Quay lại

Nghị quyết 01/2001/NQ-HĐT về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2001

UBND TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
-------

Số: 01/2001/NQ-HĐT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 16 tháng 02 năm 2001

NGHỊ QUYẾT

Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2001

__________

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 21/6/1994;

Sau khi xem xét các báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh, của các ngành; báo cáo thẩm định của các Ban HĐND tỉnh; ý kiến đóng góp của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, của cử tri và ý kiến thảo luận của đại biểu tại kỳ họp.

QUYẾT NGHỊ:

A - Về tình hình kinh tế xã hội của tỉnh năm 2000;

Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí với báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2000.

Năm 2000, tỉnh ta tuy gặp một số khó khăn, thách thức trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, song với sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân, của chính quyền, các ngành, các cấp trong tỉnh, chúng ta đã hoàn thành các mục tiêu kinh tế-xã hội mà HĐND tỉnh đã quyết nghị tại kỳ họp thứ 2.

Kinh tế của tỉnh tiếp tục có bước phát triển tích cực. Phần lớn các chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế-xã hội đều đạt và vượt kế hoạch. Các lĩnh vực được ưu tiên đầu tư bước đầu có sự chuyển biến đúng hướng. Nguồn vốn đầu tư phát triển đã được tập trung cho một số công trình trọng điểm, việc thực hiện các chủ trương như kiên cố hóa kênh mương, làm đường giao thông nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng ở một số vùng còn khó khăn đạt hiệu quả kinh tế - xã hội. Kết cấu hạ tầng tiếp tục được cải thiện, năng lực sản xuất, kinh doanh tăng lên. Hoạt dộng sản xuất kinh doanh trong toàn xã hội sôi động hơn. Việc thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế, nhất là các giải pháp trực tiếp tác động vào sản xuất, kinh doanh, các giải pháp hỗ trợ kinh doanh đã phát huy tác dụng, tăng thêm được sản phẩm, hiệu quả kinh tế được nâng lên một bước. Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn vượt cao, hầu hết các chỉ tiêu thu ngân sách đều đạt và vượt dự toán đáp ứng phần lớn nhu cầu chi ngân sách phát sinh trong năm, tạo thế chủ động trong quản lý và điều hành ngân sách. Nhiều chỉ tiêu về văn hóa - xã hội đạt kết quả khá tốt như đưa bác sĩ về xã đạt 100%; giảm hộ nghèo, 85% hộ dân nông thôn được dùng điện, 70% dùng nước sạch; mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân được tăng lên một bước đáng kể; hệ thống thông tin liên lạc, đường giao thông, trạm y tế, trường học cơ bản đáp ứng và từng bước nâng cao chất lượng phục vụ. An ninh - quốc phòng được giữ vững, trật tự an toàn được bảo đảm, đã tạo được niềm tin phấn khởi trong nhân dân.

Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đã đạt được, kinh tế tỉnh nhà vẫn còn những hạn chế yếu kém cần khắc phục: Kinh tế phát triển nhưng chưa vững chắc, đầu tư phát triển còn những bất cập; vốn đầu tư xây dựng cơ bản, một số chương trình mục tiêu, vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước triển khai chậm, sản xuất nông nghiệp phát triển nhưng chưa gắn với thị trường, tiêu thụ nông sản phẩm còn nhiều khó khăn; xuất khẩu (trừ dầu thô) không đạt kế hoạch, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu vẫn là sản phẩm sơ chế, hàng gia công. Do phát triển thiếu bền vững nên thu ngân sách tuy vượt khá cao so dự toán nhưng chưa thực vững chắc. Việc sắp xếp và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước gặp nhiều vướng mắc, không đạt tiến độ đề ra. Việc thu hút các dự án đầu tư vào các khu công nghiệp còn quá chậm. Công tác giải quyết việc làm, đào tạo lao động có kỹ thuật còn nhiều hạn chế, phổ cập trung học cơ sở không đạt được mục tiêu đề ra; một số phường đến nay vẫn chưa có điểm vui chơi giải trí; đời sống của một bộ phận dân cư còn rất khó khăn. Số người nghiện ma túy, lây nhiễm HIV/AIDS tăng nhanh. Trật tự an toàn xã hội còn nhiều mặt đáng lo ngại, các loại tội phạm và tai nạn giao thông vẫn nghiêm trọng. Bộ máy hành chính còn cồng kềnh, kém hiệu lực; tiêu cực trong một bộ phận cán bộ công chức, chưa được ngăn chặn một cách có hiệu quả. Đơn thư khiếu nại tố cáo tồn đọng còn nhiều.

