Quay lại

Nghị định 67-VNVNT năm 1958 về thể lể cho vay ngắn hạn đối với các nông trường quốc doanh, lâm khẩn quốc doanh và biện pháp cho vay ngắn hạn đối với hợp tác xã sản xuất nông nghiệp do Tổng giám đồc Ngân hàng Quốc gia ban hành.

NGÂN HÀNG QUỐC GIA VIỆT NAM
*******

Số: 67-VNVNT

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
*******

Hà Nội, ngày 30 tháng 01 năm 1958

NGHỊ ĐỊNH

BAN HÀNH THỂ LỂ CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI CÁC NÔNG TRƯỜNG QUỐC DOANH, LÂM KHẨN QUỐC DOANH VÀ BIỆN PHÁP CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

TỔNG GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG QUỐC GIA VIỆT NAM

Để thi hành Nghị định số 114-TTg ngày 09-04-1957 của Thủ tướng Chính phủ về việc thanh toán giữa các cơ quan và xí nghiệp Nhà nước với nhau và thi hành Quyết định số 130-TTg ngày 04-04-1957 của Thủ tướng Chính phủ về thi hành từng bước chế độ hạch toán kinh tế để tăng cường việc quản lý kinh doanh của xí nghiệp quốc doanh;
Căn cứ vào công văn số 433-TN ngày 28-01-1958 của Thủ tướng Chính phủ đồng ý về nội dụng các bản thể lệ cho vay ngắn hạn đối với nông trường quốc doanh, lâm khẩn quốc doanh và bản biện pháp cho vay ngắn hạn đối với hợp tác xã sản xuất nông nghiệp,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. – Nay ban hành bản thể lệ cho vay ngắn hạn đối với các nông trường quốc doanh, lâm khẩn quốc doanh và biện pháp cho vay ngắn hạn đối với Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam kèm theo nghị định này.

Điều 2. – Thể lệ và biện pháp này được áp dụng từ ngày ban hành.

Điều 3. – Các ông Chánh văn phòng, Giám đốc Vụ, ở Sở Ngân hàng trung ương và các ông Trưởng chi nhánh Ngân hàng toàn quốc chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.


TỔNG GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG QUỐC GIA VIỆT NAM Lê Viết Lượng

1) Các nông trường chỉ được dùng vốn vay của Ngân hàng vào những mục đích nhất định, cố định trước trong kế hoạch và chỉ được nhận vốn vay theo mức thực hiện kế hoạch.

2) Các nông trường vay vốn của Ngân hàng phải hoàn trả lại số tiền vay theo thời hạn nhất định, tối đa không quá 12 tháng.

3) Các nông trường vay vốn của Ngân hàng phải có vật tư tương đương đảm bảo số tiền vay.

1) Phải có kế hoạch sản xuất, kỹ thuật tài vụ.

2) Phải có kế toán độc lập, bảng cân đối tài sản.

3) Phải có tài khoản thanh toán ở Ngân hàng.

4) Phải được cấp trên (Bộ, Sở chủ quản) cho quyền trực tiếp vay vốn của Ngân hàng.

5) Phải được Chính phủ cấp vốn luân chuyển riêng (gọi là vốn lưu động tự có tức là mức tiêu chuẩn vốn luân chuyển).

Chương II

Điều 4. – Ngân hàng cho vay dự trữ vật tư theo mùa trên mức tiêu chuẩn trong kế hoạch, nghĩa là dựa theo kế hoạch dự trữ của nông trường đã được Chính phủ phê chuẩn mà Ngân hàng cho các nông trường vay vốn để giải quyết những nhu cầu về dự trữ có tính chất thời vụ khi mà số dư vật tư vượt trên mức tiêu chuẩn trong phạm vi kế hoạch.

Điều 5. – Ngân hàng cho các nông trường vay dự trữ vật tư trên mức tiêu chuẩn có tính chất thời vụ bao gồm: phân bón, thứ ăn cho súc vật, nhiên liệu, phụ tùng và vật liệu sửa chữa kỹ thuật.

Điều 6. – Để tính số vốn xin vay, các nông trường căn cứ vào số dư dự trữ đầu quý kế hoạch và kế hoạch mua vào chi ra trong quý để tính số dư dự trữ cuối quý. Sau khi trừ đi các khoản vốn định mức và vốn coi như tự có để lập kế hoạch vay vốn trong quý đó, (xem mẫu số 5 thể lệ cho vay công nghiệp quốc doanh).

