Quay lại

Nghị quyết 03/1999/NQ-HĐT về nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 1999

HĐND TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
-------

Số: 03/1999/NQ-HĐT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 15 tháng 01 năm 1999

NGHỊ QUYẾT

Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 1999

________

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;

Sau khi xem xét báo cáo của Ủy ban Nhân dân, của các ngành; báo cáo thẩm định của các Ban, ý kiến thảo luận của đại biểu và ý kiến đóng góp của nhân dân.

QUYẾT NGHỊ:

I. VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 1998:

Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí với đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và ngân sách, được thể hiện trong các báo cáo mà Ủy ban Nhân dân tỉnh trình bày tại kỳ họp.

Bước vào thực hiện kế hoạch năm 1998, tỉnh ta phải đương đầu với hàng loạt những khó khăn thách thức. Hậu quả cơn bão số 5 vẫn còn khá nặng nề. Nắng nóng hạn hán kéo dài. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của tỉnh. Nguồn vốn từ quỹ đất đang bị ách tắc, các nguồn vốn ngân sách hạn chế làm cho một số công trình không thể triển khai được, hoặc phải ngừng thi công. Tuy nhiên, với sự nỗ lực quyết tâm của Đảng bộ, nhân dân và lãnh đạo, cán bộ các cấp các ngành trong tỉnh, sự hỗ trợ của Đảng, Chính phủ và các ngành của Trung ương, nhất là hoạt động điều hành của Ủy ban Nhân dân tỉnh, nhiệm-vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng năm 1998 của tỉnh đã được thực hiện và đạt kết quả khá. Kinh tế của tỉnh có tăng trưởng. Các chỉ tiêu tổng quát về kinh tế, các mục tiêu xã hội đạt kế hoạch. Cân đối được ngân sách. Các quy hoạch tổng thể đã cơ bản hoàn thành. GDP trên địa bàn, giá trị sản xuất công nghiệp, diện tích cây trồng tăng so với năm trước. Công tác khắc phục hậu quả cơn bão số 5 đạt kết quả khá. Đã khôi phục được năng lực đánh bắt hải sản của tỉnh với số tàu có công suất lớn ngày càng nhiều, có khả năng đánh bắt xa bờ. Mặc dù khó khăn về nguồn vốn, nhưng khối lượng XDCB đạt được khá. Nhiều công trình đã hoàn thành và đưa vào hoạt động, đạt được hiệu quả về kinh tế xã hội. Trong đầu tư có chú trọng phát triển kết cấu hạ tầng cho nông thôn. Trong chỉ đạo điều hành và tổ chức quản lý đầu tư XDCB có những đổi mới. Việc đầu tư theo địa bàn tiếp tục đạt kết quả đáng khích lệ. Doanh thu bưu điện tăng. Tỉnh đã cơ bản hoàn thành, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân. Bước đầu thực hiện có kết quả chủ trương xã hội hóa giáo dục, y tế và thể dục thể thao. Năm qua, đã có thêm một số trường dân lập khai giảng. Các xã trong tỉnh đều đã có tụ điểm sinh hoạt văn hóa thiếu nhi. 100% nhà của đồng bào dân tộc Châu Ro tại tỉnh đã được tôn hóa. Thực hiện tốt chế độ đối với cán bộ y tế, giáo dục ở các vùng sâu, vùng xa và hải đảo và các chính sách xã hội khác. Công tác cải cách thủ tục hành chính tại tỉnh có nhiều chuyển biến ở một số ngành, địa phương. Tỉnh đã có nhiều cố gắng trong giải quyết đơn thư khiếu tố của công dân. Giữ vững ổn định về chính trị, giữ gìn tốt trật tự an toàn xã hội. Thực hiện tốt các nhiệm vụ anh ninh quốc phòng. Phạm pháp hình sự giảm...