B- Về chỉ tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2001:

Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí với Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2001; và quyết nghị một số chỉ tiêu, nhiệm vụ giải pháp cụ thể:

B- Về chỉ tiêu, nhiệm v kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2001:


Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí với Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2001; và quyết nghị một số chỉ tiêu, nhiệm vụ giải pháp cụ thể:

I. Một sốchỉtiêu chủ yếu.

1. Chỉ tiêu về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng GDP kể cả dầu khí thô tăng 12,8% trở lên, trừ dầu khí thô tăng 14% trở lên.

- Giá trị sản xuất công nghiệp kể cả dầu khí thô tăng 12,3% trở lên, trừ dầu khí 11,5% trở lên.

- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 4,5% trở lên.

- Giá trị sản xuất ngư nghiệp tăng 6,7% trở lên.

- Doanh thu thương mại - dịch vụ tăng 13,5% trở lên, trong đó nội thương tăng 13,6% trở lên; dịch vụ tăng 13,3% trở lên, riêng dịch vụ du lịch tăng 9%.

- Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn 2.927 triệu USD, giá trị xuất khẩu trừ dầu khí 113 triệu USD.

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn 23.336,6 tỉ đồng. Trong đó thu từ dầu và khí thô 18.675 tỉ đồng; thu thuế xuất nhập khẩu 2.900 tỉ đồng; các nguồn thu còn lại 761,6 tỉ đồng.

- Tổng chi ngân sách địa phương 972,64 tỉ đồng, theo cơ cấu chi UBND tỉnh đã trình bày tại kỳ họp.

- Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn 8.975,6 tỉ đồng. Trong đó Trung ương đầu tư trên địa bàn 2.250 tỉ đồng; vốn ngân sách và các nguồn vốn qua ngân sách tỉnh 835,6 tỉ đồng; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khấu hao tài sản cố định của các doanh nghiệp Nhà nước địa phương 120 tỉ đồng; vốn đầu tư của dân và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh 450 tỉ đồng; đầu tư trực tiếp nước ngoài 5.320 tỉ đồng.

2. Chỉ tiêu vềxã hội:

- Giảm tỷ lệ sinh 0,5%o. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên khoảng 1,58%.

- Giải quyết việc làm cho 25.000 lao động, tạo việc làm mới khoảng 6.000 lao động, lao động qua đào tạo đạt 22%, xuất khẩu 500 lao động.

- Không để hộ đói phát sinh, giảm 2000 hộ nghèo (theo chuẩn nghèo mới của Bộ LĐTBXH).

- Huy động số cháu đi nhà trẻ 8%, vào mẫu giáo 49%, học sinh phổ thông các cấp tăng 3%.

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn 27%.

- Mức hưởng thụ văn hóa 18 lần/người/năm, tỷ lệ hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa khoảng 70%, tỷ lệ ấp văn hóa 40%.

- Tỷ lệ dân nông thôn được dùng điện 87%, được dùng nước sạch 75%.

- Xây dựng mới 1000 căn nhà tình thương.

II. Một sốnhiệm vụvà giải pháp chủyếu.

HĐND tỉnh tán thành với các nhiệm vụ, giải pháp lớn đã nêu trong báo cáo của UBND tỉnh, HĐND tỉnh nhấn mạnh một số vấn đề quan trọng sau;

1. Về kinh tế và ngân sách:

- Căn cứ vào Nghị quyết kỳ họp thứ 4 HĐND tỉnh về phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, UBND tỉnh phân công và giao cho các cấp, các ngành xây dựng chương trình tổ chức thực hiện cụ thể, sát với thực tế, phù hợp với hoạt động của mỗi cấp, mỗi ngành, phân công trách nhiệm rõ ràng, lịch trình hoàn tất từng nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể để phục vụ quá trình chỉ đạo điều hành và kiểm tra giám sát của cấp, ngành mình và cấp trên.

