|
HĐND TỈNH BẾN TRE Số: 01/NQ-HĐND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bến Tre, ngày 17 tháng 02 năm 1990 |
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1990
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Căn cứ Điều 115 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá 8, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 30/6/1989;
Sau khi nghe Uỷ ban nhân dân tỉnh báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1990;
Sau khi nghe thuyết trình của các Ban của HĐND tỉnh và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,
QUYẾT NGHỊ:
1. Tán thành báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 1989 và phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1990 với những nhiệm vụ, mục tiêu, chủ yếu sau đây:
- Phát huy những thành quả và kinh nghiệm đã đạt được qua 3 năm đổi mới, phấn đấu tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ hơn cho năm 1990 nhằm tiếp tục ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà mà trọng tâm là khắc phục các ách tắc trong tổ chức, chỉ đạo điều hành các hoạt động của sản xuất và lưu thông; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Tổ chức tốt hơn việc thu ngân sách và tiết kiệm chi để bảo đảm cân bằng thu chi ngân sách. Qua đó tạo điều kiện tiếp tục cải thiện một bước đời sống nhân dân.
- Đẩy mạnh sản xuất, nắm chắc các nguồn hàng chiến lược của tỉnh, gắn sản xuất với lưu thông hàng hóa tiền tệ. Tìm các biện pháp nhằm tận dụng và phát huy năng lực công nghiệp quốc doanh hiện có. Tạo điều kiện thuận lợi và hướng dẫn các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển đúng hướng, đúng pháp luật. Tập trung chỉ đạo, tổ chức các thành phần kinh tế để khai thác có hiệu quả thế mạnh kinh tế biển và kinh tế vườn, đặc biệt và thủy sản và dừa.
- Tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng có trọng điểm cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở tỉnh nhà. Hướng đầu tư tập trung chủ yếu vào việc xây dựng các cơ sở hạ tầng cho 3 chương trình kinh tế: Điện, giao thông, thủy lợi và các công trình phúc lợi văn hóa – xã hội phục vụ đời sống nhân dân. Đặc biệt, trong năm 1990, phấn đấu đưa lưới điện quốc gia về 3 huyện Cù lao Minh và Bình Đại, bảo đảm tiến độ thi công cầu Chẹt Sậy.
- Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh liên kết kinh doanh, tranh thủ sự chi viện của Trung ương và các tổ chức viện trợ nhân đạo quốc tế để phục vụ tốt hơn các mục tiên kinh tế xã hội, đời sống nhân dân tỉnh nhà.
- Tiếp tục giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai và những tồn đọng qua các lần cải tạo công thương nghiệp nhằm ổn định sản xuất, phát huy năng lực của các thành phần kinh tế.
- Tập trung giải quyết tranh chấp việc giựt hụi, giựt tiền vay, chiếm dụng vốn, xử lý nghiêm các vụ lớn.
- Giải quyết tốt hơn các chính sách xã hội, nhất là tạo việc làm cho người lao động, bộ đội xuất ngũ, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, khắc phục một bước có hiệu quả tình trạng xuống cấp của các ngành giáo dục, y tế, văn hóa. Tạo chuyển biến thực sự trên lĩnh vực bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội, làm giảm các tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội, chống lối sống tha hóa, tiêu cực, tham ô, hối lộ, tiếp tục mở rộng dân chủ trong kinh tế và trong tất cả các mặt sinh hoạt khác.
- Bảo đảm tốt quốc phòng an ninh.
- Tiếp tục kiện toàn tổ chức, tinh giảm biên chế để nâng cao hiệu lực quản lý điều hành của bộ máy nhà nước các cấp.
+ Phấn đấu đạt các chỉ tiêu chủ yếu (so với năm 1989):
- Tổng sản phẩm xã hội trong 6,9% thu nhập quốc dân sản xuất tăng 5,2%.
- Sản lượng lương thực khoảng 410.000 T (kể cả màu quy lúa).
- Giá trị sản lượng CN-TTCN tăng 27%.
- Kim ngạch xuất khẩu gấp hai lần.
