây là cơ hội lớn để tỉnh thu hút nhiều các nhà đầu tư thứ cấp. Nhu cầu tiêu dùng về ô tô, xe máy dự báo gia tăng; tâm lý người Việt Nam chưa có thói quen sử dụng phương tiện công cộng. Mặt khác, Vĩnh Phúc có những tập đoàn lớn của thế giới đang đầu tư là Toyota, Honda, Piagio với những thương hiệu được nhân dân ưa chuộng. Một số tập đoàn lớn như Sam Sung, LG,... đầu tư ở các tỉnh lân cận là cơ hội để Vĩnh Phúc tham gia vào công nghiệp hỗ trợ. Công nghiệp vật liệu xây dựng tiếp tục có cơ hội phát triển khi nhu cầu xuất khẩu tăng, nhu cầu sử dụng cho các công trình xây dựng ngày càng lớn.
+ Lĩnh vực dịch vụ: hạ tầng các khu du lịch như Tam Đảo, Tây Thiên, Đại Lải cơ bản hoàn chỉnh, hiện nay tỉnh đang nghiên cứu, lựa chọn nhà đầu tư vào Tam Đảo II, mở rộng một số sân golf,... đây là cơ hội lớn để thu hút khách du lịch, cũng như giải quyết lao động. Dịch vụ y tế đã vận động được nguồn vốn ODA để đầu tư một số Bệnh viện. Hạ tầng khu đô thị đại học đã được quy hoạch, là cơ hội để thu hút các trường Đại học, các trường Quốc tế đầu tư vào tỉnh. Tập đoàn Vingroup đã có kế hoạch đầu tư trung tâm thương mại tại tỉnh.
- Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Vĩnh Phúc có truyền thống cách mạng, đoàn kết; có tinh thần đổi mới, sáng tạo, đảm bảo đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh trong tương lai.
2. Những khó khăn, hạn chế
- Hội nhập quốc tế là cơ hội nhưng cũng là thách thức lớn khi các cam kết tự do hoá thương mại trong khuôn khổ các hiệp định đã ký kết (AFTA, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, WTO, TPP..) và việc hình thành cộng đồng ASEAN được thực thi. Việc thực hiện các cam kết của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN về thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ khu vực ASEAN về Việt Nam là 50 % năm 2015, đến năm 2016 giảm xuống 40%, 2017 giảm còn 30% và đến năm 2018 còn 0%; trong khi đó các chính sách phát triển sản xuất ô tô của Việt Nam vẫn chưa đủ để cho phép các doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam và ngành công nghiệp hỗ trợ yếu kém...; các bất lợi trên làm cho ngành sản xuất ô tô nói chung và của Vĩnh Phúc gặp rất nhiều khó khăn, phải cạnh tranh với xe nhập khẩu. Do đó, sẽ tác động không nhỏ đến tỉnh, nguy cơ tăng trưởng thấp, thậm chí là tăng trưởng âm, thu ngân sách giảm mạnh.
- Vị trí địa lý thuận lợi vẫn luôn là một lợi thế quan trọng, lâu dài; hiện nay lợi thế cạnh tranh này đang mất dần so với các địa phương lân cận như Bắc Ninh, Thái Nguyên.
- Sự phát triển của các tỉnh, thành phố khác trong vùng vừa là điều kiện nhưng cũng là thách thức không nhỏ đối với việc thu hút nguồn lực phát triển của tỉnh.
- Giải quyết tốt các mối quan hệ trong lựa chọn phát triển giữa các ngành, rõ ràng nhất là: trong phát triển giữa các ngành chủ đạo, mũi nhọn (công nghiệp, dịch vụ); Lựa chọn trong việc sử dụng quỹ đất có hạn chế, đòi hỏi phải có những cân nhắc lựa chọn bố trí cơ cấu ngành, tổ chức không gian tốt tạo được sự phát triển bền vững nhất để từ đó đề ra quyết sách đúng đắn.
- Nội tại của nền kinh tế chưa thực sự bền vững và còn mất cân đối trên nhiều mặt, kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào công nghiệp, các nhóm sản phẩm chủ lực phụ thuộc vào quyết định của nhà đầu tư. Quy mô thị trường nội tỉnh nhỏ hẹp, sức mua hạn chế; vị trí gần thủ đô Hà Nội là một trong những khó khăn để phát triển ngành dịch vụ.
- Sự phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng; khu vực dịch vụ phát triển còn hạn chế; khu vực kinh tế trong nước quy mô rất nhỏ bé; thừa lao động, thiếu việc làm; thiếu lao động kỹ thuật có trình độ cao,…
- Hệ thống hạ tầng của tỉnh đã được quan tâm đầu tư và có sự phát triển, nhưng vẫn còn chưa đồng bộ; hạ tầng kỹ thuật trong nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn chưa đáp ứng được các yêu cầu của các nhà đầu tư.
- Khu vực công nghiệp là khu vực đóng góp chính cho tăng trưởng kinh tế trong những năm vừa qua dễ bị tác động bởi thị trường cũng như tình hình phát triển của các công ty mẹ ở ngoài nước (do tỷ trọng sản phẩm của khu vực đầu tư nước ngoài cao, tập trung vào một số ít mặt hàng).
- Chi phí sản xuất ngày càng cao do chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng tăng cao và sự biến động của giá cả, suất đầu tư trên một đơn vị diện tích tăng lên làm cho giá cho thuê đất đã có hạ tầng tăng lên. Các chính sách ưu đãi của Chính phủ (chẳng hạn như thuế thu nhập doanh nghiệp) đối với các khu công nghiệp không còn, đồng thời đến năm 2018 Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ các cam kết tự do hóa thương mại trong khuôn khổ các hiệp định đã ký kết, mức thuế suất sẽ hạ xuống mức 0%, đây sẽ là một khó khăn đối với các doanh nghiệp trong nước do phải cạnh tranh khốc liệt với các quốc gia trong khu vực về thu hút vốn FDI. Giá nhân công ngày càng tăng do ảnh hưởng của thị trường Hà Nội.
- Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, các mặt trái của kinh tế thị trường sẽ nảy sinh là một thách thức lớn.
III. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
1. Quan điểm phát triển
- Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc phải đặt trong quan hệ tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cả nước và của vùng. Thực hiện đổi mới trong quản lý điều hành phát triển kinh tế - xã hội theo nguyên tắc thị trường, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, nâng cao và duy trì năng lực cạnh tranh của tỉnh.
- Lấy phát triển kinh tế theo hướng bền vững làm cơ sở để hướng tới việc nâng cao đời sống của nhân dân, trong đó: lấy phát triển công nghiệp làm nền tảng; nông nghiệp là đặc biệt quan trọng, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và phát triển dịch vụ là mũi nhọn để có cơ cấu kinh tế hợp lý trên cơ sở điều chỉnh cơ cấu theo hướng đa dạng hóa, hạn chế phụ thuộc quá nhiều vào một số ít các nhà đầu tư.
- Phát triển kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kết hợp tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh. Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Chủ động hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều địa phương của các nước.
- Khai thác, đồng thời sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài tỉnh cho đầu tư phát triển, đặc biệt là trong huy động và sử dụng nguồn đầu tư công. Tập trung nguồn đầu tư công cho phát triển kết cấu hạ tầng và tạo thị trường có khả năng sinh lợi cao cho đầu tư phát triển trong tỉnh ngay cả đối với đầu tư phát triển hạ tầng.
- Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tư nhân làm động lực quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh và đảm bảo sự tự chủ kinh tế của tỉnh.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu tổng quát:
Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển nhanh và bền vững. Nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng kết hợp hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn 5 năm trước, xây dựng Vĩnh Phúc trở thành một trong những trung tâm công nghiệp, du lịch của Vùng và cả nước; tập trung tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với chuyển đổi lao động nông thôn; sớm hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới; kiểm soát và hạn chế ô nhiễm môi trường. Bảo đảm sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với thực hiện an sinh xã hội; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tăng cường quốc phòng, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Phấn đấu đến năm 2020, cơ bản hoàn thành hạ tầng khung đô thị tiến tới trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI.
2.2. Các chỉ tiêu chủ yếu
2.2.1- Về kinh tế:
Trên cơ sở kết quả giai đoạn 2011-2015, dự báo những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức và năng lực tăng thêm của giai đoạn 2016-2020 (đặc biệt có tính đến khả năng mở rộng hoặc thu hẹp sản xuất của một số lĩnh vực phụ thuộc vào nhà đầu tư nước ngoài như sản xuất ô tô, xe máy...), UBND tỉnh dự báo Nhịp độ tăng trưởng kinh tế (GRDP theo giá so sánh 2010) bình quân giai đoạn 2016-2020 tăng 7,0-7,5%/năm.
Dự báo này dựa trên cơ sở: Đề án Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với giải quyết lao động nông thôn đến năm 2020 cân đối được nguồn lực để thực hiện.