Điều 7. – Khi vay vốn của Ngân hàng, nông trường phải trình xuất những số liệu về dự trữ vật tư cho từng đối tượng, nêu rõ số hàng tồn kho, số hàng trên đường đi và cả những chứng từ về số vật tư thuộc phần chưa trả tiền.

Điều 8. – Khi cho vay Ngân hàng tính số vốn thuộc mức tiêu chuẩn của xí nghiệp và đối chiếu với số dư vật tư trong bảng chứng từ đã trình xuất, Ngân hàng sẽ cho vay số dư vật tư trên mức tiêu chuẩn trong phạm vi mức quy định ghi trước trong kế hoạch cho vay của Ngân hàng về đối tượng đó.

Điều 9. – Thời hạn cho vay dự trữ vật tư trên múc tiêu chuẩn quy định dựa theo tình hình thực tế của sự tăng giảm vật tư theo kế hoạch. Khi mà số dư vật tư đảm bảo rút xuống bao nhiêu (nghĩa là đã đem dùng) thì Ngân hàng sẽ thu hồi nó về bấy nhiêu. Thời hạn cho vay như vậy không được quá một kỳ luân chuyển của vật tư, và không được ngoài niên độ kế hoạch. Trường hợp cần dự trữ vật tư cho năm tới, kế hoạch đã được cấp trên xét duyệt thì áp dụng theo điều 29 khoản 4.

Điều 10. – Muốn vay vốn của Ngân hàng về dự trữ vật tư trên mức tiêu chuẩn, nông trường phải làm đầy đủ các giấy tờ sau đây và nộp cho Ngân hàng trước 7 ngày (tính ngày Ngân hàng nhận được).

Điều 11. – Khi đã ấn định mức cho vay Ngân hàng sẽ quyết định việc sử dụng số tiền vay. Nếu nông trường không nợ nần thì toàn bộ số tiền vay sẽ chuyển qua tài khoản thanh toán của nông trường. Nếu nông trường có nợ chưa trả thì Ngân hàng sẽ dùng một phần tiền vay đó để trả nợ theo giấy đời nợ của đối tượng đã cho vay, phần còn lại sẽ chuyển qua tài khoản thanh toán.

Điều 12. – Ngân hàng cho các nông trường vay chi phí các khoản về trồng trọt và chế biến để giải quyết những nhu cầu vốn có tính chất thời vụ nếu trong quá trình sản xuất của nông trường xảy ra chi phí trên mức tiêu chuẩn trong kế hoạch.

Điều 13. – Ngân hàng cho các nông trường vay chi phí về trồng trọt bao gồm các công tác: cấy, giao, chăm bón, sản xuất phân bón, bảo vệ hoa mầu non, gặt hái, chế biến, các chi phí chăm sóc súc vật lao động, các chi phí sửa chữa thường xuyên, các chi phí quản lý xí nghiệp và chi phí chung.

Điều 14. – Để tính số vốn xin vay chi phí về trồng trọt và chế biến, các nông trường căn cứ vào số dư đầu quý và những chi phí cho các công tác trồng trọt, chế biến phải chi dùng trong kế hoạch của quý xin vay, trừ đi các sản phẩm bán ra trong quý theo giá thành sản xuất, trừ đi mức tiêu chuẩn về thành phẩm và bán thành phẩm và các nguồn vốn coi như tự có của nông trường.

Điều 15. – Muốn vay vốn của Ngân hàng, nông trường phải trình xuất những số liệu sau đây:

Điều 16. – Ngân hàng sẽ tính đảm bảo số tiền nợ vay, căn cứ vào giá trị của các loại sản phẩm đang sản xuất trên mức tiêu chuẩn. Nếu giá trị đó vượt quá giá thành sản xuất kế hoạch, Ngân hàng sẽ dựa vào giá thành sản xuất ghi trong kế hoạch để tính. Ngân hàng sẽ tính số vốn thuộc mức tiêu chuẩn của nông trường đối chiếu với số dư theo sự tính toán đảm bảo nói trên mà cho vay chi phí trồng trọt trên mức tiêu chuẩn trong kế hoạch và trong mức quy định kế hoạch cho vay của Ngân hàng về đối tượng đó.