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách nhà nước 9 tỷ đồng.
- Giảm tỷ lệ phát triển dân số 0,04%.
II. Để hoàn thành những nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu nêu trên, Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách và biện pháp lớn sau đây:
1. Về cơ cấu kinh tế: Cần tiếp tục ưu tiên vốn, vật tư để tập trung cho 3 chương trình kinh tế. Trong khi chủ trương cho các thành phần kinh tế tư nhân phát triển phải có những biện pháp mạnh mẽ, đồng bộ và thiết thực tháo gở các khó khăn vướng mắc cho kinh tế quốc doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động, khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, đồng thời tăng cường kinh tế tập thể. Phải làm cho kinh tế quốc doanh phát huy vai trò nồng cốt và nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả, về tổ chức quản lý; về trình độ công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, có khả năng tập hợp và thu hút các thành phần kinh tế khác làm vệ tinh để đưa họ vào quỹ đạo kinh tế XHCN. Mặt khác, phải tạo điều kiện thuận lợi và hướng dẫn cho kinh tế tư nhân phát triển đúng hướng, đúng pháp luật.
2. Về cơ cấu đầu tư: Phải khắc phục cho được tình trạng phân tán dàn đều, đầu tư kém hiệu quả, không phù hợp với khả năng của ngân sách. Trong năm 1990, cần tập trung đầu tư cho 3 chương trình kinh tế và khai thác các thế mạnh, tiềm năng kinh tế của tỉnh, trước mắt là đầu tư cho các cơ sở hạ tầng, hướng vào các lĩnh vực chủ yếu sau đây:
- Trong nông nghiệp, cần chú ý phát động nhân dân làm thủy lợi nội đồng, ngân sách nhà nước tập trung vốn đầu tư các công trình thủy lợi đầu mối phục vụ tưới tiêu, ngăn mặn; trong đó, ưu tiên đặc biệt cho khu vực Vàm Đồn và hệ thống Giồng Trôm- Ba Tri, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất (giống mới, thay đổi cơ cấu vụ mùa, nâng cao trình độ thâm canh) phấn đấu từng bước đưa nông nghiệp thành một ngành sản xuất hàng hóa. Phát triển đàn heo, có đầu tư thức ăn gia súc và thuốc trị bệnh cho heo. Chuẩn bị các điều kiện (giống, quy hoạch…) phục vụ sản xuất lúa xuất khẩu.
- Đối với kinh tế vườn, kinh tế biển, cần tập trung đầu tư cải tạo thâm canh vườn dừa cũ; nâng cao năng lực khai thác đánh bắt tôm cá biển, phát triển mạnh nghề nuôi tôm xuất khẩu, tổ chức tốt việc nuôi nghêu (chú ý bảo vệ rừng, bảo đảm cân bằng môi trường sinh thái ở rừng ngập mặn).
- Trong công nghiệp và TTCN, cần đầu tư một cách đồng bộ và có chiều sâu để đưa ngành công nghiệp tỉnh ta sớm thoát khỏi tình trạng yếu kém kéo dài nhiều năm nay. Hướng đầu tư chủ yếu là thay đổi thiết bị công nghệ đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra cho được những mặt hàng chủ lực có giá trị kinh tế cao từ nguyên liệu địa phương phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu trên cơ sở tổ chức nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước một cách chặt chẽ. Trước mắt, trên cơ sở điều tra nắm thực trạng các cơ sở công nghiệp của tỉnh cần có quy hoạch sắp xếp lại ngành công nghiệp chế biến và cơ khí cho phù hợp, từng ngành hình thành cho được một số xí nghiệp trọng điểm để từ đó dồn sức đầu tư tạo ra một số sản phẩm chủ lực có chất lượng cao. Xem xét và đề ra những giải pháp có hiệu quả để xử lý, phát huy năng lực số cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có. Có chính sách ưu tiên về vốn đối với các cơ sở kinh tế quốc doanh để nó vươn lên đóng vai trò chủ đạo.