Ngành công nghiệp: Công nghiệp chế tạo, nhất là ô tô tiếp tục phát triển do các nhà đầu tư vẫn phải tính đến thị trường ô tô của một đất nước 90 triệu dân của Việt Nam. Các doanh nghiệp thay đổi mẫu mã, tập trung sản xuất các dòng xe phục vụ tầng lớp dân cư có thu nhập trung bình.
Các khu công nghiệp tiếp tục phát triển và dự báo có thêm 46 dự án FDI và DDI đi vào sản xuất tạo ra năng lực mới tăng sẽ tạo ra động lực thúc đẩy ngành công nghiệp phát triển.
Các ngành dịch vụ: Một số trung tâm thương mại mới (thuộc các dự án đã đăng ký đầu tư) được xây dựng, đưa vào khai thác; các khu du lịch hiện có như Tam Đảo, Đại Lải, Tây Thiên được hoàn thiện về cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng phục vụ, khai thác có hiệu quả. Dự báo một số dự án lớn về dịch vụ, du lịch đi vào hoạt động.
Trường hợp tình hình sản xuất ô tô trong nước thuận lợi do nhà đầu tư thay đổi mẫu mã cộng với chính sách tạo điều kiện cho ô tô sản xuất trong nước, sản lượng ô tô của tỉnh có thể đạt sản lượng tăng thêm khoảng 10.000 - 12.000 xe/năm thì tăng trưởng giai đoạn tới có thể tăng bình quân 9,5-10%/năm.
Ngược lại sản phẩm ô tô sản xuất trong tỉnh trước tác động của việc thực hiện lộ trình gia nhập WTO, AFTA (cụ thể: thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ khu vực ASEAN về Việt Nam là 50 % năm 2015, đến năm 2016 giảm xuống 40%, 2017 giảm còn 30% và đến năm 2018 còn 0%) và các chính sách phát triển sản xuất ô tô của Việt Nam không hấp dẫn các nhà đầu tư, dẫn đến công ty Toyota và Honda dừng sản xuất chuyển sang nhập khẩu thì tăng trưởng giai đoạn tới chỉ có thể tăng bình quân 2-3%/năm, thu ngân sách nhà nước của tỉnh đến năm 2020 giảm mạnh, dự báo chỉ đạt khoảng 7-10 nghìn tỷ đồng.
Qua phân tích và với mục tiêu giai đoạn tới là phát triển bền vững, UBND tỉnh chọn tốc độ tăng trưởng từ 7-7,5%/năm.
* Theo phương án chọn các chỉ tiêu cụ thể như sau:
- Nhịp độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh 2010) bình quân đạt 7,0-7,5%/năm, trong đó ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,5-4,0%/năm; ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 7,0-7,5%/năm và ngành dịch vụ tăng 10,5-11,0%/năm; thuế sản phẩm khoảng 3%/năm.
- Cơ cấu kinh tế đến năm 2020: Nông - lâm nghiệp - thuỷ sản 7,1%; Công nghiệp - xây dựng: 61,5%; Dịch vụ: 31,4%.
- Quy mô GRDP đến năm 2020 theo giá hiện hành bằng khoảng 1,5-2 lần so với năm 2015.
- GRDP bình quân đầu người (theo giá HH) đạt khoảng 110 triệu đồng, tương đương khoảng 4.800 - 5.000 USD.
- Vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm chiếm khoảng 25-30% GRDP (theo giá hiện hành).
- Tỷ lệ thu ngân sách nhà nước so với tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP theo giá HH) hàng năm đạt từ 22-23% GRDP để đến năm 2020 thu ngân sách nhà nước khoảng 26.500-27.000 tỷ đồng.
- Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2020 đạt 3- 3,5 tỷ USD.
- Thu hút mới: 1,3-1,5 tỷ USD vốn đăng ký từ các dự án FDI và 14-15 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký từ các dự án DDI.
- Tỷ lệ dân cư đô thị đạt trên 45%.
- Phấn đấu tỉnh đạt chuẩn xây dựng nông thôn mới vào năm 2017.
2.2.2. Về xã hội:
- Đến năm 2020, quy mô dân số đạt khoảng 1,117 triệu người.
- Mức giảm tỷ suất sinh duy trì khoảng 0,1%o/năm.
- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi đến năm 2020 còn dưới 9%.
- Tỷ lệ giường bệnh/1 vạn dân đến năm 2020 (không kể giường bệnh tại trạm y tế xã) đạt 32 giường.
- Tỷ lệ bác sỹ/1 vạn dân đạt 9,3 bác sỹ.
- 100% Trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia vào năm 2017.
- Giải quyết việc làm bình quân khoảng 19- 20 nghìn lao động/năm.
- Tỷ lệ lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đến năm 2020 còn 30%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 76%, trong đó lao động qua đào tạo được cấp chứng chỉ đạt 30-35%.
- Tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm giảm 1-1,5% theo chuẩn mới giai đoạn 2016-2020.
- Huy động 95% trẻ 3-5 tuổi ra lớp mẫu giáo, 100% trẻ 6 tuổi ra lớp 1; duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2; duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục bậc trung học.
- Phân luồng học sinh sau THCS: 65-70% vào học THPT; 30-35% vào học BTVH và học nghề.
- 100% các trường đạt chuẩn quốc gia: bậc mầm non và tiểu học trước năm 2018; bậc THCS và THPT trước năm 2020.
- Hoàn thành 100% nhà văn hóa cấp thôn, xã vào năm 2018.
- Tỷ lệ dân số tham gia BHYT trên địa bàn đến năm 2020 đạt khoảng 85%.
2.2.3. Về môi trường (Đến năm 2020):
- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 25,0%.
- 80% các khu đô thị; 95% các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn môi trường.
- Thu gom 90% chất thải rắn công nghiệp, dịch vụ.
- Xử lý trên 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế.
- Thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường 95% chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị và 75% chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn.
- Cấp nước bao phủ 90% đối với đô thị loại IV trở lên, đạt 70% đối với đô thị loại V.
- Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 90%.
IV. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
- Phấn đấu giá trị sản xuất ngành Nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng bình quân 3,5-4,0%/năm. Cơ cấu ngành nông lâm thủy sản (GTSX theo giá HH) đến năm 2020: Nông nghiệp 91,9%, lâm nghiệp 0,64%, thủy sản 7,46%. Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi lên khoảng 56,3%, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt còn khoảng 36,3% vào năm 2020.
- Triển khai có hiệu quả Đề án Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với giải quyết lao động nông thôn đến 2020; các chương trình, dự án phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới để tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2017.
- Phát triển mạnh đàn bò sữa, đàn lợn, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính, trong đó tập trung phát triển chăn nuôi ở địa bàn trung du, miền núi, vùng ven sông; giảm dần và tiến tới không chăn nuôi ở đô thị, ven đô thị và trong khu dân cư.
- Trong trồng trọt tập trung phát triển hàng hóa rau quả ở các vùng đồng bằng, ven đô. Mở rộng các vùng trồng trọt hàng hoá tập trung. Đẩy mạnh áp dụng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ gắn với thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm trồng trọt.
- Chuyển mạnh sang sản xuất nông sản sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm theo chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu dùng. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp nhất là sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chế biến nông sản và sản xuất giống cây trồng, vật nuôi.
2. Phát triển công nghiệp
- Phát triển công nghiệp thật sự trở thành động lực cho sự phát triển của tỉnh. Tập trung phát triển các ngành có hàm lượng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, giá trị gia tăng lớn, có nhiều sản phẩm tham gia xuất khẩu. Khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ. Duy trì phát triển ngành điện tử, dệt may, giầy dép để trở thành ngành trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu. Hình thành các trung tâm công nghiệp theo vùng với lợi thế và nguồn lực từng địa phương. Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân khoảng 6,5-7,0%/năm.
- Tập trung mở rộng sản xuất và tăng tỉ lệ nội địa hóa các sản phẩm công nghiệp chủ lực như ô tô, xe máy. Khuyến khích phát triển các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất ô tô, xe máy; điện tử, tin học; cơ khí chế tạo; sản xuất vật liệu xây dựng; dệt may, da giày,...
- Từng bước phát triển sản xuất các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao như điện tử gia dụng (điện thoại, máy điều hoà không khí, ti vi, tủ lạnh, máy giặt,…). Phát triển công nghệ tin học, chủ yếu tập trung vào sản xuất lắp ráp các thiết bị tin học. Đưa Vĩnh Phúc trở thành một trong những trung tâm phát triển công nghệ cao của vùng.
- Tập trung phát triển sản xuất sản phẩm có thế mạnh như gạch ceremic, gạch ốp lát; vật liệu xây dựng có nguồn nguyên liệu tại chỗ (như gạch ngói, cát sỏi), các loại vật liệu lợp, vật liệu chịu lửa, bê tông và cấu kiện bê tông đúc sẵn. Khuyến khích đầu tư sản xuất gạch không nung từ nguyên liệu đất đồi.