- Đẩy mạnh đầu tư, cải tiến và đổi mới công tác quản lý, để tiết kiệm và nâng cao hiệu quả đầu tư. Tập trung đầu tư hoàn thành dứt điểm những dự án quan trọng. Ưu tiên đầu tư có trọng điểm cho một số lĩnh vực như công nghiệp chế biến nông, thủy sản, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá, dịch vụ tiêu thụ nông, thủy sản, phát triển du lịch, xử lý rác. Tiếp tục tập trung đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn. Tăng cường đầu tư phát triển nguồn nhân lực, có chính sách đãi ngộ nhân tài; phát triển khoa học công nghệ và công nghệ thông tin; cho chương trình xóa đói giảm nghèo; cho các phường, xã còn nhiều khó khăn. Triển khai có hiệu quả hơn các hoạt động bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư.

- Tiếp tục cập nhật, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển, trên cơ sở đó chuẩn hóa lại kế hoạch xây dựng cơ bản năm 2001 và năm năm (2001-2005): Chủ động chuẩn bị các dự án. Các ngành, các cấp, nhất là HĐND và UBND xã, phường bằng các biện pháp thích hợp làm cho nhân dân thống nhất với việc xây dựng các công trình kinh tế, xã hội trên địa bàn ủng hộ việc giải tỏa di dời; tập trung giải quyết tốt hơn khâu đền bù, giải phóng mặt bằng. Tập trung vốn cho những công trình bức xúc, sớm phát huy hiệu quả. Thực hiện kế hoạch đầu tư XDCB theo nguyên tắc và dự kiến phân bổ như Kế hoạch của UBND tỉnh báo cáo tại kỳ họp. Giao Thường trực HĐND và UBND tỉnh trong điều hành định kỳ 3 tháng được điều chỉnh kế hoạch đầu tư và kế hoạch xây dựng cơ bản, để đảm bảo các công trình có đủ điều kiện được đầu tư đúng kế hoạch. Làm tốt việc chuẩn bị đầu tư và tổ chức đấu thầu. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện vốn đầu tư, tránh dồn vốn vào cuối năm, hoặc thi công công trình vào thời điểm, thời tiết không thích hợp. Tăng cường giám sát, quản lý chất lượng công trình. Nâng cao chất lượng các dự án, công tác thẩm định, kiểm tra và giám định dầu tư. Thành lập tổ chức Giám định đầu tư theo nội dung Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999 của Chính phủ v/v ban hành Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng.

- Tập trung nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế, quan tâm giải quyết việc tiêu thụ sản phẩm.

Trong công nghiệp và dịch vụ, cần tổ chức lại sản xuất, kinh doanh tập trung phát triển các mặt hàng sản phẩm, các lĩnh vực hoạt động có lợi thế, có điều kiện phát triển và có thị trường. Đầu tư chiều sâu công nghiệp địa phương, nhất là công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Tạo bước tiến rõ rệt về khả năng cạnh tranh trong từng loại sản phẩm, từng ngành hàng, từng doanh nghiệp, đáp ứng các điều kiện và lộ trình hội nhập AFTA. Tăng số doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn ISO, HACCP. Soát xét các quy định chế độ, chính sách, cách quản lý để tạo điều kiện thu hút đầu tư vào một số khu công nghiệp đã hoàn thành cơ sở hạ tầng; sắp xếp điểu chỉnh lại tổ chức quản lý của Ban quản lý khu công nghiệp theo tinh thần phân cấp của Chính phủ, tạo điều kiện để đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp.