- Về năng lượng, cần tập trung đầu tư để đảm bảo tiến độ thi công đường điện vượt sông Hàm Luông, đường điện An Hóa- Bình Đại, Mỏ Cày- Chợ Lách, Tân Thành- Tiên Thủy, Ba Tri- Tiệm Tôm… phấn đấu trong năm 1990 có điện quốc gia về khắp các huyện, đặc biệt ba huyện Cù lao Minh và Bình Đại. Có kế hoạch từng bước nâng cấp hệ thống mạng lưới điện đã có, quy hoạch đưa điện về các trung tâm tiểu vùng, cụm kinh tế- kỹ thuật nhằm phát huy hết hiệu quả của nguồn điện Trị An đưa về tỉnh. Cần chú ý điện về tới đâu phải tính toán quy hoạch mở ra các cơ sở sản xuất tới đó nhằm khai thác các thế mạnh kinh tế để giải quyết công ăn việc làm, từng bước nâng cao đời sống cho người lao động.
- Trên lĩnh vực xã hội, cần đảm bảo tỷ lệ đầu tư cho các ngành giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa thông tin. Để khắc phục một bước tình trạng xuống cấp của các ngành này. Có chính sách đầu tư hợp lý đối với chương trình nhà ở cho cán bộ công nhân viên, cho gia đình thương binh liệt sỹ (nhà tình nghĩa), các trường, trại xã hội, giải quyết việc làm, kế hoạch hóa dân số.
- Phương hướng giải quyết vốn đầu tư là phải khai thác và tạo vốn từ nhiều nguồn (vốn Trung ương đưa về, vốn tự có của địa phương, vốn nhân dân đóng góp, vốn viện trợ và vốn vay của nước ngoài…). Hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, khuyến khích kiều bào ở nước ngoài đưa vốn, thiết bị về để phát triển và mở rộng sản xuất. Đặc biệt, cần khuyến khích mạnh mẽ nhân dân trong tỉnh tự bỏ vốn ra để xây dựng nhà ở và phát triển các cơ sở sản xuất mới, mở mang ngành nghề ở nông thôn nhằm giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
3. Về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: Đây là khâu rất quan trọng nhằm đưa tình hình kinh tế tỉnh nhà thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, ổn định và nâng cao dần mức sống của nhân dân. Vì vậy, trong năm 1990 phải tiếp tục thực hiện cơ chế quản lý kinh tế theo hướng triệt để xóa bao cấp, chuyển mọi hoạt động kinh tế sang hạch toán kinh doanh XHCN. Theo hướng đó:
- Trong nông nghiệp, cần tiếp tục thực hiện và tổng kết thực tiễn về cơ chế khoán 10, thực hiện phương thức mua bán thỏa thuận với người nông dân, tiếp tục cho tự do lưu thông lương thực và khuyến khích nhân dân tự cân đối lương thực, tích cực giải quyết tranh chấp đất đai để nhân dân yên tâm phấn khởi sản xuất.
- Trong công nghiệp: tiếp tục mở rộng hơn nữa quyền tự chủ cho các xí nghiệp, giảm các chỉ tiêu pháp lệnh (chỉ giao một chỉ tiêu nộp ngân sách, hiện vật chủ yếu, then chốt của nền kinh tế tỉnh nhà). Các xí nghiệp tự chịu trách nhiệm về lời lỗ của mình. Gắn sản xuất với thị trường.