- Phát triển các khu công nghiệp tập trung theo quy hoạch được duyệt; Tập trung xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật cho các khu công nghiệp, nhất là ở khu CN ở khu vực Bình Xuyên và các khu công nghiệp dự kiến thành lập mới các KCN Tam Dương I và Sông Lô I, Lập Thạch I, Thái Hòa - Liễn Sơn.
- Xây dựng Khu công nghiệp chuyên ngành chế biến đồ uống, chế biến nông lâm sản, thực phẩm, hàng tiêu dùng hướng tới xuất khẩu; Chế biến thức ăn chăn nuôi từ nguồn nguyên liệu tại chỗ phục vụ nhu cầu tại địa phương.
- Phát triển tiểu, thủ công nghiệp và làng nghề nông thôn. Tập trung sản xuất các sản phẩm từ mây tre đan, các sản phẩm từ gỗ và sản phẩm gỗ mỹ nghệ xuất khẩu. Hỗ trợ phát triển các làng nghề truyền thống đã và đang được khôi phục như đá Hải Lựu, rèn Lý Nhân, mộc Bích Chu, Thanh Lãng, gốm Hương Canh, thêu ren Tân Phong. mây tre đan Triệu Đề... Phát triển các làng nghề mới.
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung cho sát với thực tế các cơ chế chính sách hỗ trợ cho cụm công nghiệp của tỉnh đã ban hành; Phát triển các cụm công nghiệp theo Quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp đến năm 2020 đã được duyệt; thành lập mới từ 3-5 cụm công nghiệp. Từng bước giải quyết ô nhiễm môi trường trong các làng nghề nông thôn.
3. Các ngành dịch vụ
- Phấn đấu giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng khoảng 11%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt khoảng 90 nghìn tỷ đồng; doanh thu du lịch đạt 2,0 nghìn tỷ đồng; nguồn vốn tín dụng huy động hàng năm tăng 20-22%/năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng 18-20%/năm và nợ xấu còn dưới 3% tổng dư nợ.
- Thực hiện tốt các nội dung, nhiệm vụ Nghị quyết 01/NQ-TU ngày 04/11/2011 của Tỉnh ủy về phát triển dịch vụ, du lịch.
- Đầu tư và khai thác có hiệu quả các danh lam, thắng cảnh ở khu vực Tam Đảo, Tây Thiên, Đại Lải và Xúc tiến thu hút đầu tư vào Khu du lịch nghỉ dưỡng hồ Sáu Vó, Dự án tổ hợp vui chơi giải trí Future Land để tạo ra bước phát triển đột phá. Tích cực hoàn thành và vận động tốt các nhà đầu tư vào khu du lịch Tam Đảo II. Hình thành một số tuyến du lịch trọng tâm: Tuyến Tam Dương - Tam Đảo; Tuyến Vĩnh Tường - Yên Lạc; Tuyến Sông Lô - Lập Thạch; Tuyến Phúc Yên - Bình Xuyên.
- Huy động các nguồn lực để phát triển thêm mới các trung tâm thương mại, siêu thị ở các trung tâm Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bình Xuyên và các huyện lỵ.
- Duy trì và phát triển các chợ truyền thống và khai thác có hiệu quả các chợ đầu mối nông sản, thực phẩm. Khuyến khích đầu tư xã hội hóa các chợ hạng 1, hạng 2.
- Phát triển hoàn thiện hạ tầng bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin có độ phủ rộng, công nghệ hiện đại bảo đảm đáp ứng tốt nhu cầu của các tổ chức, công dân.
- Phát triển loại hình vận tải du lịch, taxi, khai thác ổn định và nâng cao chất lượng các tuyến xe buýt. Tập trung đầu tư khai thác hai loại hình vận tải đường bộ và đường sắt, đồng thời tập trung đầu tư phát triển vận tải đường thủy trên các sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy. Đầu tư phát triển hệ thống kho bãi phục vụ cho trung chuyển hàng hóa và phát triển dịch vụ logistic.
- Tích cực vận động nguồn lực để xây dựng các khu đô thị đại học, các Bệnh viện đa khoa, Bệnh viện sản nhi, trung tâm ung bướu… để phát triển dịch vụ y tế, giáo dục.
- Kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hoạt động, tập trung vốn cho các lĩnh vực sản xuất, nhất là nông nghiệp, nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao. Tiếp tục thực hiện Đề án tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng và Đề án xử lý nợ xấu.
4. Thu - chi ngân sách Nhà nước
- Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần nuôi dưỡng nguồn thu của tỉnh.
- Đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan. Tăng cường kỷ luật trong công tác thu thuế và lĩnh vực hải quan. Tăng cường quản lý kê khai thuế, kiểm tra, đôn đốc quyết toán thuế, thực hiện thu nộp vào NSNN đầy đủ kịp thời. Đẩy mạnh việc khai thác nguồn thu sử dụng đất.
- Các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm túc, tiết kiệm, hiệu quả theo dự toán chi ngân sách nhà nước hàng năm; hạn chế tối đa việc bổ sung các khoản chi không cần thiết nằm ngoài dự toán đầu năm.
- Tăng tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên tổng chi cân đối ngân sách địa phương từ 35% lên 50% để thực hiện tốt các nhiệm vụ tái cơ cấu kinh tế và trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công.
- Phấn đấu đến năm 2020 tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 26,6 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 3,8%/năm, trong đó thu nội địa đạt 22,8 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân từ 3,5%-4%/năm.
5. Xúc tiến và thu hút đầu tư
- Đồng thời với đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, chú trọng thu hút đầu tư vào phát triển dịch vụ và nông nghiệp góp phần cơ cấu lại nền kinh tế phát triển bền vững hơn.
- Phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng phát triển của tỉnh đi đôi với tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nhất là cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng tập trung thu hút các nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước phát triển các ngành, lĩnh vực. Tiếp tục thực hiện công khai hoá, minh bạch hoá các quy trình, thủ tục hành chính để nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận thông tin.
- Tiếp tục cải thiện các chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh, phấn đấu trong giai đoạn 2016-2020 thuộc nhóm địa phương thuộc nhóm địa phương có chất lượng điều hành “tốt” và “rất tốt” (nằm trong tốp 15 tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cao nhất). Đồng thời, rà soát loại bỏ những thủ tục, quy định đang gây khó khăn, cản trở trong thu hút đầu tư.
- Xây dựng danh mục các dự án kêu gọi đầu tư; xây dựng dữ liệu phục vụ xúc tiến đầu tư; tổng kết, đánh giá toàn diện tình hình thu hút đầu tư đối với các dự án DDI và FDI, để nâng cao hiệu quả công tác thu hút đầu tư. Xây dựng đề án về đánh giá lợi thế so sánh của tỉnh trong thời gian tới nhằm phát huy lợi thế so sánh trong thu hút đầu tư.
- Củng cố, kiện toàn bộ máy và đội ngũ quản lý, cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp, làm công tác vận động các dự án sử dụng nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi theo hướng chuyên nghiệp; tranh thủ, đẩy mạnh và phát triển mối quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế, trở thành đối tác phát triển của các nhà tài trợ lớn (WB, ADB) ở phía Bắc Việt Nam; Bố trí đủ nguồn lực đối ứng trong việc triển khai các chương trình, dự án.
- Xây dựng quy chế gắn kết để nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, xúc tiến du lịch và vận động ODA.
- Phấn đấu giai đoạn 2016-2020 thu hút mới: 1,3-1,5 tỷ USD từ các dự án FDI và 14-15 nghìn tỷ đồng từ các dự án DDI. Vận động thu hút khoảng 350-400 triệu USD vốn ODA và vốn vay ưu đãi. Thu hút khoảng 3-4 triệu USD/năm viện trợ phi Chính phủ nước ngoài.
6. Phát triển doanh nghiệp
- Tiếp tục tạo môi trường thuận lợi cho phát triển doanh nghiệp. Khuyến khích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Thường xuyên tiến hành rà soát lại toàn bộ hệ thống các trình tự, thủ tục hành chính và đơn giản hoá các thủ tục, minh bạch hoá các quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh, gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Vận hành tốt cơ chế một cửa liên thông giữa các cơ quan công quyền trong việc thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp, cấp mã số thuế,...
- Tổ chức triển khai có hiệu quả Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 14/01/2013 của Tỉnh ủy về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Củng cố, tăng cường thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp gia nhập thị trường nhanh nhất. Công khai, minh bạch, bình đẳng trong việc thực hiện các chính sách trợ giúp, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp của tỉnh, các chính sách hỗ trợ phát triển của Trung ương đối với mỗi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhằm phát triển doanh nghiệp về quy mô, cơ cấu hợp lý theo định hướng của tỉnh. Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm minh theo pháp luật các hoạt động kinh doanh trái phép, chống buôn lậu và gian lận thương mại, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh để các doanh nghiệp phát triển bền vững đi đôi với việc khuyến khích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Hỗ trợ phát triển kinh tế hợp tác xã.
- Phấn đấu đến năm 2020 toàn tỉnh có 9.279 doanh nghiệp, số vốn đăng ký khoảng 57,9 nghìn tỷ đồng.
