|
HĐND TỈNH BẾN TRE Số: 08/NQ-HĐND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bến Tre, ngày 08 tháng 01 năm 1996 |
NGHỊ QUYẾT
Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1996
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Căn cứ vào Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 18 tháng 4 năm 1992;
Căn cứ Điều 31 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ V thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Sau khi xem xét báo cáo của UBND tỉnh, các báo cáo của các ngành chức năng, thuyết trình của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của các Đại biểu HĐND tỉnh,
QUYẾT NGHỊ:
Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về đánh giá tình hình kinh tế - xã hội năm 1995 và nhấn mạnh một số vấn đề sau đây:
I. VỀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NĂM 1995:
Năm 1995 tình hình kinh tế - xã hội tỉnh ta tiếp tục ổn định và có những chuyển biến tích cực: hầu hết các chỉ tiêu kinh tế cơ bản đều đạt và vượt kế hoạch đề ra; an ninh – chính trị được giữ vững; các lĩnh vực khoa học, giáo dục, y tế, văn hoá – xã hội có nhiều tiến bộ; đời sống của đại bộ phận dân cư tiếp tục được cải thiện.
Những thành tựu nói trên có ý nghĩa rất quan trọng tạo tiền đề cho bước phát triển mới của tỉnh về kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở những năm 1996 - 2000.
Bên cạnh việc khẳng định những thành tựu đạt đựoc, tỉnh ta còn đang đứng trước những khó khăn và tồn tại cần được khắc phục là: kinh tế tuy có phát triển, nhưng có những mặt chưa vững chắc, công nghiệp tăng chậm, ngành chế biến dừa, thuỷ sản, mía, cây ăn trái còn nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp; việc giải quyết đơn thư khiếu tố của công dân còn chậm, việc giải quyết tranh chấp đất đai ở một số điểm nóng còn lúng túng, chưa khắc phục được những hụt hẫng trong bộ máy tổ chức và cán bộ. Chỉ đạo, điều hành nhiều lúc chưa đồng bộ một số tồn tại kéo dài chậm xử lý hoặc xử lý thiếu kiên quyết nên không ráo rẻ.
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NĂM 1996:
Năm 1995 là năm tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII, Đại hội tỉnh lần VI và là thời kỳ thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước: năm mở đầu KH phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996-2000. Nhiệm vụ của năm 1996 là tiếp tục phát huy những thành quả của công cuộc đổi mới, phấn đấu tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, hiệu quả cao hơn và vững chắc hơn để giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội và bảo đảm an ninh - quốc phòng, tiếp tục cải thiện đời sống nhân dân. Vì vậy trong năm 1996, phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu chủ yếu:
- Tổng sản phảm xã hội (GDP) tăng 8% so năm 1995. Trong đó:
+ GDP nông – nâm - thuỷ sản tăng 6 – 6,5% so năm 1995.
+ GDP CN – TTCN – XD tăng 12-13% so năm 1995.
+ GDP dịch vụ tăng 10-11% so năm 1995.
- Kim ngạch xuất khẩu 25-27 triệu USD.
- Giảm tỉ lệ phát triển dân số 0,06- 0,07%.
Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành các nhiệm vụ cụ thể và các biện pháp lớn mà Uỷ ban nhân dân tỉnh đã báo cáo, các Ban và các Đại biểu Hội đồng đã góp ý bổ sung, đồng thời lưu ý Uỷ ban nhân dân tỉnh trong quá trình chỉ đạo, điều hành cần quan tâm đến các vấn đề chủ yếu sau đây:
1. Về kinh tế:
- Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế: cần vận dụng chính sách, Luật khuyến khích đầu tư trong nước để thu hút các nguồn đầu tư, khai thác khả năng các thành phần kinh tế, đầu tư phát triển công nghiệp – TTCN, đổi mới công nghệ chế biến nông, thuỷ hải sản, khai thác thuỷ hải sản xa bờ nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trên cơ sở quy hoạch tổng quan nông nghiệp, tỉnh và các huyện tiến hành quy hoạch vùng sản xuất lúa ổn định chuyên canh và kiên quyết không chuyển đất trồng lúa ở vùng quy hoạch sang mục đích khác.
- Tăng cường đầu tư cho công tác khoa học, công nghệ, công tác khuyến nông, khuyến ngư, các Trung tâm giống cây trồng, vật nuôi, giống tôm, cá và biện pháp quản lý người sản xuất kinh doanh giống. Tiến hành quy hoạch và xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật hệ thống kênh mương dẫn nước mặn, tiêu nước cho các dự án nuôi tôm và những khu vực quy hoạch nuôi tôm để có KH đầu tư hàng năm cân đối nguồn vốn cho công tác này.
- Hoàn thành công tác đo đạc và cấp quyền sử dụng đất cho nông dân để ổn định sản xuất.
- Ban chỉ đạo tỉnh và huyện, thị xã tổ chức sơ kết việc xây dựng nông thôn mới ở 3 xã điểm và tổng kết các mô hình tiên tiến ở các xã khác để rút kinh nghiệm mở rộng, xây dựng và tổ chức triển khai thành chương trình phát triển kinh tế - xã hội toàn diện nông thôn trong đó ưu tiên cho các xã vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng.
- Thống nhất chủ trương ban hành quy định tạm thời về quản lý sản xuất và kinh doanh giống cây ăn quả tỉnh Bến Tre. Giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh tiếp tục chấn chỉnh theo ý kiến của Đại biểu đóng góp, có sự tham gia ý kiến kiến của Ban Kinh tế và Ngân sách – HĐND tỉnh, các ngành tư pháp, ngành khoa học và tham khảo ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước khi Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định ban hành.
