|
HĐND TỈNH QUẢNG BÌNH Số: 05/NQ-HĐND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Quảng Bình, ngày 28 tháng 01 năm 2000 |
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
KHOÁ XIV, KỲ HỌP THỨ HAI
(Từ ngày 26/01 đến 28/01/2000)
NGHỊ QUYẾT
Về phương hướng nhiệm vụ năm 2000
______________
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 21/6/1994;
- Trên cơ sở xem xét báo cáo của Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh và các cơ quan hữu quan; nghe thuyết trình của các Ban HĐND tỉnh và ý kiến của các đại biểu HĐND tỉnh;
QUYẾT NGHỊ
Tán thành báo cáo của Thường trực HĐND tỉnh về phương hướng công tác HĐND tỉnh năm 2000, báo cáo của UBND tỉnh về đánh giá thực hiện nhiệm vụ năm 1999, phương hướng, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội - an ninh - quốc phòng, thu chi ngân sách của tỉnh năm 2000; báo cáo của Toà án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh và các cơ quan hữu quan. HĐND tỉnh nhấn mạnh thêm một số vấn đề sau:
A- ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NĂM 1999:
Năm 1999, mặc dù trong bối cảnh tỉnh ta có nhiều khó khăn thử thách, hậu quả hạn hán nghiêm trọng năm 1998 chưa khắc phục xong, tiếp theo lũ lụt kéo dài cuối năm 1999 gây thiệt hại lớn, nhưng với sự nỗ lực cao của toàn Đảng bộ, toàn quân và dân, chúng ta đã phấn đấu đạt và vượt hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của HĐND tỉnh đề ra. Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng 8,5%. Giá trị sản xuất nông nghiệp sản phẩm trong tỉnh tăng 15%, sản lượng thực hiện trên 20,1 vạn tấn. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 36%. Kim ngạch xuất khẩu 14,8 triệu USD, vượt 13,8% kế hoạch. Thu ngân sách nội địa vượt dự toán Trung ương và HĐND tỉnh giao. Nhiều chương trình dự án được triển khai có kết quả, giải quyết việc làm trên 14,5 vạn người, giảm được 4,52% số hộ nghèo. Tỷ suất sinh giảm 1,86%o. Đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện. Văn hoá - xã hội tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Quốc phòng an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, chính trị ổn định. Cuộc bầu cử HĐND các cấp hoàn thành thắng lợi, với tỷ lệ cử tri bỏ phiếu cao. HĐND và UBND các cấp được kiện toàn củng cố và tăng cường chất lượng.
Tuy nhiên, tỉnh ta vẫn còn nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng nguồn lực hiện có, chất lượng, hiệu quả còn thấp. Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, thu chi ngân sách còn mất cân đối lớn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chuyển biến chậm. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước còn khó khăn, tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh còn nhiều yếu kém. Tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn phát triển chậm. Một số dự án đầu tư chưa khai thác hết công suất, sản phẩm tồn đọng lớn, kém sức cạnh tranh. Thị trường nội địa sức mua giảm, kém sôi động. Việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp và chuyển đổi HTX còn lúng túng. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu và thiếu đồng bộ. Nội lực chưa được phát huy đầy đủ. Văn hoá - xã hội còn có những vấn đề bức xúc, lao động thiếu việc làm nhiều, tỷ lệ đói nghèo còn cao. Năng lực điều hành quản lý của chính quyền các cấp thiếu đồng bộ, hiệu lực chưa cao. Đó là những vấn đề cần sớm khắc phục để đạt được kết quả cao hơn trong năm 2000.
B- PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2000:
A- ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NĂM 1999:
Năm 1999, mặc dù trong bối cảnh tỉnh ta có nhiều khó khăn thử thách, hậu quả hạn hán nghiêm trọng năm 1998 chưa khắc phục xong, tiếp theo lũ lụt kéo dài cuối năm 1999 gây thiệt hại lớn, nhưng với sự nỗ lực cao của toàn Đảng bộ, toàn quân và dân, chúng ta đã phấn đấu đạt và vượt hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của HĐND tỉnh đề ra. Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng 8,5%. Giá trị sản xuất nông nghiệp sản phẩm trong tỉnh tăng 15%, sản lượng thực hiện trên 20,1 vạn tấn. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 36%. Kim ngạch xuất khẩu 14,8 triệu USD, vượt 13,8% kế hoạch. Thu ngân sách nội địa vượt dự toán Trung ương và HĐND tỉnh giao. Nhiều chương trình dự án được triển khai có kết quả, giải quyết việc làm trên 14,5 vạn người, giảm được 4,52% số hộ nghèo. Tỷ suất sinh giảm 1,86%o. Đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện. Văn hoá - xã hội tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Quốc phòng an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, chính trị ổn định. Cuộc bầu cử HĐND các cấp hoàn thành thắng lợi, với tỷ lệ cử tri bỏ phiếu cao. HĐND và UBND các cấp được kiện toàn củng cố và tăng cường chất lượng.
Tuy nhiên, tỉnh ta vẫn còn nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng nguồn lực hiện có, chất lượng, hiệu quả còn thấp. Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, thu chi ngân sách còn mất cân đối lớn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chuyển biến chậm. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước còn khó khăn, tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh còn nhiều yếu kém. Tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn phát triển chậm. Một số dự án đầu tư chưa khai thác hết công suất, sản phẩm tồn đọng lớn, kém sức cạnh tranh. Thị trường nội địa sức mua giảm, kém sôi động. Việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp và chuyển đổi HTX còn lúng túng. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu và thiếu đồng bộ. Nội lực chưa được phát huy đầy đủ. Văn hoá - xã hội còn có những vấn đề bức xúc, lao động thiếu việc làm nhiều, tỷ lệ đói nghèo còn cao. Năng lực điều hành quản lý của chính quyền các cấp thiếu đồng bộ, hiệu lực chưa cao. Đó là những vấn đề cần sớm khắc phục để đạt được kết quả cao hơn trong năm 2000.
B- PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2000:
I- PHƯƠNG HƯỚNG NĂM 2000:
- Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 1996-2000. Phát huy mọi nguồn lực, tập trung phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Tiếp tục đầu tư chiều sâu, đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả sản xuất công nghiệp. Triển khai tốt các dự án đầu tư mới, kết hợp sắp xếp đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước, tháo gỡ khó khăn vướng mắc, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Thực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu tư, củng cố tổ chức sản xuất, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tích cực huy động các nguồn thu, thực hiện tốt Luật Ngân sách Nhà nước và các Luật thuế mới. Chú trong khai thác và mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu và kinh tế đối ngoại.
- Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động văn hoá - xã hội, sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách Nhà nước kết hợp thực hiện xã hội hoá. Đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc. Thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội miền núi, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị xã hội, củng cố vững chắc quốc phòng an ninh. Nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp. Đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu và những tiêu cực khác.
II- CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU:
- Giá trị tổng sản phẩm tăng 7,5% - 8%;
- Giá trị sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp tăng 3,4%;
- Sản xuất lương thực đạt 20-20,5 vạn tấn;
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 20,5%;
- Giá trị các ngành dịch vụ tăng 10%;
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 15 đến 16 triệu USD;
- Tổng thu ngân sách nội địa đạt 134 tỷ đồng;
- Giải quyết việc làm cho 1,5 đến 1,6 vạn lao động;
- Giảm hộ đói nghèo 6% đến 8%;
- Giảm tỷ suất sinh 1,2%o;
- Tỷ lệ dân cư được phủ sóng truyền hình đạt 85%.
III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHÍNH:
1. Phát triển nông-lâm-ngư nghiệp và kinh tế nông thôn:
- Tập trung sản xuất nông nghiệp, diện tích thâm canh cao sản 16.000 ha lúa. Phát triển mạnh cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả. Tăng năng suất lúa, màu, lạc, mía… Phấn đấu đạt 4.000 ha lạc, 3.600 ha mía, trồng mới 100 ha cao su và chăm sóc tốt diện tích cao su đã trồng. Tăng cường chỉ đạo các cây công nghiệp như mía, cao su, lạc… Sớm kết luận về cây cà phê và một số cây ăn quả để có chủ trương phát triển.