Tuy nhiên, năm qua tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng ở tỉnh còn nhiều mặt tồn tại và yếu kém. Cho đến nay, mặc dù nền kinh tế của tỉnh có bước phát triển, cơ cấu kinh tế của tỉnh từng bước hình thành và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, song sự đảm bảo nguồn thu từ sản xuất của tỉnh vẫn chưa ổn định. Kim ngạch xuất khẩu, doanh thu du lịch đạt thấp; chế biến hải sản vẫn chưa tương xứng với tiềm năng đánh bắt của tỉnh, đầu tư nước ngoài giảm mạnh; tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt thấp; việc phân loại và sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước, việc cổ phần hóa doanh nghiệp làm còn chậm. Công tác xã hội hóa một số lĩnh vực xã hội hóa chưa mở rộng đồng bộ. Một số tệ nạn xã hội chưa giảm, tệ hiếp dâm trẻ em, tệ nghiện ma túy trong thanh thiếu niên tăng rất đáng lo ngại... Đó là các vấn đề mà tỉnh cần tập trung giải quyết trong năm 1999.

II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 1999:

Hội đồng Nhân dân tỉnh đồng tình với các nhiệm vụ, chỉ tiêu chủ yếu và giải pháp phát triển một số ngành và lĩnh vực như báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh đã trình bày tại kỳ họp. Hội đồng nhân dân tỉnh nhấn mạnh các chỉ tiêu và các nhiệm vụ cụ thể cần phải tập trung thực hiện trong năm 1999, như sau:

A- Một số chỉ tiêu:


- Nhịp độ tăng trưởng GDP trên địa bàn kể cả dầu khí tăng 10% so với năm 1998, không kể dầu khí tăng 6%.


- Giá trị sản xuất công nghiệp kể cả dầu khí tăng 12%, không kể dầu khí tăng 9%.


- Giá trị các ngành dịch vụ tăng 6,7%. Trong đó, dịch vụ du lịch tăng 5%.


- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 11,7%, xuất khẩu từ dầu khí tăng 4,1%.


- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 4,5%, giá trị khai thác thủy sản tăng 5%.


- Trồng mới 1000 ha rừng.


- Tổng số vốn đầu tư trên địa bàn khoảng 2.392 tỷ đồng, trong đó các nguồn vốn đầu tư qua ngân sách 227 tỷ đồng.


- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 12.703,7 tỷ đồng, bằng 108,5% so với năm 1998; Tổng thu không kể dầu và thuế xuất nhập khẩu là 871 tỷ đồng; trong đó ngân sách địa phương được hưởng 402,377 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách địa phương 402,377 tỷ đồng. (Địa phương dự kiến phấn đấu thu nội địa không kể dầu khí và thuế hải quan là 1.041 tỷ đồng để thỏa mãn nhu cầu chi là 642.242 tỷ đồng).


- Giải quyết việc làm cho 8.000 lao động.


- Huy động 8,8% số cháu trong độ tuổi vào nhà trẻ, 45% số cháu trong độ tuổi vào mẫu giáo, số học sinh phổ thông tăng 8,6%.


- Giảm tỷ lệ sinh 0,8-0,9%o, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,87%.


- Đưa thêm 6 bác sĩ về xã, thực hiện chế độ luân phiên bác sĩ ở tuyến tỉnh, huyện xuống cơ sở.


- Phấn đấu có 60% hộ gia đình và 15% ấp đạt tiêu chuẩn văn hóa. Xây dựng Trung tâm văn hóa tỉnh. Từ nay đến năm 2000, phấn đấu mỗi huyện có 1 trung tâm văn hóa cấp huyện. Huyện Côn Đảo là huyện văn hóa đầu tiên của tỉnh. Năm 1999, nâng cấp 30% tụ điểm sinh hoạt văn hóa thiếu nhi thành "Nhà văn hóa của xã".


- 80% hộ dân được dùng điện sinh hoạt, 65% hộ dân được sử dụng nước sạch, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10%.


- Xây dựng mới 50 căn nhà tình nghĩa bằng vốn vận động, tiếp tục chăm lo nuôi dưỡng các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.


- Tiếp tục thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc ít người tại tỉnh.


- Đầu tư hạ tầng kỹ thuật 2 khu đất để bán cho những đối tượng có thu nhập thấp xây nhà, từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước.

B- Một số nhiệm vụ cụ thể:

1. Kinh tế - ngân sách:

a- Về thu chi ngân sách và đầu tư XDCB:

- Tăng cường quản lý thu, chống thất thu, hoàn thành kế hoạch thu. Đảm bảo cân đối thu chi, có tích lũy trên cơ sở thu đúng, có hiệu quả và tiết kiệm.