Điều 17. – Sau khi đã ấn định mức cho vay Ngân hàng sẽ thu nợ các khoản đã cho vay về dự trù vật tư căn cứ vào số dự trù vật tư của nông trường đem chi dùng trong quý. Số tiền còn lại Ngân hàng sẽ chuyển vào tài khoản thanh toán của nông trường.

Điều 18. – Thời hạn cho vay về chi phí trồng trọt và chế biến sẽ căn cứ vào thời vụ thu hoạch các loại sản phẩm chính mà ấn định tối đa không được quá 12 tháng.

Điều 19. – Các nông trường muốn vay vốn của Ngân hàng cần phải làm các giấy tờ sau đây gửi đến Ngân hàng trước 7 ngày (kể từ ngày Ngân hàng nhận được:

1) Một bản kế hoạch vay vốn chi phí trồng trọt (mẫu số 6).

2) Hai bản đơn xin vay vốn về chi phí trồng trọt và chế biến (theo mẫu số 1 ở điều 10).

3) Một bản kê các phí cho các loại trồng trọt và chế biến (mẫu số 8).

4) Giấy nhận nợ có kỳ hạn trả nợ (mẫu số 2 điều 10).

Điều 20. – Trường hợp sản phẩm sản xuất ra cần phải để dự trù theo kế hoạch đã được duyệt (thức ăn cho súc vật, phân bón). Ngân hàng sẽ căn cứ vào số dư vật tư dự trữ tăng lên mà cho vay về dự trữ vật tư nếu số dư đó trên mức tiêu chuẩn dự trữ, còn nói về cho vay chi phí trồng trọt Ngân hàng sẽ thu hồi về bằng cách điều chỉnh tài khoản cho vay chi phí trồng trọt qua cho vay về dự trữ vật tư.

Điều 21. – Ngân hàng cho vay chi phí về chăn nuôi trên mức tiêu chuẩn trong kế hoạch dưới hình thức cho vay về chênh lệch giá trị của đàn súc vật nuôi cho lớn và cho béo, khi giá trị vượt trên mức tiêu chuẩn. Sự chênh lệch giá trị đó tạo nên bởi:

Điều 22. – Để tính mức vốn xin vay chi phí về chăn nuôi, các nông trường phải căn cứ vào số dư đàn súc vật chăn nuôi cho lớn và cho béo đầu quý kế hoạch, chênh lệch tăng giảm giá trị đàn súc vật đó (số lượng đàn súc vật có bản chuyển sang cộng mua thêm ngoài cộng sự lớn thêm của đàn súc vật nuôi cho lớn và cho béo) trừ đi số bán ra trong quý theo giá thành sản xuất, trừ đi mưc tiêu chuẩn về bán thành phẩm sức vật còn nhỏ nuôi cho lớn và cho béo (theo mẫu số 7).

Điều 23. – Nông trường quốc doanh muốn vay vốn cho Ngân hàng phải trình xuất những số liệu sau đây:

Điều 24. – Để tính làm đảm bảo nợ vay của Ngân hàng sẽ căn cứ vào giá trị của các loại sản phẩm đang sản xuất trên mức tiêu chuẩn như các súc vật nuôi cho lớn và cho béo, súc vật mua ở ngoài, các sản phẩm thịt, sữa (nếu giá trị đó vượt trên giá thành sản xuất trong kế hoạch thì chỉ tính theo giá thành sản xuất ghi trong kế hoạch). Đối với súc vật mua ở ngoài nuôi cho béo tính theo giá trị kế hoạch cộng thêm chi phí chuyên chở không tính theo giá mua thực sự ngoài thị trường. Trừ trường hợp cấp trên điều chỉnh lại giá kế hoạch thì Ngân hàng sẽ căn cứ vào giá kế hoạch mới để tính.

Điều 25. – Sau khi ấn định mức cho vay Ngân hàng sẽ thu hồi nợ khoản cho vay dự trữ vật tư căn cứ vào vật tư dự trữ mà nông trường đã đem dùng trong quỹ bằng cách điều chỉnh từ tài khoản cho vay dự trữ qua tài khoản cho vay chi phí chăn nuôi (cách điều chỉnh xem điều 30) Ngân hàng sẽ chuyển phần còn lại của số tiền vay đó qua tài khoản thanh toán của nông trường.