- Về phân phối lưu thông: tiếp tục thực hiện cơ chế một giá, chính sách tự do lưu thông hàng hóa, thương mại hóa vật tư. Vận dụng hợp lý các chính sách về thuế, tín dụng, tiền tệ, giá cả, tiền lương theo hướng xóa bao cấp, giao quyền tự chủ cho đơn vị. Thực hiện chế độ lương khoán trong sản xuất kinh doanh. Cần có phương án cụ thể để tiến hành việc khoán quỹ lương trong khu vực hành chính sự nghiệp. Khắc phục tình trạng bất công trong phân phối thu nhập hiện nay. Khuyến khích các đơn vị đi vào kinh doanh tổng hợp (kể cả tham gia xuất nhập khẩu) nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
4. Về chính sách xã hội: Ngoài tỷ lệ đầu tư của nhà nước, cần huy động đúng mức sự đóng góp của nhân dân để khắc phục tình trạng xuống cấp của 3 ngành giáo dục, y tế, văn hóa. Sắp xếp lại bộ máy giáo dục theo hướng gọn, nhẹ, có chất lượng. Thực hiện đa dạng hóa hình thức đào tạo, đào tạo theo hợp đồng là chính. Khuyến khích mở các trường dân lập, tư thục, dạy nghề, các cơ sở y tế tư đúng theo quy trình của nhà nước dưới sự quản lý chuyên môn của ngành chủ quản. Quan tâm tốt hơn đến đời sống của người ăn lương và các đối tượng chính sách. Khuyến khích các đơn vị hành chính sự nghiệp mở ra sản xuất tự túc để góp phần cải thiện đời sống. Xúc tiến nghiên cứu toàn diện để xây dựng đề án giải quyết việc làm cho người lao động trong năm 1990-1995.
5. Về an ninh quốc phòng: Phải tăng cường xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và lực lương dự bị động viên cho đủ mạnh đảm bảo yêu cầu phòng thủ và chiến đấu tại chỗ, kết hợp tốt hơn giữa kinh tế và quốc phòng. Hoàn thành tốt chỉ tiêu tuyển quân cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo đúng luật và công bằng xã hội. Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 135 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, phấn đấu làm giảm các tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội, lập lại trật tự kỷ cương nhà nước. Tổng kết phong trào quần chúng, bảo vệ an ninh tổ quốc trong những năm qua, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong lĩnh vực này..
6. Về tổ chức bộ máy và cán bộ: cần tiếp tục sắp xếp bộ máy ở các ban, ngành các cấp cho gọn nhẹ, có chất lượng. Thay đổi cách đánh giá và đề bạt cán bộ, đổi mới cơ chế tuyển chọn cán bộ, quan tâm hơn nữa đến công tác quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, chọn những cán bộ thực sự có lập trường cách mạng và có năng lực thực sự vào cương vị chủ chốt; giảm biên chế, bớt khâu trung gian để nâng cao hiệu lực của bộ máy. Thực hiện mở rộng dân chủ và công khai trên mọi lĩnh vực. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra làm trong sạch bộ máy nhà nước, xử lý kịp thời nghiêm minh những hành vi lợi dụng chức quyền trù dập quần chúng, tham ô, hối lộ, sách nhiễu nhân dân, lợi dụng đổi mới và dân chủ hóa để làm trái pháp luật, gây tác hại về kinh tế - xã hội.
Tình hình kinh tế xã hội của tỉnh ta hiện nay đang có những thuận lợi và chuyển biến tích cực nhưng cũng còn có nhiều mặt yếu kém và khó khăn lớn, đòi hỏi các ngành, các cấp và đồng bào tỉnh nhà phải có những nỗ lực mới.
Hội đồng nhân dân tỉnh giao Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết này.
Các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ giúp Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát chặt chẽ các cấp, các ngành nghiêm chỉnh thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch kinh tế - xã hội năm 1990 đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua.
Các Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ động viên các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân làm tròn nghĩa vụ trách nhiệm với nhà nước và thực hiện quyền giám sát nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Hội đồng nhân dân tỉnh kêu gọi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ trong tỉnh hãy phát huy cao độ tinh thần yêu nước, nhiệt tình sáng tạo trong lao động sản xuất, phấn đấu nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, triệt để tiết kiệm, kiên quyết đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong kinh tế xã hội, ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội năm 1990 lập thành tích thiết thực chào mừng những ngày lễ lớn của đất nước và của tỉnh nhà: Kỷ niệm 100 ngày sinh của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, 60 năm ngày thành lập Đảng, 45 năm ngày thành lập nước, 15 năm ngày giải phóng miền Nam và 30 năm ngày Bến Tre Đồng Khởi./.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá IV, kỳ họp thứ 2, thông qua ngày 17 tháng 2 năm 1990./.