Trong nông, lâm, ngư nghiệp, cần có các biện pháp hữu hiệu nhằm tổ chức sản xuất và cung ứng giống tốt, nhất là giống cây lâu năm, giống vật nuôi, giống thủy sản có năng suất, chất lượng cao phục vụ xuất khẩu; có biện pháp hỗ trợ sản xuất một số giống cây con tốt. Sơ kết việc trồng rừng, giao đất giao rừng các năm qua, để có biện pháp tổ chức, tạo chuyển biến rõ nét trong việc trồng rừng, giao rừng bảo vệ rừng và tạo cảnh quan trong thời gian tới. Tạo bước phát triển mạnh mẽ về nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá. Chú trọng ứng dụng các công nghệ sau thu hoạch, trước hết là công nghệ bảo quản nông, thủy sản; chế biến nông, hải sản xuất khẩu. Triển khai các chính sách mới của Nhà nước nhằm củng cố và đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại. Tăng cường tín dụng nông nghiệp, hỗ trợ phát triển các lĩnh vực như nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, phát triển kinh tế đồi vườn. Thực hiện tốt chức năng xúc tiến thương mại của Sở Thương mại.

- Xây dựng và triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ doanh nghiệp. Phát huy chức năng xúc tiến đầu tư của Sở Kế hoạch - Đầu tư. Công bố quy hoạch để thu hút đầu tư của doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Tổ chức thường xuyên các cuộc tiếp xúc giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý Nhà nước để xử lý kịp thời các vướng mắc. Đẩy mạnh việc xử lý nợ của các doanh nghiệp Nhà nước, xử lý các doanh nghiệp thua lỗ kéo dài. Sơ kết, làm rõ nguyên nhân làm chậm tiến độ sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Nhà nước. Thường xuyên theo dõi để xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp và sau cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước.

Nắm chắc tình hình hoạt động của các doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh. Tổ chức sơ kết 4 năm thực hiện Luật Hợp tác xã, đồng thời sơ kết tình hình tổ chức và hoạt động của kinh tế hợp tác nói chung. Tạo điều kiện để kinh tế hợp tác phát triển vững chắc. Tổ chức các cuộc tiếp xúc giữa các cơ quan chức năng với đại diện các hợp tác xã để có biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của các tổ chức này.

- Phấn đấu tăng thu, vượt thu để có nguồn bố trí tăng thêm chi cho đầu tư phát triển. Chi hỗ trợ vốn cho các DNNN (kể cả bổ sung vốn lưu động), chi sự nghiệp kinh tế ngoài việc tập trung cho một số lĩnh vực, ngành kinh tế mũi nhọn, cần chú ý chi cho khâu cải tạo và nhân giống cây, con, nhất là giống cây lâu năm và giống thủy sản. Tăng đầu tư cho chương trình xóa đói giảm nghèo, cho cải thiện kết cấu hạ tầng ở một số xã, phường còn khó khăn. Chú ý bố trí đủ cho các huyện phần vốn đối ứng để có thể bảo đảm việc xây dựng đường giao thông nòng thôn theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm. Rà soát để dự kiến hết các khoản chi như chi sự nghiệp y tế từ các loại phí do ngành thu, chi sự nghiệp giáo dục từ nguồn thu học phí, xây dựng cơ sở vật chất, viện trợ, chi khác từ nguồn thu phạt, tịch... Bố trí thỏa đáng chi trang bị phương tiện làm việc, nâng cấp chỗ làm việc của chính quyền, các địa phương, nhất là ở cơ sở.

Đối với chi quản lý hành chính, cần có biện pháp quản lý chặt chẽ trong tổ chức thực hiện để vừa đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ của bộ máy quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể, vừa đảm bảo tiết kiệm, chống lãng phí.

Tăng cường quản lý, kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp, vừa đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động lành mạnh, bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, vừa tăng thu cho ngân sách.

Nghiên cứu bố trí một khoản kinh phí trong dự toán năm 2001 để hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ xúc tiến thương mại, đồng thời có biện pháp khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc mở rộng, tìm kiếm thị trường mới để tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.