Điều 26. – Thời hạn cho vay chi phí chăn nuôi căn cứ vào kế hoạch bán ra các loại sản phẩm và kế hoạch chuyển súc vật còn nhỏ nuôi cho lớn sang vốn cơ bản mà ấn định nhưng không được quá 12 tháng. Nếu trong quý xảy ra tình trạng giảm giá trị do toi dịch gây ra thì Ngân hàng thu hồi vốn đó về trước kỳ hạn theo mức độ giảm sút. Trừ trường hợp bộ Tài chính có công văn chính thức đảm bảo bù lỗ thì Ngân hàng có thể đình thu hồi số vốn giảm sút đó.

Điều 27. – Khi xin vay nông trường phải làm những giấy tờ cần thiết sau đây gửi đến Ngân hàng trước 7 ngày khi bắt đầu vay.

Điều 28. – Thể theo trình độ hạch toán kinh tế của nông trường, Ngân hàng tạm thời căn cứ vào bản kế hoạch do nông trường trình xuất để tính toán cho vay các chi phí trồng trọt và chăn nuôi. Sau khi nhận tiền vay nông trường phải trình xuất các chứng từ chi phí về các đối tượng cho vay mỗi tháng một lần để Ngân hàng có thể kiểm tra đảm bảo. Nếu sau khi kiểm tra, thấy số tiền đã vay không đủ vật tư đảm bảo, Ngân hàng sẽ thu hồi vốn về bằng cách trích từ tài khoản thanh toán để trả nợ Ngân hàng. Nếu tài khoản thanh toán không có tiền Ngân hàng sẽ ghi vào tài khoản nợ quá hạn.

Điều 29. – Việc điều chỉnh giữa hai loại cho vay "chi phí sản xuất và dự trữ vật tư" làm như sau:

1) Các nông trường căn cứ vào số dư vật tư trên mức tiêu chuẩn làm đảm bảo cho số tiền vay và tình hình sử dụng vật tư. Ngân hàng sẽ căn cứ số liệu, báo cáo về tình hình sử dụng và thay đổi vật tư (mẫu số 1 của nông trường gửi đến xét và điều chỉnh. Sau khi điều chỉnh Ngân hàng sẽ báo cho nông trường được vay biết để điều chỉnh sổ sách kế toán (từ tài khoản "Nợ" cho vay dự trữ qua "Nợ" chi phí trồng trọt hoặc chăn nuôi hay ngược lại.

2) Khi nhận được bản báo cáo về sự thay đổi, dự trữ vật tư Ngân hàng sẽ làm bảng tính toán, nếu vật tư dự trữ trên mức tiêu chuẩn được dùng hoàn toàn vào chi phí sản xuất tiến hành điều chỉnh toàn bộ nếu vật tư dùng một phần vào chi phí sản xuất thì điều chỉnh một phần, nếu không sử dụng vật tư vào chi phí sản xuất thì không điều chỉnh.

3) Mỗi nông trường phải mở ở nơi Ngân hàng cho vay tiền khoản về "Tình hình thay đổi dự trữ vật tư" trong tài khoản dự trữ vật tư.

4) Việc điều chỉnh giữa hai loại cho vay "Chi phí dự trự và chi phí sản xuất" chỉ làm trong phạm vi niên độ kế hoạch, nghĩa là không được điều chỉnh số nợ cho vay năm trước sang nợ năm sau. Trong trường hợp cuối năm, nông trường chưa trả hết khoản nợ nếu có lý do chính đáng, mà cần dự trữ vật tư cho năm tới và kế hoạch đã được cấp trên duyệt, thì một mặt Ngân hàng cho vay những chi phí dự trữ cho năm tới, mặt khác nông trường phải trả nợ vay cũ cho Ngân hàng.

Điều 30. – Ngân hàng cho vay tạm thời là để giải quyết những nhu cầu vốn có tính chất tạm thời trong quá trình sản xuất, những chi phí cần thiếu vượt mức tiêu chuẩn ngoài kế hoạch, nhưng không phải do chính công tác xấu của nông trường gây ra.