7. Phát triển kết cấu hạ tầng
- Tổ chức thực hiện tốt Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020. Đẩy mạnh huy động các nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng, các công trình trọng điểm để tăng cường liên kết vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hỗ trợ đầu tư cho các vùng khó khăn, các xã nghèo, xã miền núi.
- Phát triển hạ tầng kỹ thuật tiến tiến, hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị, đến năm 2020 cơ bản hoàn thành hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung đô thị Vĩnh Phúc.
- Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông tiến tới hoàn thiện Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đến năm 2020 đã được phê duyệt, cụ thể: Đường vành đai 1, vành đai 2; vành đai 3; các trục hướng tâm và đường nội thị chính. Tranh thủ sự hỗ trợ của các Bộ, Ngành TW để triển khai các dự án Quốc lộ 2 đoạn Vĩnh Yên - Việt Trì, cải tạo nâng cấp QL2B, đường từ nút giao Văn Quán đi Lập Thạch, cầu Phú Hậu; đường Vành đai 4 (thị trấn Tam Sơn - Vân Trục -Ngọc Mỹ - Hợp Lý - Yên Dương - TL 302 đến Tây Thiên); đường Hợp Châu qua Hồ Bảo Long - Thanh Lanh - AV05 - Đèo Nhe...; Xây dựng Đề án phát triển giao thông nông thôn giai đoạn 2016 - 2020 và tiếp tục triển khai Đề án cứng hóa trục chính giao thông nội đồng giai đoạn 2011 - 2020 gắn liền với chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới.
- Nâng cấp, mở rộng hệ thống cấp nước Vĩnh Yên lên công suất 6000 m3/ngày đêm; Phúc Yên lên công suất 40.000m3/ngày đêm; Từng bước đầu tư xây dựng mới các nhà máy nước Vĩnh Yên giai đoạn II và Nhà máy cấp nước Liễn Sơn,... Hoàn thành nhà máy cấp nước Đức Bác công suất 150.000m3/ngày đêm. Xây dựng mạng lưới cấp nước toàn bộ lõi khung đô thị đáp ứng đầy đủ nhu cầu của sinh hoạt và sản xuất,
- Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại lõi đô thị nhằm cơ bản cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường sống; cải tạo Đầm Vạc, Đầm Sáu Vó; cải tạo luồng tiêu sông Phan, sông Cà Lồ và các trạm bơm tiêu cưỡng bức. Đến năm 2020, tỷ lệ sử dụng cống thoát nước thải công cộng tại khu vực lõi đô thị là 90% trở lên.
- Xây dựng mới 1 trạm biến áp 220KV-250MVA; Cải thiện chất lượng điện cho thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên; ưu tiên phát triển lưới điện tại các khu, cụm công nghiệp; Xây dựng hệ thống điện chiếu sáng và hạ ngầm lưới điện trung, hạ áp tại các khu du lịch: Tây Thiên, Tam Đảo, Đại Lải, Hồ Vân Trục, hệ thống điện chiếu sáng từ cầu Vĩnh Thịnh đến giao với quốc lộ 2A.
- Số hóa hệ thống phát thanh truyền hình trên địa bàn. Xây dựng mạng lưới viễn thông, công nghệ thông tin, truyền hình trả tiền đạt mức tiên tiến so với các tỉnh trong cả nước. Phát triển mạng truy nhập theo hướng cáp quang hóa. Mật độ điện thoại trên địa bàn tỉnh đạt 80 thuê bao/100 dân, số thuê bao internet băng thông rộng đạt 9,5-10 thuê bao/100 dân.
- Xây dựng nhà máy xử lý rác thải, nước thải tại các đô thị trung tâm.
8. Công tác quy hoạch:
- Thực hiện có hiệu quả Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Đề án phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành, lĩnh vực, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực hiện hiệu quả đạt chỉ số mục tiêu của giai đoạn về Quy hoạch chung đô thị, Đề án phát triển kết cấu hạ tầng khung đô thị, các Quy hoạch chuyên ngành.
- Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác quy hoạch. Tiếp tục rà soát các loại quy hoạch đã được phê duyệt trên địa bàn tỉnh nhằm điều chỉnh, bổ sung kịp thời, phù hợp với thực tế của tỉnh và quy hoạch phát triển Vùng. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy hoạch, nhất là quy hoạch chi tiết xây dựng theo quy hoạch chung đô thị của tỉnh đã được phê duyệt; đồng thời tăng cường công tác quản lý và thực hiện quy hoạch.
9. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội
9.1. Giáo dục - đào tạo
- Thực hiện tốt nhiệm vụ đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo theo Chương trình hành động số 66/CTr/TU ngày 27/1/2014 của Tỉnh ủy, Kế hoạch số 4664/KH-UBND ngày 27/8/2014 của UBND tỉnh. Triển khai thực hiện tốt và có hiệu quả Đề án số 6584/ĐA-UBND ngày 30/10/2014 của UBND tỉnh về dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục và đào tạo đến năm 2020.
- Từng bước quy hoạch, sắp xếp lại mạng lưới trường lớp các cấp học, ngành học. Củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, nâng cao chất lượng giáo dục phổ cập nói chung và từng bước phổ cập cho trẻ mẫu giáo từ 3-4 tuổi.
- Đẩy mạnh phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và liên thông giữa các chương trình giáo dục, cấp học và trình độ đào tạo; xây dựng xã hội học tập, đa dạng hóa phương thức học tập; chú trọng xây dựng mối quan hệ giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội; nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và xây dựng quy tắc ứng xử văn hoá trường học.
- Đổi mới chính sách thu hút trí thức có trình độ cao, giáo viên giỏi về công tác tại tỉnh. Thực hiện đầy đủ chế độ nhất là đối với giáo viên mầm non, giáo viên miền núi. Đào tạo bổ sung và đào tạo lại đội ngũ giáo viên theo hướng nâng cao chất lượng, trình độ ngoại ngữ, tin học và kiến thức quản lý.
- Tăng tỷ lệ vốn đầu tư cơ sở vật chất trường lớp học và trang thiết bị cho bậc học mầm non đảm bảo đủ phòng học đạt chuẩn quốc gia; đầu tư bổ sung và tăng cường trang thiết bị học tập theo hướng chuyên sâu cho các trường phổ thông từ tiểu học đến THCS theo chuẩn quốc gia và phù hợp với đặc thù của từng trường.
- Thực hiện có hiệu quả Đề án dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo theo Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 37/2011/NQ-HĐND ngày 19/12/2011 của HĐND tỉnh. Tăng cường mối quan hệ giữa dạy nghề với thị trường lao động, giữa các cơ sở dạy nghề và các doanh nghiệp. Đẩy mạnh tư vấn, hướng nghiệp trong nhà trường.
- Phát triển các chương trình giáo dục thường xuyên, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm mở rộng các hình thức học tập đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.
- Phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ phòng học kiên cố ở bậc học mầm non và bậc học phổ thông đạt 100%; huy động 95% trẻ 3-5 tuổi ra lớp mẫu giáo, 100% trẻ 6 tuổi ra lớp 1; 100% giáo viên mầm non và tiểu học đạt chuẩn và trên chuẩn; phấn đấu trên 95% học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT, bổ túc THPT, TCCN và trung cấp nghề (trong đó vào THPT 65-70%); 100% các trường đạt chuẩn quốc gia: bậc mầm non và tiểu học trước năm 2018; bậc THCS và THPT trước năm 2020; đảm bảo 100% các trường phổ thông có đủ các phòng chức năng, trang thiết bị dạy học.
9.2. Chăm sóc sức khỏe nhân dân
- Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, mạng lưới y tế từ tỉnh đến huyện, xã theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối.
- Tập trung bố trí ngân sách tỉnh và xin hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị Bệnh viện đa khoa tỉnh (quy mô 1.000 giường); Bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên (quy mô 600 giường); Bệnh viện Sản - Nhi và Trung tâm ung bướu (quy mô 500-700 giường).
- Đầu tư nâng cấp một số cơ sở y tế tuyến tỉnh; phát triển mạng lưới y tế cơ sở, duy trì 100% số trạm y tế xã, phường đạt chuẩn quốc gia. Có cơ chế khuyến khích phát triển y tế ngoài công lập, đặc biệt là bệnh viện tư nhân chất lượng cao; đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế chuyên sâu nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân.
- Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi và một số chuyên khoa; thực hiện tốt chế độ luân phiên đối với người hành nghề có thời hạn tại các cơ sở y tế công lập; thực hiện kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ y bác sỹ theo địa chỉ và thực hiện tốt chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các cơ sở khám chữa bệnh của tỉnh;
- Củng cố và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Thực hiện được kỹ thuật y học cao trong chẩn đoán và điều trị bệnh tại các Bệnh viện tuyến tỉnh. Đẩy mạnh công tác chăm sóc, tư vấn sức khỏe ban đầu; từng bước thiết lập lại hệ thống chuyển tuyến trong khám bệnh, chữa bệnh; tham gia vào mạng lưới bệnh viện vệ tinh; chú trọng phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
- Tiếp tục triển khai Chính sách quốc gia về thuốc. Cung ứng đủ thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, máu, chế phẩm máu và trang thiết bị có chất lượng với giá cả hợp lý. Sử dụng thuốc và trang thiết bị hợp lý, an toàn và hiệu quả.