Đồng ý cho thực hiện cơ chế thưởng vượt thu năm 2000, 2001 cho ngân sách huyện, thị, thành như cơ chế Trung ương thưởng cho tỉnh đối với lĩnh vực thu ngoài quốc doanh nhằm khuyến khích tăng thu cho ngân sách.

2. Vềvăn hóa- xã hội:

- Tiếp tục thực hiện xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa-thông tin, thể dục-thể thao, coi đây là một biện pháp quan trọng để phát triển các ngành này. UBND tỉnh cần sớm có chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng, quy hoạch đất xây dựng trường học, bệnh viện, cơ sở thể dục thể thao; miễn giảm thuế và có chính sách ưu đãi phù nợp để thu hút các đối tác mạnh dạn bỏ vốn, chất xám, kinh nghiệm đầu tư vào các lĩnh vực này nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của xã hội.

- Tiếp tục phát triển các ngành học, bậc học, đa dạng loại hình giáo dục- đào tạo, có kế hoạch kiểm tra công nhận các trường đạt chuẩn Quốc gia. Tổ chức rút kinh nghiệm thực hiện phổ cập trung học cơ sở các năm qua để đẩy mạnh thực hiện trong thời gian tới. Phấn đấu để các xã có trường phổ thông trung học cơ sở để thực hiện phổ cập trung học cơ sở. Nâng cao chất lượng dạy và học, bố trí đủ cán bộ giáo viên, kinh phí và các chế độ khác để phát triển sự nghiệp giáo dục của tỉnh nhà. Phát huy tác dụng tích cực của Hội Khuyến học, Hội Tâm lý giáo dục.

- Tăng cường chất lượng phục vụ, nâng cao y đức của đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế, đầu tư trang thiết bị tiên tiến cho các cơ sở khám chữa bệnh nhất là bệnh viện Lê Lợi, bệnh viện Bà Rịa và Trung tâm chẩn đoán y khoa. Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho các trường dạy nghề; các thiết bị chuyên ngành văn hóa, thông tin, phát thanh truyền hình để tạo được chuyển biến mới về chất lượng các hoạt động. Triển khai xây dựng chương trình ứng dụng vì phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2001-2005.

- Tiếp tục thực hiện phong trào xây dựng khu phố, thôn ấp, gia đình văn hóa, chú trọng chất lượng hoạt động. Tổ chức bình xét và công nhận các danh hiệu theo đúng tiêu chuẩn quy định. Triển khai thực hiện xây dựng nếp sống văn minh trong các cơ quan, đơn vị. Tổ chức tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".

- Nạn nghiện hút ma tuý, mại dâm là một “đại nạn", gây tác hại rất xấu đến sự phát triển kinh tế, suy thoái đạo đức, ảnh hưởng trật tự an toàn xã hội; toàn tỉnh phải coi phòng chống tệ nạn xã hội là một trong những công tác trọng tâm. Gắn công tác phòng chống tệ nạn xã hội với cuộc vận động thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, thôn ấp, khu phố văn hóa. Thành lập tổ chuyên trách phòng chống tệ nạn xã hội của tỉnh. Tăng cường cơ sở vật chất, dụng cụ y tế, thiết bị dạy nghề tại cơ sở chữa bệnh cho đối tượng nghiện ma túy và người bị nhiễm HIV. Có chính sách đối với cán bộ làm công tác dự phòng, chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS.

- Tiếp tục thực hiện xóa đói giảm nghèo, phấn đấu thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Tăng cường đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, vay Ngân hàng Nhà nước và vận động các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, các nhà hảo tâm cùng góp sức vào nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo, cần xác định chuẩn nghèo mới của tỉnh phù hợp với thực trạng tình hình địa phương để xây dựng kế hoạch, xác định trọng tâm trọng điểm xóa đói giảm nghèo, đồng thời có kế hoạch hướng dẫn người nghèo sản xuất kinh doanh để tự xóa nghèo. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành cho người lao động đồng thời mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội góp phần ổn định đời sống người lao động, giữ vững tình hình trật tự, chính trị địa phương. Tiếp tục làm tốt các chính sách ưu đãi người có công, giúp đỡ đồng bào dân tộc ít người, tổ chức có hiệu quả các hoạt động cứu trợ xã hội.