Điều 31. – Khi xin vay nông trường phải giao nộp Ngân hàng:

1) Bản báo cáo nói rõ nguyên nhân gây ra nhu cầu tạm thời, mục đích sử dụng vốn và nhu cầu vốn.

2) Bản kê tạm thời dự trữ thành phần trong kho tàng, các chi phí cần thiết cho việc sản xuất.

3) Hai bản đơn xin vay vốn nhu cầu tạm thời (theo mẫu số 1 trước) gửi đến Ngân hàng trước 3 ngày (kể từ ngày Ngân hàng nhận được).

Điều 32. – Thời hạn cho vay nhu cầu tạm thời nói chung không quá 66 ngày. Nếu gặp trường hợp đặc biệt nông trường chưa có điều kiện trả nợ, Trưởng chi nhánh Ngân hàng có thể gia hạn thêm 15 ngày (75 ngày). Cho vay về nhu cầu tạm thời trên 75 ngày phải do Ban Tổng giám đốc Ngân hàng quốc gia quyết định.

Điều 33. – Các chi nhánh ngân hàng khi cho vay về nhu cầu tạm thời phải căn cứ vào mức quy định chung về cho vay nhu cầu tạm thời đã phân phối, không được vượt quá mức đó.

Điều 34. – Ngân hàng cho các nông trường vay vốn về chi phí sửa chữa lớn trong những trường hợp số tiền khấu hao về tài sản cố định dành cho sửa chữa lớn trong những quý không đủ để làm việc ấy.

Điều 35. – Khi làm đơn gửi đến Ngân hàng xin vay vốn sửa chữa lớn nông trường phải gửi kèm theo bản kế hoạch khấu hao về sửa chữa lớn cả năm, bản kế hoạch các đối tượng phải sửa chữa, thời gian sửa chữa, giá trị sửa chữa (theo mẫu số 6 thể lệ cho vay công nghiệp quốc doanh) và các chứng từ về các đối tượng đã sửa chữa.

Điều 36. – Ngân hàng căn cứ vào kế hoạch khấu hao của từng quý khi số dự khấu hao trong quý vượt quá mức kế hoạch sửa chữa để ấn định thời hạn cho vay, nhưng nói chung thời hạn cho vay để sửa chữa lớn không được vượt quá phạm vi niên độ kế hoạch.

Điều 37. – Ngân hàng cho các nông trường quốc doanh vay thanh toán tùy theo các hình thức thanh toán để giải quyết nhu cầu vốn trong thanh toán không được Nhà nước cấp vốn luân chuyển riêng. Loại cho vay này theo thể lệ chung của Ngân hàng quốc gia Việt Nam về các hình thức thanh toán và cho vay thanh toán đối với khu vực quốc doanh và Hợp tác xã.

Chương III

Điều 38. – Nông trường quốc doanh căn cứ các kế hoạch trong năm có liên quan đến kế hoạch xin vay vốn để lập kế hoạch vay vốn hàng năm. Sau đó nông trường căn cứ kế hoạch hàng năm để lập kế hoạch vay từng quý. Các nông trường không lập kế hoạch hàng tháng. Ngân hàng sẽ căn cứ vào nhu cầu vốn chung của từng quý để định các lần cho vay cụ thể.

Điều 39. – Sở chủ quản nhận được kế hoạch vay vốn của các nông trường gửi đến, sẽ căn cứ vào nhu cầu của toàn bộ nông trường lập kế hoạch vay vốn tổng hợp của các nông trường. Sở sẽ gửi các kế hoạch tổng hợp (kế hoạch sản xuất, kế hoạch cung cấp vật tư, kế hoạch giá thành, kế hoạch thu chi tài vụ) đó đến Bộ Nông Lâm và Ngân hàng trung ương trước 20 ngày khi bất đầu vay (tính từ ngày Ngân hàng nhận được) Ngân hàng trung ương sẽ xét các kế hoạch đó và cùng với Bộ, Sở chủ quản định ra mức vốn cần cho vay của từng nông trường đối với từng loại. Sau đó Bộ, Sở chủ quản báo cáo kế hoạch cho vay đã xét duyệt cho từng nông trường biết, đồng thời Ngân hàng trung ương cũng báo cho các Chi nhánh Ngân hàng địa phương biết các kế hoạch định cho vay của từng nông trường.