- Tiếp tục thực hiện từng bước xã hội hoá về giống. Tổ chức tốt, tăng cường đầu tư và có chính sách khuyến khích các khâu dịch vụ giống, vật tư, bảo vệ thực vật và công tác khuyến nông.
- Khắc phục những tác động bất lợi của thiên tai. Tăng cường đầu tư thuỷ lợi, giao thông nông thôn. Phát triển mạnh mẽ phong trào nhân dân thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương thuỷ lợi, giao thông nông thôn. Xúc tiến chuẩn bị đầu tư xây dựng mới các dự án thuỷ lợi quan trọng những năm tới.
- Đẩy mạnh phát triển ngành nghề trong nông nghiệp, nông thôn. Chú trọng xây dựng kinh tế hợp tác, phong trào nông dân sản xuất giỏi, phát triển kinh tế trang trại.
- Khuyến khích phát triển chăn nuôi, nâng cao chất lượng gia súc gia cầm. Coi trọng chế biến, thu mua và thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi.
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác chăm sóc, khoanh nuôi bảo vệ rừng. Thực hiện tốt các chương trình trồng rừng, trồng mới 5.760 ha rừng, chăm sóc 1800 ha và bảo vệ 9000 ha rừng tự nhiên. Đẩy mạnh phong trào trồng cây phân tán trong nhân dân. Hoàn thành cơ bản việc giao đất, giao rừng theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 và Quyết định 245/CP của Chính phủ.
- Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả chương trình đánh bắt hải sản xa bờ, phấn đấu khai thác hải sản 18.000 tấn/năm. Chú trọng đánh bắt, chế biến và xuất khẩu hải sản, tăng tỷ trọng xuất khẩu trực tiếp. Đẩy nhanh xây dựng Cảng cá sông Gianh, triển khai xây dựng cảng cá Nhật Lệ và hợp phần nuôi trồng thuỷ sản thuộc dự án IFAD. Sớm triển khai đầu tư dự án đông lạnh sông Gianh.
2. Đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp:
- Tiếp tục sắp xếp, đổi mới hoạt động doanh nghiệp Nhà nước. Nâng cao hiệu quả, tháo gỡ vướng mắc cho các doanh nghiệp gây khó khăn. Chú trọng các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý, kiện toàn tổ chức cán bộ, mở rộng thị trường, đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ và tăng cường quản lý đối với doanh nghiệp Nhà nước. Tiếp tục thực hiện chủ trương chuyển hình thức sở hữu, cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê một số doanh nghiệp Nhà nước.
- Tập trung soát xét và nâng cao hiệu quả các dự án: Gạch lát nền ốp tường, nhà máy Đường, Nhà máy nhôm thanh định hình, nước khoáng Bang mở rộng. Không đầu tư những dự án xét thấy chưa có đủ cơ sở và tính hiệu quả. Tích cực chuẩn bị các dự án đầu tư mới. Triển khai dự án Đông lạnh sông Gianh và các dự án khác.
- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp, coi trọng công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, công nghiệp sử dụng nguyên vật liệu địa phương. Phát triển ngành nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ, nhằm giải quyết việc làm cho người lao động.
3. Củng cố quan hệ sản xuất mới:
- Sơ kết chuyển đổi HTX theo Luật. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương vế phát triển kinh tế hợp tác. Chấn chỉnh đổi mới quản lý trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, tháo gỡ vướng mắc, cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất.
4. Đẩy mạnh hoạt động thương mại - du lịch và kinh tế đối ngoại:
- Tiếp tục củng cố mở rộng mạng lưới thương nghiệp và dịch vụ nông thôn, xây dựng các trung tâm thương mại dịch vụ ở huyện và cụm xã miền núi.
- Triển khai thực hiện tốt chương trình du lịch năm 2000, trọng điểm là du lịch Phong Nha. Có chính sách thu hút đầu tư du lịch, dịch vụ.
- Đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, tích cực khai thác và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm địa phương. Khuyến khích các thành phần kinh tế sản xuất hàng xuất khẩu, có giải pháp để tăng xuất khẩu trực tiếp.
- Đẩy mạnh kinh tế đối ngoại, quản lý tốt các dự án đầu tư, tranh thủ các nguồn viện trợ phát triển kinh tế. Chỉ đạo tốt cá dự án đang vận hành, tích cực tìm đối tác để thu hút vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.
5. Xây dựng kết cấu hạ tầng:
- Tập trung huy động nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hướng trọng tâm là thuỷ lợi, giao thông, điện, nước sạch. Hoàn thành các công trình chuyển tiếp, khắc phục những công trình thiệt hại do lũ lụt, công trình thiết yếu phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Ưu tiên các dự án nâng cấp quốc lộ 12A, quốc lộ 15, đường Đồng Lê - Tân Ấp và những tuyến đường giao thông nông thôn quan trọng. Chỉ đạo các công trình thuỷ lợi trọng điểm, chuẩn bị các dự án đầu tư thuỷ lợi, phòng chống thiên tai các năm sau. Hoàn thành hệ thống đường điện 110 KV Đồng Hới - Ba Đồn. Triển khai dự án đường điện Cha Lo.
- Có những chính sách phát động phong trào nhân dân và Nhà nước cùng làm, thực hiện kiên cố hoá giao thông nông thôn, kênh mương thuỷ lợi. Phát triển hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới điện trung kế và hạ thế, phấp đấu năm 2000 có 88% số xã dùng điện lưới quốc gia.
- Tăng cường quản lý xây dựng cơ bản, chú trọng chất lượng và hiệu quả công trình, khắc phục yếu kém, chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng trong xây dựng cơ bản. Thực hiện phân cấp thẩm quyền và trách nhiệm cho các ngành, địa phương trong quản lý xây dựng cơ bản.
6. Đẩy mạnh các hoạt động tài chính, tiền tệ, tín dụng.
- Tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết HĐND tỉnh về dự toán ngân sách Nhà nước tỉnh năm 2000. Tích cực huy động các nguồn thu từ thuế, phí và các khoản phụ thu cho ngân sách; chống thất thu, triệt để tiết kiệm chi; có biện pháp nuôi dưỡng nguồn thu. Thực hiện phân cấp, công khai tài chính và các khoản đóng góp của nhân dân. Tăng quyền chủ động và nâng cao vai trò trách nhiệm trong quản lý tài chính và ngân sách ở các ngành, các cấp. Tăng cường chất lượng hoạt động của các cơ quan kiểm soát chi.
- Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động Ngân hàng. Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại, ngân hàng người nghèo, quỹ tín dụng nhân dân đáp ứng mọi nhu cầu về vốn cho các mục tiêu phát triển.
7. Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động văn hoá - xã hội.
- Triển khai tốt các chương trình quốc gia về giáo dục - đào tạo. Giữ vững và phát huy kết quả phổ cập tiểu học, thực hiện phổ cập trung học cơ sở những nơi có điều kiện. Quan tâm đào tạo con em dân tộc, miền núi, vùng cao và những vùng khó khăn khác. Chú trọng bồi dưỡng học sinh giỏi, đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục. Phát triển thêm các trường lớp bán công, khuyến khích các hình thức tư thục, dân lập.
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học, chú trọng áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ và phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn, bảo vệ và phòng chống sự cố môi trường. Thực hiện tốt việc thẩm định công nghệ, đánh giá tác động môi trường các dự án mới đầu tư.
- Tổ chức tốt việc kỷ niệm các ngày lễ lớn năm 2000. Tăng cường các hoạt động thông tin tuyên truyền, văn hoá, văn nghệ, phát động phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá. Xây dựng và phát triển cụm văn hóa dân cư. Nâng cao chất lượng báo chí, phát thanh truyền hình. Phát triển mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng, coi trọng những môn thể thao truyền thống có thế mạnh.