3. Về an ninh quốc phòng và thực thi luật pháp:

- Giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia. Bảo đảm tuyệt đối an toàn cho các hoạt động chính trị, các lễ hội. Tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân, mạng lưới an ninh nhân dân. Không ngừng nâng cao cảnh giác phòng chống mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Thường xuyên chăm lo và củng cố lực lượng giữ gìn an ninh trật tự ở cơ sở.

- Phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân năm, chỉ tiêu huấn luyện quân dự bị. Thực hiện tốt chính sách đối với quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nhất là việc tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ văn hóa, học nghề và tạo việc làm để họ ổn định cuộc sống.

- Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, sắp xếp tổ chức và tinh giản biên chế theo tinh thần các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương. Cán bộ, công chức phải thực hiện tốt nghĩa vụ của công chức qua thực hiện Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Thực hiện việc công khai hóa trình tự thủ tục, thời gian giải quyết và các khoản phí, lệ phí trong giải quyết công việc của cơ quan, doanh nghiệp và nhân dân. Tập trung cải cách hành chính theo hướng giảm phiền hà cho dân và doanh nghiệp, tạo điều kiện thông thoáng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

- Rà soát lại toàn bộ các hoạt động dịch vụ pháp lý trên địa bàn toàn tỉnh. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật, nhất là ở các vùng nông thôn. Tăng cường trách nhiệm các ngành các cấp trong việc giải quyết khiếu kiện của công dân, việc thực thi các quyết định hành chính, và thi hành án. Tăng cường sự phối kết hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc thực thi pháp luật trên địa bàn.

C- Về tờ trình của UBND tỉnh xin chủ trương thực hiện dự án trung tâm hành chính tỉnh và đơn thôi làm nhiệm v của đi biểu Châu Văn Mẫn.


Hội đồng nhân dân tỉnh sau khi xem xét:


- Nhất trí với tờ trình số 474/UB-VP ngày 13-02-2001 về việc “xin chủ trương thực hiện Dự án xây dựng Trung tâm hành chính tỉnh" tại thị xã Bà Rịa. Giao UBND tỉnh có tờ trình gởi Chính phủ và tổ chức các công việc liên quan tiếp theo để cơ bản hoàn thành xây dựng. Trung tâm hành chính tỉnh trong giai đoạn 2001 - 2005.


- Đồng ý để ông Châu Văn Mẫn - đại biểu HĐND tỉnh, ủy viên UBND tỉnh được thôi làm nhiệm vụ đại biểu HĐND tỉnh và ủy viên UBND tỉnh để nhận nhiệm vụ mới.

D- Về quvết toán ngân sách Nhà nước năm 1999: và chuẩn chi kinh phí hot động của Đoàn đi biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh năm 2001.

1. Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí phê chuẩn quyết toán thu chi ngân sách địa phương năm 1999:

- Tổng thu ngân sách địa phương 711,198 tỷ đồng.

- Tổng chi ngân sách địa phương 050,621 tỷ đồng.

- Số kết dư ngân sách, địa phương 660,577 tỷ đồng.

2. Hội đồng nhân dân tỉnh phê chuẩn dự toán chi ngân sách hỗ trợ hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và kinh phí hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh năm 2001:

- Đoàn đại biểu Quốc hội: 80 triệu đồng.

- Hội đồng nhân dân tỉnh: 693,821 triệu đồng.

Giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện Nghị quyết này.

Thường trực HĐND tỉnh, các ban HĐND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội của tỉnh có trách nhiệm giám sát các ngành chức năng và tuyên truyền vận động cán bộ, nhân dân trong tỉnh thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trên.

Nghị quyết này đã được Hội đồng Nhân dân tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu khóa III Kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 16 tháng 02 năm 2001./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu01/2001/NQ-HĐT
Ngày ban hành16/02/2001
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực---
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND thành phố Hồ Chí Minh / Trần Văn Khánh
Phạm viBà Rịa - Vũng Tàu
Trích yếuVề phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2001
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.