Chương IV

Điều 40. – Ngân hàng kiểm tra sử dụng vốn cho vay tiến hành dưới hai hình thức:

1) Kiểm tra qua các báo cáo, chứng từ, bản cân đối.

2) Kiểm tra trực tiếp tận nơi sản xuất.

Điều 41. – Ngân hàng kiểm tra sử dụng vốn vay chủ yếu là kiểm tra đảm bảo của các khoản vay về dự trữ vật tư và chi phí sản xuất. Ngân hàng kiểm tra trước khi cho vay, và sau khi cho vay các loại chi phí cho đến khi nông trường trả hoàn toàn hết nợ.

Điều 42. – Ngân hàng tiến hành kiểm tra:

1) Trên cơ sở các tài liệu báo cáo nghiệp vụ về tình hình sản xuất, tình hình dự trữ vật tư của các nông trường gửi đến cho Ngân hàng hàng tháng.

2) Theo số liệu của bản cân đối hàng tháng, hàng quý và hàng năm.

3) Theo số liệu báo cáo kế toán, số liệu kho tăng của Nông trường.

Điều 43. – Ngân hàng căn cứ vào các tài liệu báo cáo trên để kiểm tra trực tiếp hoặc gián tiếp, phân tách tình hình. Nếu thấy số dư vật tư, hay số dư chi phí sản xuất (các sản phẩm đang sản xuất) ít hơn số tiền cho vay về đối tượng đó (nghĩa là thiếu vật tư đảm bảo) Ngân hàng sẽ thu hồi vốn về bằng cách trích ở tài khoản thanh toán của xí nghiệp. Nếu xí nghiệp thanh toán không có tiền sẽ chuyển sang tài khoản nợ quá hạn.

Chương V

Điều 44. – Các xí nghiệp vay tiền của Ngân hàng quốc gia đến hạn đã quy định phải trả lại số tiền đã vay cả vốn lẫn lãi. Nếu đến hạn xí nghiệp không trả, Ngân hàng sẽ chủ động thu hồi vốn về bằng cách trích từ tài khoản thanh toán để trừ vào khoản cho vay. Nếu cho vay sửa chữa lớn Ngân hàng sẽ trích tài khoản sửa chữa lớn, nếu trong tài khoản sửa chữa lớn không có tiền thì Ngân hàng sẽ trích tài khoản thanh toán để trừ nợ cho vay sửa chữa lớn. Nếu tài khoản thanh toán không có tiền để trả nợ Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ chuyển các khoản cho vay nói trên sang tài khoản "Nợ quá hạn" và áp dụng lợi suất gấp rưỡi đối với số tiền cho vay đó, trong thời gian quá hạn.

Điều 45. – Trong trường hợp nông trường không gửi kịp thời các tài liệu cần thiết, như bản kê vật tư, bản cân đối quyết toán, bản thu chi tài vụ thì Ngân hàng sẽ bảo chính thức và tạm thời đình chỉ cho vay thêm về tất cả các loại cho vay, cho đến khi nhận được các tài liệu nói trên thì mới tiếp tục cho vay.

Điều 46. – Rồi đây các nông trường sẽ phân cấp quản lý việc đảm bảo của chính quyền địa phương cho việc vay mượn giữa nông trường quốc doanh và Ngân hàng địa phương sẽ có thông tri hướng dẫn sau.

Điều 47. – Thể lệ này do Ngân hàng quốc gia Việt Nam dự thảo và được Thủ tướng Chính phủ duyệt y cho thi hành theo Quyết định số 433/TN ngày 28 tháng 01 năm 1958.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu67-VNVNT
Ngày ban hành30/01/1958
Loại văn bảnNghị định
Ngày có hiệu lực30/01/1958
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo05/03/1958
Cơ quan ban hành / Người kýNgân hàng quốc gia / Lê Viết Lượng
Phạm viTrung ương, Ngân hàng quốc gia
Trích yếuNăm 1958 về thể lể cho vay ngắn hạn đối với các nông trường quốc doanh, lâm khẩn quốc doanh và biện pháp cho vay ngắn hạn đối với hợp tác xã sản xuất nông nghiệp do Tổng giám đồc Ngân hàng Quốc gia ban hành.
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.