- Phấn đấu đạt tỷ lệ giường bệnh/1 vạn dân đến năm 2020 (không kể giường bệnh tại trạm y tế xã) đạt 32 giường; 100% thôn bản có nhân viên y tế, 100% trạm y tế xã có bác sỹ; giảm tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và tàn tật; khống chế các bệnh truyền nhiễm, các bệnh gây dịch thường gặp và mới nổi; phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về trạm y tế xã hoàn thành vào năm 2017.
9.3. Lao động việc làm và an sinh xã hội
- Xây dựng xong và đưa vào khai thác sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu về thị trường lao động vào năm 2016.
- Đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường năng lực cho cán bộ Trung tâm đào tạo lao động xuất khẩu tỉnh; Phát triển hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm theo Quy hoạch được duyệt; Xây dựng quy chế phối hợp giữa doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề trong việc đào tạo nguồn nhân lực và tuyển dụng lao động của tỉnh vào làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn.
- Nâng cao chất lượng các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, hoạt động của sàn giao dịch việc làm. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, trong đó tập trung vào thị trường mới, có tiềm năng, an toàn và có thu nhập cao cho lao động. Đẩy mạnh các hình thức hợp tác đưa lao động có trình độ, tay nghề đi làm việc ở nước ngoài như: đưa điều dưỡng viên, người lao động đi làm việc tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Cộng hoà liên bang Đức...
- Tăng cường hỗ trợ trực tiếp tạo việc làm thông qua việc tiếp tục cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm, Quỹ giải quyết việc làm địa phương, dành các khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp đối với người thất nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh có khả năng thu hút nhiều lao động. Quan tâm hỗ trợ giải quyết việc làm nhất là cho người dân các địa phương dành đất phát triển kinh tế - xã hội.
- Thực hiện tốt và có hiệu quả Đề án dạy nghề và giải quyết việc làm, đề án về xuất khẩu lao động đến 2020; Tiếp tục thực hiện và triển khai đồng bộ nhóm giải pháp có hiệu quả thiết thực, huy động xã hội hóa mạnh mẽ để đảm bảo an sinh xã hội theo Nghị quyết 30/2008/NQ của Chính phủ, Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ 2011-2020.
- Đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng trung tâm nuôi dưỡng và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh; Thực hiện tốt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 1019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án trợ giúp cho người khuyết tật giai đoạn 2012-2020.
- Thực hiện đầy đủ, kịp thời có hiệu quả các chính sách về bảo trợ xã hội.
- Triển khai, thực hiện tốt và có hiệu quả đề án BHYT toàn dân giai đoạn 2014- 2015 và đến năm 2020. Thực hiện tốt công tác BHXH, BHYT theo Chương trình hành động số 49-CTr/TU ngày 16/5/2013 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 163/2013/NQ-HĐND của HĐND tỉnh.
9.4. Văn hoá - thể thao, thông tin truyền thôngB
ảo tồn, khai thác, phát huy có hiệu quả văn hoá vật thể và phi vật thể. Đẩy mạnh hiệu quả hoạt động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” gắn với thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới. Đẩy mạnh phong trào thể thao quần chúng, đồng thời chú trọng thể thao chuyên nghiệp nhằm nâng cao thành tích, vị thế trên đấu trường quốc gia, quốc tế và khu vực.
Đầu tư hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cấp xã thôn đảm bảo đủ tiêu chí về văn hóa cho 100% xã nông thôn mới. Tập trung đầu tư xây dựng xong và đưa vào sử dụng khu đào tạo vận động viên thể thao của tỉnh. Từng bước triển khai đầu tư Khu liên hiệp thể thao của tỉnh. Thực hiện việc khai thác và sử dụng có hiệu quả thiết chế nhà hát lớn, văn miếu tỉnh, bảo tàng tỉnh, khu di tích danh thắng tây thiên gắn với phát triển dịch vụ du lịch của địa phương.
Lập Quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích trên địa bàn toàn tỉnh; Xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các hội văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ; có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ sáng tạo và phổ biến các tác phẩm có giá trị, phản ánh sâu sắc công cuộc xây dựng và phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc.
Hoàn thành việc chuyển đổi số hóa phát thanh truyền hình trên địa bàn. 100% cán bộ công chức được trang bị máy tính và sử dụng thành thạo các ứng dụng nền tảng phục vụ nền hành chính điện tử. Nâng cao chất lượng hoạt động báo chí, xuất bản cả về nội dung hình thức để đáp ứng nhu cầu của nhân dân và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của tỉnh.
Phấn đấu đến năm 2020 có từ 85 đến 90% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, 75% làng, thôn, khu phố đạt tiêu chuẩn làng văn hóa, 90% đơn vị đạt tiêu chuẩn đơn vị văn hóa, 95% làng, thôn thực hiện nếp sống văn minh trong tổ chức việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ, quy ước - hương ước văn hóa. Có khoảng 50% dân số luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên.
10. Khoa học - công nghệ
- Tập trung nghiên cứu ứng dụng và triển khai có hiệu quả các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới, công nghệ sinh học, công nghệ sạch góp phần tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
- Đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất và con người để nâng cao năng lực khoa học công nghệ cho các tổ chức KHCN của tỉnh. Thực hiện tốt và sử dung có hiệu quả quỹ phát triển khoa học công nghệ của tỉnh trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp và các sản phẩm hàng hóa trên thị trường.
- Đẩy mạnh việc ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới, dạng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và có hiệu quả, công nghệ sinh học, công nghệ sạch trong sản xuất, bảo vệ môi trường và đời sống nhân dân.
11. Quản lý nhà nước về tài nguyên và bảo vệ môi trường
- Tiếp tục thực hiện các dự án Đo đạc lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính các huyện; rà soát, có kế hoạch đo đạc lập bản đồ địa chính theo công nghệ số đối với các xã thực hiện từ 1997-2000; đo đạc mới, chỉnh lý bản đồ địa chính các xã, phường, thị trấn có biến động lớn; đo đạc, cắm mốc cho các công ty nông, lâm nghiệp; cập nhật, chỉnh lý, xây dựng bộ hồ sơ địa giới gốc toàn tỉnh.
- Lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm; tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030; rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện các quy hoạch xây dựng chi tiết phân khu chức năng đô thị, quy hoạch vùng và quy hoạch các chuyên ngành đảm bảo đồng bộ với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Tập trung lập cơ sở dữ liệu đất đai theo hướng hiện đại để đến năm 2020 cơ bản xây dựng xong 4 huyện (Tam Đảo, Bình Xuyên, Sông Lô, Lập Thạch); xác định ranh giới, diện tích và xây dựng cơ sở dữ liệu đất trồng lúa; làm tốt công tác thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng bảng giá đất, cho thuê đất, thống kê, kiểm kê đất đai.
- Tổ chức triển khai có hiệu quả Quy hoạch khai thác khoáng sản đã được duyệt, đồng thời công khai quy hoạch, quản lý quy hoạch các mỏ khoáng sản nói chung và đất san lấp nói riêng làm cơ sở cho việc cấp phép khai thác. Tiếp tục khoanh vùng địa chất trên bản đồ tỷ lệ 1/25.000 đối với khoáng sản caolin, felspat, than bùn, sét gạch ngói; xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
- Quản lý chặt chẽ việc thu gom, vận chuyển, xử lý; tiến hành đóng cửa và xử lý lượng chất thải rắn tại các bãi rác tạm gây ô nhiễm môi trường cao. Tập trung nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực xử lý chất thải rắn, ưu tiên ứng dụng các công nghệ mới, thân thiện với môi trường. Hoàn thiện mạng lưới quan trắc môi trường; hệ thống thoát nước, xử lý nước thải tại các khu vực trung tâm xã và khu dân cư tập trung. Cải tạo, chỉnh trang hệ thống nghĩa trang, nghĩa địa; xây dựng đài hóa thân, có cơ chế khuyến khích người dân sử dụng hình thức hỏa táng. Khuyến khích, hỗ trợ áp dụng biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm Biogas. Tập trung giải quyết dứt điểm các điểm nóng về ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất công nghiệp có kế hoạch di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch ra khỏi khu vực đô thị và khu dân cư. Thực hiện các nội dung kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh.
- Từng bước thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên nước theo công nghệ số và quản lý việc cấp phép sử dụng tài nguyên nước qua mạng. Phấn đấu đến năm 2020 có 90% các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được cấp có thẩm quyền cấp phép và toàn tỉnh được điều tra, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước, hiện trạng khai thác, sử dụng. Triển khai thực hiện các dự án, nhiệm vụ về ứng phó biến đổi khí hậu đến năm 2020 theo kế hoạch đã được UBND tỉnh phê duyệt.