- Đẩy mạnh thực hiện các chương trình giải quyết việc làm, tăng cường các hoạt động xúc tiến việc làm và đào tạo nghề. Đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa. Thực hiện tốt chính sách đối với người có công theo Nghị định 28/CP của Chính phủ. Đẩy nhanh thực hiện các chương trình Quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình 135/CP và các chương trình quốc gia khác. Đổi mới cách chỉ đạo để phát huy hiệu quả tổng hợp các chương trình, dự án trên từng địa phương.
- Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, coi trọng y tế cơ sở và thôn bản. Tập trung phòng chống các bệnh bướu cổ, sốt rét, phong, lao. Tiếp tục thực hiên tốt công tác Dân số - KHHGĐ và các hoạt động từ thiện nhân đạo.
8. Củng cố quốc phòng - an ninh.
- Tăng cường củng cố công tác quốc phòng - an ninh, thực hiện tốt Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ bảo vệ an ninh Quốc gia trong tình hình mới. Đẩy mạnh thực hiện chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm và chương trình phòng chống ma tuý. Phát huy sức mạnh tổng hợp, nâng cao chất lượng nền quốc phòng toàn dân. Đề cao trách nhiệm chính quyền các cấp trong quản lý điều hành công tác quốc phòng - an ninh. Tiếp tục xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, kết hợp đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Gắn nhiệm vụ quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục chỉ đạo đấu tranh chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
9. Phát động phong trào thi đua sôi nổi trong các ngành, các cấp, các tầng lớp nhân dân. Kiện toàn bộ máy thi đua khen thưởng các cấp. Tổ chức tốt Đại hội thi đua các cấp từ cơ sở đến tỉnh.
10. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp.
- Tiến hành sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng, tăng cường chỉ đạo điều hành, bảo đảm sát thực, nhanh nhạy, kiên quyết và hiệu quả. Thực hiện phân công, phân cấp trách nhiệm cho huyện, ngành và cơ sở. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu các ngành, các cấp. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới. Đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Xử lý kịp thời khiếu nại, tố cáo của công dân. Tập trung giải quyết dứt điểm những vấn đề tồn đọng kéo dài.
- Tập trung cải tiến tiếp xúc cử tri bảo đảm có hiệu quả cao. Nâng cao chất lượng hoạt động HĐND các cấp. Cải tiến phương thức và nội dung hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và các đại biểu HĐND. Thường trực HĐND tỉnh sớm xây dựng Quy chế hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban và các Tổ đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 1999-2004 để trình HĐND tỉnh thông qua tại kỳ họp giữa năm 2000.
11. Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua kế hoạch sử dụng đất của tỉnh năm 2000. Giao UBND tỉnh hoàn chỉnh các hồ sơ để trình Chính phủ phê duyệt.
12. Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua việc thành lập thị trấn Quy Đạt và điều chỉnh địa giới hành chính các xã Quy Hoá, Xuân Hoá và Yên Hóa thuộc huyện Minh Hoá. Giao UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan hữu quan hoàn tất các hồ sơ để trình Chính phủ quyết định.
C- TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Hội đồng nhân dân tỉnh giao UBND tỉnh cụ thể hoá, tổ chức triển khai và chỉ đạo thực hiện Nghị quyết này.
2. Hội đồng nhân dân tỉnh giao Thường trực HĐND, các Ban và các đại biểu HĐND tỉnh tăng cường kiểm tra, giám sát UBND tỉnh và các ngành, các cấp trong việc thực hiện Nghị quyết này.
3. Uỷ ban MTTQVN tỉnh và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội tăng cường phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chính quyền, tích cực động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi những chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2000 mà HĐND tỉnh đề ra.
Hội đồng nhân dân tỉnh kêu gọi toàn dân, toàn quân trong tỉnh nêu cao ý chí tự lực tự cường, lao động cần cù sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2000 - năm có ý nghĩa hết sức quan trọng, đưa tỉnh ta cùng cả nước tiến vào thiên niên kỷ mới.
*
* *
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình khoá XIV - kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 28/01/2000.