- Ngành thuế, hải quan chú ý khai thác tốt các khoản thu có liên quan đến thu ngân sách địa phương, nhất là các khoản thu có cơ chế thưởng của Trung ương như: thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu và thuế tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước.

- Tổ chức thực hiện tốt các luật thuế mới, nhất là Luật thuế giá trị gia tăng. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng tư vấn thuế ở xã phường và công bố mức thuế đến từng hộ kinh doanh một cách công khai cho dân biết để mọi người có điều kiện giám sát sự công bằng trong thu thuế.

- Quản lý chặt chẽ các nguồn thu. Mọi khoản thuế, phí, thu sự nghiệp đều phải được phản ánh 100% vào ngân sách Nhà nước, trừ các khoản chi được để lại theo quy định. Các ngành, các địa phương phải xem công tác thu nộp ngân sách là một công tác hàng đầu.

- Hoàn chỉnh bộ máy và đảm bảo trình độ nghiệp vụ cho cán bộ phụ trách ngân sách ở xã phường.

- Thực hiện việc đấu thầu công khai vệ sinh đô thị và thu hoa chi ở các chợ trên địa bàn.

- Thực hiện tiết kiệm trong đầu tư xây dựng cơ bản. Coi trọng việc kiểm tra, giám sát bảo đảm chất lượng công trình. Quản lý chặt chẽ các nguồn vốn huy động sự đóng góp của các tổ chức và nhân dân; có kiểm tra, kiểm soát và công khai theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện đúng các định mức, tiêu chuẩn chi hành chính, công tác phí, hội nghị phí, trang bị điện thoại, fax...

- Tập trung đầu tư cho huyện Tân Thành, Xuyên Mộc, Côn Đảo và xã Long Sơn. Đối với thành phố Vũng Tàu, quan tâm nâng cấp đường nội thị và hệ thống thoát nước mưa, xử lý nước thải.

b- Về kinh tế:

- Tiểu thủ công nghiệp phải tập trung vào phục vụ sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Hoàn tất việc thực hiện đề án đưa điện về nông thôn. Xây dựng khu công nghiệp khí thấp áp để sử dụng nguồn khí sẵn có của địa phương. Từng bước hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng ở hai khu công nghiệp Đông Xuyên và Mỹ Xuân A. Chuẩn bị việc cung cấp điện nước cho khu công nghiệp Phú Mỹ I và các cảng dọc sông Thị vải. Nghiên cứu để sớm có quy hoạch Khu công nghiệp địa phương ở thành phố Vũng Tàu và huyện Tân Thành.

- Tiếp tục hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng ở nông thôn và đô thị bằng nguồn vốn từ quỹ đất và nguồn do dân đóng góp. Khẩn trương hoàn chỉnh dự án Trung tâm hành chính tỉnh trình Chính phủ phê duyệt và có kế hoạch triển khai thực hiện.

- Phát triển thương mại dịch vụ theo hướng phục vụ sản xuất. Tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo ra những sản phẩm, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng tại những thị trường quen thuộc và những thị trường mới. Tập trung xây dựng các đơn vị mạnh trong lĩnh vực dịch vụ dầu khí để tăng sức cạnh tranh, thu hút khách hàng trên cơ sở chất lượng phục vụ và giá cả thanh toán. Xây dựng các doanh nghiệp đủ mạnh để khai thác tốt các dịch vụ hàng hải, cảng biển, tàu biển. Khuyến khích các thành phần kinh tế xây dựng và thành lập một số chợ khang trang, giải quyết dứt điểm việc buôn bán lộn xộn gây ô nhiễm môi trường và làm mất mỹ quan đô thị.

- Tập trung củng cố ngành du lịch. Chú trọng phát triển các dịch vụ du lịch biển, tập trung đầu tư vốn cho khu du lịch Bãi Sau, khu công viên du lịch dịch vụ Bãi Trước, dự án cáp treo Núi lớn - Núi nhỏ, nâng cấp khu du lịch suối nước nóng Bình Châu. Phát triển mạnh loại hình du lịch lữ hành.