12. Công tác quân sự địa phương và an ninh trật tự
- Công tác quân sự địa phương: Tiếp tục và thường xuyên tổ chức triển khai toàn diện các chủ trương của Đảng và Nhà nước. Xây dựng khu vực phòng thủ đạt kết quả tốt gắn liền với việc bảo đảm không gian phát triển kinh tế - xã hội. Tổ chức tốt và triển khai công tác diễn tập phòng chống lụt bão-tìm kiếm cứu nạn và diễn tập khu vực phòng thủ nhằm đảm bảo luôn luôn sẵn sang đối phó với các tình huống xấu xảy ra. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng toàn dân. Hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân hàng năm cả về số lượng và chất lượng. Làm tốt công tác luyện tập quân sự, huấn luyện quân dự bị.
- Về an ninh: Tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị. Tổ chức mở các đợt cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, trong đó tập trung chỉ đạo đấu tranh với các tội phạm hình sự nguy hiểm, tội phạm ma túy, tội phạm kinh tế,... Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm kiềm chế tai nạn giao thông, hạn chế thấp nhất số vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ an ninh và trật tự an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư. Nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và “Chương trình xây dựng nông thôn mới”.
13. Cải cách hành chính, nội vụ và thanh tra giải quyết khiếu nại tố cáo
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ và Nghị quyết số 60/NQ-HĐND ngày 19/7/2012 của HĐND tỉnh về Chương trình CCHC giai đoạn 2012-2020. Tập trung thực hiện Đề án tổng thể kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC,VC các cơ quan, đơn vị. Tổ chức thực hiện nghiêm túc Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức. Tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tổ chức bộ máy, đổi mới mô hình và cơ chế hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Thực hiện tốt việc phân cấp, phân nhiệm, làm rõ chức năng nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là người đứng đầu các cơ quan quản lý nhà nước. Triển khai tích cực Đề án xác định vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức. Cải cách chế độ công vụ, công chức, đánh giá kết quả làm việc của công chức. Thực hiện tinh giản biên chế theo Đề án tinh giản biên chế của Bộ Nội vụ và của UBND tỉnh Vĩnh Phúc. Triển khai các nhiệm vụ nhằm tiếp tục cải thiện và nâng cao thứ bậc xếp hạng chỉ số CPI của tỉnh. Tăng cường cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tiến đến xây dựng nền hành chính điện tử thông thoáng và hiện đại. Đẩy mạnh xã hội hóa các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhất là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, khai thác tài nguyên khoáng sản, quản lý đất đai… Tập trung giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo của công dân. Nâng cao hiệu quả công tác, trách nhiệm và sự phối hợp của các cấp, các ngành trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tập trung giải quyết dứt điểm các vụ khiếu nại, tố cáo kéo dài, nổi cộm, bức xúc, giải quyết dứt điểm các vi phạm trong quản lý đất đai ở cơ sở; không để xảy ra các điểm nóng, những vi phạm mới, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Tích cực triển khai các quy định của Đảng và Nhà nước trong công tác phòng chống tham nhũng, đồng thời tuyên truyền đẩy mạnh hoạt động phòng, chống tham nhũng, nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức, kết hợp với việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan đơn vị, địa phương. Xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm.
V. CÁC CHƯƠNG TRÌNH, ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2016-2020
Để thực hiện thành công các mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVI và các mục tiêu của Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra trong giai đoạn 2016-2020; UBND tỉnh xác định một số chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 để tập trung chỉ đạo nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội - môi trường, cụ thể như sau:
1. Triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với chuyển đổi lao động nông thôn.
2. Tiếp tục thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới.
3. Tiếp tục thực hiện Đề án phát triển chăn nuôi tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013-2020.
4. Triển khai thực hiện Đề án hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020. Tập trung phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
5. Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển xây dựng hạ tầng khung đô thị.
6. Chương trình đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
7. Nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ 6 đến 36 tháng tuổi. Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3 - 4 tuổi. Triển khai có hiệu quả mô hình VNEN tại các trường tiểu học và THCS. Tiếp tục triển khai về dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục và đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2014-2020. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
8. Chương trình xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
9. Chương trình tăng cường đào tạo nghề, giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động từ lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ.
10. Chương trình phòng, chống tội phạm, tai, tệ nạn xã hội.
11. Chương trình tăng cường năng lực cho công tác quản lý đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Phần III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách: Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút và khuyến khích đầu tư của tỉnh phù hợp với từng lĩnh vực, từng ngành nghề trong từng giai đoạn nằm trong khung pháp lý chung của cả nước. Điều chỉnh, bổ sung kịp thời các cơ chế chính sách của tỉnh đã ban hành cho phù hợp với tình hình thực tế.
Nghiên cứu, xây dựng cơ chế chính sách về phân cấp, phân quyền; cơ chế huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để nâng cao giá trị sản xuất và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách để hình thành doanh nghiệp dịch vụ khoa học và công nghệ thực hiện việc tư vấn về các vấn đề liên quan đến lựa chọn công nghệ, chuyển giao công nghệ; cung cấp thông tin khoa học và công nghệ nói chung và liên quan đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong tỉnh.
Có chính sách thu hút nhân tài về tỉnh; chính sách thuê tư vấn, chuyên gia có trình độ cao; đồng thời thời có chính sách ưu tiên đối với những cán bộ của của tỉnh được cử đi đào tạo trong và ngoài nước.
Xây dựng các cơ chế, chính sách xã hội hóa trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa - thể thao, thông tin - truyền thông.
2. Nhóm giải pháp về vốn đầu tư
Để đạt được nhịp độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân trong 5 năm 2016-2020 khoảng 7-7,5%/năm thì nhu cầu vốn đầu tư phát triển cho cả giai đoạn là 133-135 nghìn tỷ đồng, bình quân tăng khoảng 9-9,5%/năm, trong đó: vốn Ngân sách Nhà nước khoảng 33 nghìn tỷ đồng; vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước (DDI) khoảng 26 nghìn tỷ đồng; vốn đầu tư nước ngoài (FDI) khoảng 28 nghìn tỷ đồng; vốn đầu tư của Bộ, ngành TW đầu tư trên địa bàn khoảng 2 nghìn tỷ và vốn dân cư khoảng 45 nghìn tỷ đồng.
Các giải pháp huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư
- Xây dựng tiêu chí phân bổ vốn đầu tư tạo điều kiện để các cấp, các ngành chủ động trong việc khai thác vốn đầu tư.
- Rà soát lại quỹ đất để tạo điều kiện thông thoáng nhất để đấu giá quyền sử dụng đất.
- Tạo điều kiện để các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp bất động sản trên địa bàn có phương án chuyển đổi để giải phóng nguồn vốn, tạo nguồn lực cho sản xuất kinh doanh.
- Rà soát lại cơ cấu thu ngân sách, đảm bảo thu hợp lý và nuôi dưỡng nguồn thu để tăng thu, chống thất thu.
- Triển khai thực hiện tốt Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư sửa đổi… để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện đầu tư phát triển. Tạo sân chơi bình đẳng đối với đầu tư trong nước và ngoài nước cũng như giữa các khu vực tư nhân và DNNN. Tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư ổn định, thông thoáng và bình đẳng để các doanh nghiệp có cơ hội nhiều hơn trong kinh doanh và sản xuất.
- Khuyến khích các hộ tư nhân làm giàu chính đáng, phát huy lợi thế so sánh của địa phương (phát triển dịch vụ du lịch, trang trại,…), chuyển đối cơ cấu cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp; chuyển dịch một bộ phận lớn lao động và gia đình sang lĩnh vực dịch vụ, thương mại. Huy động tối đa các nguồn vốn còn tiềm ẩn trong dân (tài sản tích trữ, để dành), tạo môi trường kinh doanh hấp dẫn, tin cậy, ổn định để lôi cuốn các hộ bỏ vốn đầu tư kinh doanh.
- Khuyến khích đầu tư các lĩnh vực, ngành nghề có lợi thế so sánh như: cơ khí chế tạo các loại phụ tùng ô tô và xe máy; phát triển các dịch vụ du lịch, khu vui chơi giải trí; các dự án chế biến rau, quả xuất khẩu và các sản phẩm chăn nuôi. Tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong quá trình đăng ký đầu tư và triển khai dự án. Tăng cường xúc tiến đầu tư tại chỗ. Giải quyết tốt những vướng mắc đang gây trở ngại đối với nhà đầu tư.
- Tiếp tục đẩy mạnh giải ngân vốn ODA đã cam kết là một trong những giải pháp nhằm tạo điều kiện vận động tìm kiếm các nguồn tài trợ mới.
3. Nhóm giải pháp về đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh
3.1. Cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới
- Tập trung triển khai thực hiện Đề án “Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với giải quyết lao động nông thôn đến 2020 và tầm nhìn đến 2030”.
- Khuyến khích tích tụ ruộng đất để áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất, tiến tới sản xuất hàng hóa tập trung gắn với phân công lao động trong nông nghiệp sang các ngành, lĩnh vực khác trên địa bàn nông thôn. Có chính sách giao đất ổn định lâu dài cho các trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp.
- Tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, từng bước ứng dụng công nghệ chuyển gen để sản xuất và lựa chọn những giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt thích nghi với điều kiện từng vùng trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh cơ giới hóa từ khâu làm đất đến thu hoạch, bảo quản đối với sản phẩm trồng trọt; ứng dụng công nghệ hiện đại trong chăn nuôi. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông sản.
- Có cơ chế hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp của tỉnh. Từng bước xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp Vĩnh Phúc.
- Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại; hướng dẫn, khuyến khích, tạo thuận lợi để nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học ký hợp đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong nước và từng bước xuất khẩu.
- Tạo điều kiện cho các chủ trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp được tiếp cận với các nguồn vốn vay ưu đãi và tham gia các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt mục tiêu, kế hoạch đã đề ra.
- Tăng cường đầu tư nông nghiệp, nông thôn để kinh tế nông nghiệp, nông thôn của tỉnh phát triển theo định hướng CNH - HĐH. Tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi phục vụ đa mục tiêu, từng bước thực hiện xây dựng vùng điều tiết (tiêu, thoát nước) theo quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc; phát triển giao thông nông thôn, giao thông nội đồng.
- Đẩy mạnh bồi dưỡng kiến thức, đào tạo nghề cho nông dân; tăng cường chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành nghề khác; thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao về làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ, trang trại, coi trọng phát triển kinh tế tư nhân. Củng cố, phát triển kinh tế hợp tác xã. Tiếp tục bổ sung các chính sách hấp dẫn để khuyến khích các nhà đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn của tỉnh.
- Quan tâm xử lí ô nhiễm môi trường trong sản xuất, chế biến nông, lâm, thủy sản, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn. Tăng cường trồng và bảo vệ rừng; xây dựng hồ điều hòa, trồng cây xanh.
3.2. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế của tỉnh
- Đẩy mạnh tái cấu trúc ngành công nghiệp theo hướng phát triển mạnh các mặt hàng có hàm lượng giá trị gia tăng lớn, chất lượng cao phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
- Tập trung đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng (điện, giao thông, cấp, thoát nước, viễn thông...), đặc biệt là hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp tạo nền tảng cho phát triển công nghiệp.
- Huy động nguồn lực xã hội hóa để đầu tư hạ tầng phụ trợ, phục vụ phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư của tỉnh như trường học, trạm y tế, nhà ở cho công nhân...
- Giải quyết các vướng mắc về giải phóng mặt bằng, ưu tiên nguồn lực và đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh hạ tầng tại các cụm công nghiệp theo quy hoạch. Khẩn trương lập quy hoạch chi tiết các cụm công nghiệp trên địa bàn. Có cơ chế chính sách để thu hút đầu tư vào các cụm công nghiệp.
- Thu hút đầu tư có chọn lọc theo hướng ưu tiên các dự án kỹ thuật cao, các dự án thân thiện môi trường, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, sản phẩm xuất khẩu đồng thời với việc tạo lập thương hiệu sản phẩm công nghiệp.
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuân lợi nhất cho đầu tư của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, trong đó có đầu tư nước ngoài. Quan tâm hơn nữa và đẩy mạnh hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất có trình độ tay nghề phù hợp, ưu tiên phát triển đội ngũ lao động có trình độ cao. Mở rộng hợp tác đào tạo lao động với các địa phương trong vùng, đặc biệt là Hà Nội và cả hợp tác với quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh.
- Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, thương mại để thu hút vốn đầu tư và tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm công nghiệp của tỉnh.
3.3. Phát triển các ngành dịch vụ
- Tiếp tục tập trung thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ tại Nghị quyết 01/NQ-TU ngày 04/11/2011 của Tỉnh ủy và hệ thống các cơ chế, chính sách của tỉnh về phát triển dịch vụ, du lịch đến năm 2020.
- Rà soát, hoàn chỉnh quy hoạch chuỗi du lịch, dịch vụ ven núi Tam Đảo phù hợp với quy hoạch chung của tỉnh và điều chỉnh quy hoạch Vùng thủ đô.
- Vận động nhà đầu tư vào khu du lịch Tam Đảo II để sớm khai thác, có kế hoạch đầu tư mở rộng tuyến đường từ Vĩnh Yên lên khu du lịch Tam Đảo và từ khu Tam Đảo I sang Tam Đảo II. Nghiên cứu bổ sung quy hoạch một số sân Golf và có kế hoạch vận động nhà đầu tư vào đầu tư.
- Tập trung nguồn lực, đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực dịch vụ có tiềm năng và lợi thế, các ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ cao mang lại giá trị gia tăng cao, làm cơ sở cho sự phát triển chung của khu vực dịch vụ và toàn bộ nền kinh tế.
- Đa dạng hóa các nguồn lực để đầu tư hạ tầng du lịch và xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh. Tăng cường công tác đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ hoạt động du lịch. Tăng cường liên kết, phối hợp với các địa phương trong vùng trong thực hiện quy hoạch, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá, xúc tiến đầu tư, xây dựng thương hiệu du lịch. Hình thành các tuor, tuyến du lịch liên vùng, tỉnh và hướng tới hợp tác quốc tế trong phát triển du lịch.
- Tập trung phát triển các doanh nghiệp thương mại bán lẻ, doanh nghiệp thương mại bán buôn và các mô hình tổ chức kinh doanh. Tích cực tổ chức xúc tiến đầu tư, xây dựng cơ chế hỗ trợ thu hút các tập đoàn, công ty phân phối hàng đầu thế giới vào đầu tư kinh doanh các loại hình bán buôn, bán lẻ quy mô lớn và hiện đại theo lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của nước ta.
- Tranh thủ nguồn vốn ODA, vốn viện trợ để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại trọng điểm của tỉnh. Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại phát triển mạng lưới và trở thành kênh phân phối chủ yếu hàng công nghiệp tiêu dùng ở thị trường nông thôn. Nâng cấp mạng lưới chợ ở các xã. Huy động tốt các nguồn vốn ODA, trái phiếu Chính phủ và ưu tiên nguồn lực đối ứng để đầu tư các dự án Bệnh viện, trường học nhằm phát triển dịch vụ y tế, giáo dục của tỉnh.
- Quy hoạch và đầu tư xây dựng đồng bộ, coi trọng công tác bảo trì, đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững hạ tầng giao thông hiện có; chú trọng phát triển hạ tầng giao thông nông thôn.
3.4. Phát triển mạnh doanh nghiệp
- Cải thiện môi trường đầu tư, mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đăng ký, hoạt động và phát triển, tập trung tháo gỡ những rào cản, vấn đề bức xúc của doanh nghiệp, nhất là đất đai, vốn, đào tạo nghề, thủ tục hành chính…; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký kinh doanh, thành lập doanh nghiệp, tiếp cận với nguồn vốn, và các dịch vụ tài chính, dịch vụ công khác…
- Tăng cường và mở rộng đào tạo kiến thực quản trị doanh nghiệp, kinh doanh nhằm tạo ra đội ngũ doanh nhân có năng lực có kiến thức trên địa bàn. Tổ chức tốt công tác thông tin doanh nghiệp, thông tin kinh tế xã hội nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận thông tin một cách dễ dàng đảm bảo nắm bắt, tiếp cận thị trường một cách nhanh nhất, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
- Chú trọng và có chính sách hỗ trợ đối với lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa vì đây là lực lượng doanh nghiệp có nhiều tiềm năng và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
- Nghiên cứu, đề xuất áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút đầu tư như: mức hỗ trợ về thuế TNDN, phí sử dụng đất, hỗ trợ đào tạo lao động cho doanh nghiệp, hỗ trợ về tăng cường năng lực khoa học và công nghệ và hỗ trợ trong việc hình thành liên kết doanh nghiệp.
4. Nhóm giải pháp về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
- Phát triển hệ thống giáo dục đào tạo chính quy từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông và đào tạo chuyên nghiệp dạy nghề gắn với các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh và của cả nước.
- Tổ chức các sự kiện cho người tìm kiếm việc làm như hội chợ việc làm, lễ tốt nghiệp ở trường đại học... để thu hút nhân tài. Đưa thông tin về các ứng viên nhân tài đã gặp gỡ tại các sự kiện này vào danh mục địa chỉ email, duy trì liên lạc thường xuyên với những đối tượng quan tâm. Thực hiện chương trình khuyến khích các nhân tài của tỉnh Vĩnh Phúc hiện đang sinh sống ở nơi khác quay trở về làm việc ở quê nhà. Tăng cường công tác đào tạo, đạo tạo lại đội ngũ công chức, viên chức.
- Hỗ trợ về cơ chế, chính sách để khuyến khích thành lập cơ sở đào tạo tại tỉnh. Giám sát chặt chẽ và ban hành các quy định để đảm bảo các cơ sở giáo dục tư sẽ cung cấp dịch vụ đạt chất lượng. Hợp tác giữa nhà nước và tư nhân trong đào tạo, dạy nghề.
- Nâng cao tay nghề của lao động ở các vị trí hiện tại để tăng năng suất lao động. Đảm bảo cung cấp đầy đủ các khóa đào tạo ngắn hạn cho lao động đang giữ các vị trí công việc hiện tại sẽ cho phép người lao động cải thiện kỹ năng và nâng cao năng suất.
5. Nhóm giải pháp về phát triển khoa học - công nghệ và bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu
- Không ngừng đổi mới công nghệ. Phải coi trọng khoa học công nghệ, trước hết tập trung vào các khâu trọng yếu, các chương trình phát triển và ứng dụng, đưa tiến bộ khoa học và công nghệ hỗ trợ phát triển nông thôn.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ. Xây dựng và phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ, chuẩn bị điều kiện để nối mạng với cả nước. Miễn thuế đối với phần vốn dành cho công tác nghiên cứu đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp. Miễn giảm thuế có thời hạn cho các dự án sản xuất thử.
- Đẩy mạnh việc áp dụng và phát triển công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ tin học trong mọi lĩnh vực. Đẩy mạnh đưa công nghệ thông tin vào các lĩnh vực quản lý. Trước mắt, cần trang bị đủ hệ thống máy vi tính và đào tạo cho các cơ quan quản lý của tỉnh, sử dụng thành thạo các ứng dụng nền tảng cho chính quyền điện tử.
- Đẩy mạnh việc đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động khoa học, công nghệ. Từng bước hình thành các tổ chức khoa học và công nghệ cấp huyện trên cơ sở sáp nhập các tổ chức khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư nhằm chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống.
- Nâng cao năng lực của bộ máy quản lý nhà nước về môi trường. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư. Xây dựng khu xử lý chất thải rắn tập trung, áp dụng các công nghệ tiên tiến. Khuyến khích xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp ngay trong quá trình đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp. Thực hiện tốt các chương trình trồng rừng, bảo vệ tài nguyên nước. Xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường.
6. Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước:
Sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tránh sự trùng lặp về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính.
Tiếp tục Đào tạo bồi dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao.
Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực công tác, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động công vụ.
Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, mở rộng dân chủ trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.
Thực hiện kiên quyết các biện pháp phòng ngừa và chống tham nhũng; Kết hợp chặt chẽ giữa công tác phòng, chống tham nhũng với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Thực hiện có hiệu quả các nội dung của Luật tổ chức chính quyền địa phương.
7. Nhóm giải pháp về xã hội hóa: Đẩy mạnh xã hội hội hóa trên các lĩnh vực
- Tập trung thu hút và vận động vốn ODA, vốn vay ưu đãi để xây dựng Trường đại học quốc tế, trường liên cấp quốc tế, Bệnh viện quốc tế, Bệnh viện Sản Nhi; đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải tập trung… Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn.
- Hàng năm, ngân sách tỉnh dành ra một khoản kinh phí để thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng giao đất sạch cho các tổ chức, cá nhân và nhà đầu tư thực hiện các dự án xã hội hóa theo Quy định tại Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 và Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường, giám định tư pháp.
- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt mô hình liên doanh, liên kết giữa Bệnh viện với nhà đầu tư trong việc cung cấp các trang thiết bị hiện đại.
- Tăng cường phát triển các loại hình cơ sở giáo dục ngoài công lập đối với khối mầm non, phát triển các trường tư thục chất lượng cao, các trường có yếu tố quốc tế, đặc biệt ở khu vực thành thị, vùng có đủ điều kiện thích hợp. Triển khai thực hiện cổ phần hoá một số các cơ sở đào tạo. Tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ giải phóng mặt bằng đất cho các Trường đại học công lập của Trung ương mở phân hiệu II tại Vĩnh Phúc. Mở rộng tổ chức các quỹ khuyến học, hình thành quỹ học bổng, khuyến tài, bảo trợ giáo dục, khuyến khích các cá nhân và tổ chức đóng góp vào sự phát triển giáo dục - đào tạo của tỉnh.
- Khuyến khích thành lập các câu lạc bộ thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao gắn với các doanh nghiệp trên địa bàn; huy động nguồn lực của nhân dân để tu bổ tôn tạo các di tích văn hóa lịch sử của địa phương; có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư thiết chế văn hóa thể thao cấp tỉnh.
- Đẩy mạnh triển khai Quyết định số 80/2014/QĐ-TTg ngày 30/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định thí điểm về thuê dịch vụ CNTT trong cơ quan Nhà nước. Xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ, huy động sự đóng góp trí tuệ và vật chất cho sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ.
- Tăng cường vận động các nhà hảo tâm, khuyến khích doanh nghiệp, nhà đầu tư tham gia tài trợ các chương trình an sinh xã hội của tỉnh.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2016-2020) phải được tổ chức quán triệt sâu rộng trong các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, đồng thời phải chú ý tuyên truyền tới nhân dân, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia để thực hiện tốt nhiệm vụ đã đề ra.
2. Nâng cao năng lực điều hành, cải tiến phương pháp chỉ đạo điều hành. Lựa chọn những vấn đề cấp bách, thiết thực có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để ưu tiên chỉ đạo thực hiện.
3. Trong quá trình thực hiện các cấp, các ngành ngành phải bám sát quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển để xây dựng cụ thể hóa thành các chương trình, dự án để triển khai thực hiện; Kịp thời tháo gỡ những khó khăn, tập trung giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu đã đề ra./.
Nơi nhận:
- Bộ KH&ĐT, Tài chính;
- TTTU, HĐND tỉnh;
- CPCT; CPVP ;
- Các Sở, Ban, Ngành;
- Các huyện, thị, TP;
- CVNCTH;
- Lưu VT,
(L b). | TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Nguyễn Văn Trì
[1] Theo kế hoạch đăng ký của các Tập đoàn Compal và Hồng Hải dự kiến khi đi vào hoạt động sản xuất đạt 100% công suất; sản lượng dự kiến đạt 40 triệu máy tính và 92 triệu điện thoại. Về tiến độ: 2 tập đoàn này dự kiến đến sẽ năm 2013 đi vào sản xuất và đến năm 2015 đạt khoảng 30% công suất thiết kế, sản xuất đạt 12 triệu sản phẩm máy tính và 30 triệu sản phẩm điện thoại; đóng góp cho kim ngạch XK khoảng 13 tỷ USD, tạo việc làm cho khoảng 60 nghìn lao động. Khi xây dựng kế hoạch 5 năm 2011-2015, để đảm bảo tính khả thi đã dự báo công suất đến năm 2015 ở dưới mức mà 2 tập đoàn đăng ký; tức là chỉ tính ở mức 7,2 triệu sản phẩm máy tính và 2,5 triệu sản phẩm điện thoại.
[2] Theo Quy hoạch các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Vĩnh Phúc có 20 khu, với diện tích 6.038 ha (sau đó điều chỉnh giảm còn 5.992 ha); sau khi rà soát điều chỉnh còn 19 KCN, với diện tích 5.540 ha.
[3] 7 KCN gồm Kim Hoa (50ha), Khai Quang (214,57ha), Bình Xuyên (287,7 ha), Bá Thiện (327 ha), Bá Thiện II (308 ha), Bình Xuyên II (45,63 ha), Tam Dương (giai đoạn I)
Tổng vốn đăng ký FDI đạt 214,5 triệu USD, vốn đăng ký DDI đạt 7,65 nghìn tỷ đồng, vốn thực hiện ước đạt 87 triệu USD (đạt tỷ lệ 40,6%) và 3,32 nghìn tỷ đồng (đạt tỷ lệ 43,4%)
[4] Có 457 dự án đăng ký (gồm cả các hộ sản xuất kinh doanh cá thể), có 319 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh; vốn đăng ký khoảng 1.280 tỷ đồng, vốn thực hiện 1.182 tỷ đồng
[5] Số dự án hoàn thành giao kế hoạch đầu năm tăng từ 209 dự án năm 2011 lên 431 dự án năm 2014; số dự án mới giảm mạnh từ 247 dự án năm 2011 xuống còn 64 dự án năm 2014
[6] Năm 2013 là 1.015 tỷ đồng (trong đó vượt thu: 879 tỷ và 136 tỷ đồng nguồn thưởng vượt thu) và năm 2014 khoảng 899 tỷ đồng.
[7] 6 dự án ODA gồm: (1) Dự án Cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc; (2) Dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn bền vững các tỉnh phía Bắc; (3) Dự án nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc; (4) Dự án nâng cao chất lượng an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát sinh chương trình khí sinh học và 02 dự án điện nông thôn gốc và mở rộng.
[8] Nghị quyết số 30/NQ-QH của Quốc hội giao chỉ tiêu cấp tỉnh phải cấp GCNQSDĐ lần đầu các loại đất đạt trên 85%. Tỉnh Vĩnh Phúc đã cấp đạt tỷ lệ chung 89,75%, vượt 4,75% so với Nghị quyết.