- Trong nông nghiệp, phát huy kết quả của hoạt động khuyến nông trong năm vừa qua, đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ khoa học - kỹ thuật, đảm bảo công tác thủy lợi. Hướng dẫn nông dân lựa chọn để phát triển nuôi trồng các giống cây con có giá trị kinh tế cao và tạo ra sản phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Hình thành Trại heo giống quy mô nhỏ để thí điểm. Xây dựng nhà máy chế biến khoai mì ở huyện Châu Đức. Xây dựng hồ Châu Pha. Tích cực đề nghị Trung ương triển khai xây dựng hồ Đá Đen.

- Trong năm 1999, phải sử dụng tốt nguồn vốn Nhà nước giao trồng rừng. Hoàn thành các chương trình trồng mới rừng. Bổ sung lực lượng và kinh phí cho việc phòng chống cháy rừng.

- Ngành hải sản, một mặt phải tiếp tục tăng phương tiện đánh bắt xa bờ. Tập trung xây dựng một cơ sở chế biến hải sản có công nghệ tiên tiến, đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế, có khả năng thu mua hải sản và cạnh tranh trên thương trường. Giải quyết cho các hộ nuôi trồng hải sản, làm muối được thuê đất và vay vốn sản xuất. Có cơ chế chính sách khuyến khích việc nuôi tôm giống và tôm thịt theo hướng tạo hàng xuất khẩu. Đẩy nhanh việc triển khai xây dựng cảng cá Lộc An.

- Sớm nghiên cứu và công bố cơ chế chính sách ưu đãi thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài trên địa bàn tỉnh, cụ thể từng ngành, từng khu vực kèm theo một số danh mục cần ưu tiên và mời gọi các nhà đầu tư lựa chọn. Rà soát những vướng mắc hiện tại để tháo gỡ những khó khăn nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đã có giấy phép hoạt động thuận lợi.

- Triển khai thực hiện đề án sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước được phê duyệt. Tổ chức đánh giá năng lực thực tế của các doanh nghiệp Nhà nước để đẩy nhanh tiến độ sắp xếp lại các doanh nghiệp. Cần giải quyết dứt điểm đối với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài, hiện không có khả năng khắc phục. Thực hiện xong 02 doanh nghiệp thí điểm cổ phần hóa trong quý I, đồng thời triển khai hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa được duyệt.

- Tổ chức sơ kết hoạt động của các loại hình hợp tác xã tập đoàn sản xuất, nhóm vần công, tổ hợp tác sản xuất, hợp tác xã tín dụng, kinh tế hộ, kinh tế tiểu thủ, kinh tế trang trại gia đình, trang trại lớn nếu có để nhân rộng các phương thức, loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh này.

- Tăng cường công tác phòng ngừa và đấu tranh chống các hành vi đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế và tiêu thụ hàng giả, hàng kém phẩm chất.

2- Về văn hóa - xã hội:

- Đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác giáo dục, y tế, thông tin - văn hóa, thể dục thể thao tại tỉnh.

- Tập trung nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường, kể cả các trường chuyên nghiệp và dạy nghề. Có biện pháp hữu hiệu để chấm dứt việc dạy thêm và học thêm tràn lan. Đẩy nhanh tiến độ phổ cập trung học cơ sở tại thành phố Vũng Tàu và thị xã Bà rịa. Thực hiện việc chuyển một số trường công lập ở các trung tâm đô thị tại tỉnh thành trường bán công. Vận động nhân dân tham gia xây dựng thêm 1-2 trường PTTH dân lập. Sớm xây dựng trường Dạy nghề của tỉnh. Xây dựng ký túc xá cho sinh viên của tỉnh tại thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nâng Trường Trung học Sư phạm thành Trường Cao đẳng Sư phạm của tỉnh.

- Chú trọng công tác khoa học công nghệ và môi trường. Hướng các hoạt động này vào phục vụ sản xuất và đời sống của địa phương có hiệu quả cao hơn.

- Làm tốt công tác đối ngoại. Chú ý hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân nhằm mục đích hợp tác giao lưu về văn hóa - xã hội với các nước và tranh thủ các nguồn tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ.

- Tiếp tục thực hiện việc kết hợp hoạt động phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư" với phong trào "Xây dựng đời sống văn hóa". Tập trung sức xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh; đẩy mạnh hoạt động bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan. Sớm xây dựng, thực hiện thí điểm và nhân ra diện rộng mô hình tổ chức lễ cưới, lễ tang và lễ hội văn minh, tiết kiệm, theo Chỉ thị 27 của Bộ Chính trị.

- Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về y tế và phòng chống dịch bệnh. Chú trọng việc nâng cao y đức và chất lượng khám chữa bệnh của các thầy thuốc. Có biện pháp khắc phục tình trạng "phân biệt đối xử" giữa các bệnh nhân nộp viện phí và bệnh nhân có bảo hiểm y tế. Phát triển mạnh hơn nữa ngành y học cổ truyền. Xúc tiến nhanh việc xây dựng Trung tâm chẩn đoán y khoa tại Bà Rịa.

- Thực hiện tốt các chính sách xã hội. Hình thành Trung tâm nuôi dạy người mù và trẻ tâm thần tại huyện Tân Thành; thành lập Trung tâm nuôi dưỡng người già cô đơn ở huyện Long Đất; củng cố tổ chức và hoạt động của Trại xã hội tỉnh.

- Tổ chức tốt cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở.

3- Về An ninh - Quốc phòng và thực thi luật pháp:

- Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục, phòng ngừa làm thất bại âm mưu "Diễn biến hòa bình" của địch. Hoàn thành tốt kế hoạch tuyển quân năm 1999. Kết hợp, thực hiện tốt phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc với các đợt cao điểm phòng chống tội phạm. Nâng cao chất lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên.

- Tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết của Chính phủ về Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và chương trình hoạt động của Chính phủ về phòng chống ma túy đến năm 2000.

- Chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện "Quy chế dân chủ" ở cơ sở xã phường thị trấn và các cơ quan hành chính sự nghiệp. Sơ kết chỉ đạo điểm để rút kinh nghiệm và nhân ra diện rộng về công tác này. Tiếp tục triển khai thực hiện Pháp lệnh phòng chống tham nhũng, Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

- Tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhà trường, gia đình xã hội, nhất là ở vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và đề ra những biện pháp tích cực, kể cả tổ chức hội nghị chuyên đề để bàn cách giải quyết, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong việc đẩy lùi tệ nạn ma túy, lây nhiễm HIV-AIDS và tệ mại dâm.

- Tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm đối với công tác đền bù giải tỏa, đề ra những phương pháp hữu hiệu và tích cực trong thời gian tới, không để xảy ra tình trạng nhân dân tập trung khiếu kiện đông người tại các cơ quan đầu não của tỉnh.

- Thường xuyên kiện toàn bộ máy hoạt động của các cơ quan tư pháp. Quan tâm việc tuyển chọn bổ sung đội ngũ thẩm phán có phẩm chất và năng lực cho Tòa án Nhân dân các cấp trong tỉnh. Chuẩn bị tốt việc bầu Hội thẩm Nhân dân nhiệm kỳ tới.

- Đẩy mạnh hơn nữa công tác cải cách thủ tục hành chính tại tỉnh. Chú ý cải cách thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp cỏ vốn đầu tư nước ngoài, sao cho nhanh chóng và chính xác; không được bỏ lỡ cơ hội thu hút vốn đầu tư chỉ vì do thủ tục chậm trễ của các đơn vị có trách nhiệm. Tổ chức lấy ý kiến nhân dân về kết quả đã thực hiện trong thời gian qua để làm cơ sở cho bước tiếp theo. Thực hiện tốt Pháp lệnh cán bộ công chức, tập trung hướng dẫn soát xét lại quy chế làm việc của các cơ quan QLNN các cấp trong tỉnh. Tổ chức khen thưởng kịp thời những đơn vị, cá nhân hoạt động tốt. Có hình thức kỷ luật đúng mức đối với những công chức sai phạm trong chuyên môn.

- Thực hiện tốt công tác bầu cử Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ tới, từ việc bố trí sắp xếp cán bộ làm công tác chuyên trách Hội đồng nhân dân, thực hiện công tác bầu cử, đến việc hoàn thiện bộ máy Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân ngay từ đầu nhiệm kỳ.

III. VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH NĂM 1998 VÀ NHIỆM VỤ NĂM 1999:

Nhất trí với việc đánh giá tình hình hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh năm 1998 và những công tác chủ yếu năm 1999, như báo cáo do Thường trực Hội đồng Nhân dân tỉnh trình bày tại kỳ họp.

Hội đồng Nhân dân tỉnh lưu ý các cơ quan chức năng làm tốt công tác tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1994-1999.

IV. CÁC VẤN ĐỀ KHÁC:

1. Nhất trí thông qua quyết toán ngân sách của tỉnh năm 1997 theo Thông báo số 5205 TC/NSNN ngày 07 tháng 12 năm 1998 của Bộ Tài chính. Cụ thể:

a- Tổng số thu NSĐP: 824.525.317.122 đồng.

Bao gồm:

- Thu NSĐP được hưởng: 775.746.115.599 đồng.

- Thu bổ sung từ NSTW: 48.778.20523 đồng.

b- Tổng số chi NSĐP: 610.054.832.196 đồng.

c- Kết dư NSĐP: 214.469.484.926 đồng.

2. Hội đồng nhân dân tỉnh ghi nhận và hoan nghênh Ủy ban Nhân dân tỉnh về những kết quả đã đạt được trong việc thực hiện chủ trương của Hội đồng Nhân tỉnh khóa I đối với việc sử dụng quỹ đất tạo vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội của tỉnh từ năm 1993 đến nay, thể hiện trong Báo cáo số 52/BC.UB ngày 31 tháng 12 năm 1998, được trình bày tại kỳ họp. Thời gian tới, Ủy ban Nhân dân tỉnh cần thực hiện tốt hơn nữa chủ trương này đúng theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 1078/QĐ.TTG.

3. Hội đồng Nhân dân tỉnh nhất trí chia tách 3 xã Tam An, Phước Tỉnh và Phước Long Hội huyện Long Đất và 2 xã Xuân Sơn và Bình Giã thuộc huyện Châu Đức như Tờ trình số 97/TT.UB của Ủy ban Nhân dân tỉnh.

4. Nhất trí bổ sung số lượng và mức hoạt động phí cho Phó Chủ tịch UBMTTQ và các đoàn thể quần chúng ở các xã, phường, thị trấn trong tỉnh như Tờ trình số 98/TT.UB của Ủy ban Nhân dân tỉnh.

5. Nhất trí chủ trương bổ sung cán bộ Chính quyền, công an, quân sự và mức trợ cấp kinh phí hoạt động cho khu phố, thôn ấp, tổ dân phố và tổ dân cư như Tờ trình số 99/TT.UB của Ủy ban Nhân dân tỉnh trình bày tại kỳ họp.

6. Nhất trí việc điều chỉnh mức trợ cấp khó khăn đối với cán bộ chủ chốt ở xã, phường, thị trấn trong tỉnh như Tờ trình số 100/TT.UB của Ủy ban Nhân dân tỉnh trình bày tại kỳ họp.

7. Nhất trí với chủ trương huy động nhân dân đóng góp làm đường giao thông nông thôn như Tờ trình số 69/TT.TCVG của Ủy ban Nhân dân tỉnh.

Ủy ban Nhân dân tỉnh chỉnh lại mức trợ cấp kinh phí hoạt động cho khu phố, thôn ấp, tổ dân phố và tổ dân cư (Tờ trình số 99/TT.UB) mức trợ cấp khó khăn đối với cán bộ chủ chốt ở xã phường thị trấn (Tờ trình số 100ATT.UB) và tỷ lệ đóng góp của tỉnh, huyện và nhân dân trong việc đóng góp làm đường giao thông nông thôn (Tờ trình số 69/TT.TCVG) như kết quả biểu quyết của đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh tại kỳ họp này.

8. Tán thành chủ trương về ưu đãi trong đấu thầu xây dựng cơ bản như Tờ trình số 106/TT.UB của Ủy ban Nhân dân tỉnh. Đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh có văn bản báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Chính phủ về vấn đề này.

V. Giao cho Ủy ban Nhân dân tỉnh hoàn chỉnh các văn bản đã trình tại kỳ họp để ban hành và tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết kỳ họp.

Nghị quyết này đã được Kỳ họp thứ 10 - Hội đồng Nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khóa II, thông qua ngày 15 tháng 01 năm 1999.


Tổng quan văn bản

Số ký hiệu03/1999/NQ-HĐT
Ngày ban hành15/01/1999
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực---
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND thành phố Hồ Chí Minh / Trần Văn Khánh
Phạm viBà Rịa - Vũng Tàu
Trích yếuVề nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 1999
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.