- Tập trung chỉ đạo và có biện pháp đồng bộ để thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Trong đó chú trọng đổi mới tổ chức quản lý các doanh nghiệp Nhà nước. Trong năm 1996 sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, bảo đảm các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, phân biệt rõ chức năng quản lý Nhà nước và sản xuất kinh doanh. Tổng kết mô hình làm ăn hợp tác trên các lĩnh vực. Cương quyết xử lý dứt điểm đối với số đơn vị sản xuất – kinh doanh thua lỗ kéo dài. Tăng cường đầu tư cho công nghệ ở các thành phần kinh tế, trước hết là kinh tế quốc dân.
- Trong XDCB: thực hiện tốt Nghị định 177/CP về thủ tục đầu tư, tổ chức tốt về đấu thầu xây dựng, quản lý chất lượng, thanh quyết toán, nghiệm thu đưa vào sử dụng kịp thời. Có phương án xử lý các công trình cũ hiện còn lãng phí không phát huy tác dụng. Dành một phần kinh phí ngân sách đầu tư cho công trình công cộng, cấp nước và vệ sinh môi trường ở thị xã và các thị trấn - Tiến hành quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các tụ điểm phát triển khi công nghiệp trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá. Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông thuỷ.
- Nghiên cứu phương án tổ chức Cty phát triển, quản lý lưới điện nông thôn, hình thành tổ chức kinh doanh riêng với quản lý Nhà nước. Phấn đấu trong năm 1996 đưa thêm từ 10 – 15 xã có điện.
- Về thương mại – du lịch và hợp tác đầu tư: kiện toàn mạng lưới thương nghiệp quốc doanh đề đủ sức cạnh tranh chi phối thị trường, chú trọng việc tìm thị trường tiêu thụ nông sản và hàng xuất khẩu của tỉnh.
Hoàn chỉnh lại, phê duyệt đề án phát triển du lịch theo chỉ thị của Trung ương và triển khai đầu tư ngay một số khu du lịch trọng điểm của tỉnh đồng thời nâng cấp khách sạn phục vụ khách quốc tế.
Nhanh chóng thực hiện tổ chức thống nhất bộ phận Kinh tế - đối ngoại của Uỷ ban nhân dân tỉnh vào Uỷ ban kế hoạch tỉnh để tham mưu tốt hơn về chiến lược: hợp tác đầu tư gắn với cơ cấu kinh tế của tỉnh. Khẩn trương xây dựng các dự án tiền khả thi đón đầu. Trong hợp tác đầu tư, lưu ý cả khả năng hợp tác với nước ngoài lẫn hợp tác vùng, khu vực và Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ chức thẩm định chặt chẽ các dự án, trong đó chú ý dự án vay vốn trong nước và nước ngoài đảm bảo có hiệu quả trả được vốn vay.
2. Về khoa học, công nghệ và môi trường:
- Tổ chức thử nghiệm và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các lĩnh vực cây trồng, con nuôi, công nghiệp chế biến để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Thực hiện tốt các đề án nghiên cứu khoa học xã hội.
- Tiến hành điều tra hiện trạng môi trường để xây dựng dự án tổng quan bảo vệ môi trường. Xây dựng hoàn chỉnh dự án quản lý xử lý rác ở thị xã và tiến hành giải quyết một số vấn đề bức xúc về môi trường ở thị xã trong năm 1996.
- Cần quan tâm nghiên cứu các biện pháp đồng bộ bảo vệ môi trường sinh thái nguồn nước và vùng ven biển. Kiểm tra chặt chẽ vệ sinh thực phẩm, ngăn chặn và giải quyết kịp thời những hành vi gây ô nhiễm môi trường trong sản xuất, kinh doanh. Thực hiện nghiêm việc phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với bảo vệ môi trường.
3. Về văn hoá, giáo dục – đào tạo:
Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục – đào tạo, văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao.
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc; khuyến khích sáng tạo nghệ thuật; đẩy mạnh phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá. Tổ chức củng cố các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá lành mạnh đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân; tăng cường các biện pháp đấu tranh, xử lý nghiêm các vụ vi phạm nhằm ngăn chặn, bài trừ văn hoá phẩm độc hại và các tệ nạn xã hội. Thực hiện kiên quyết và có hiệu quả Chỉ thị 814/TTg, NĐ 87/CP, 88/CP của Chính phủ. Tăng cường đầu tư và mở rộng phong trào văn nghệ, thể dục, thể thao quần chúng và chăm sóc đúng mức các tài năng văn nghệ, thể thao nâng cao của tỉnh.
Tiếp tục chấn chỉnh hệ thống giáo dục của tỉnh bảo đảm các điều kiện cho PCGDĐT. Cải tiến cơ chế quản lý vốn đầu tư hợp lý nhằm đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo đảm bảo tiến độ, chất lượng, tiết kiệm. Phát triển đa dạng hoá các loại hình trường, lớp và các hình thức đào tạo. Từng bước trang bị đầy đủ dụng cụ giảng dạy và học tập cho các trường quốc lập. Tiến hành nhanh việc quy hoạch xây dựng và cấp quyền sử dụng đất cho các trường học.
Ban Tổ chức Chính quyền, Sở Giáo dục – Đào tạo phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, năm 1996 – 2000. Tăng cường đầu tư và sử dụng tốt nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ các ngành các cấp.
Thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; xử lý nghiêm đối với hành vi xâm phạm nhân phẩm trẻ em.
Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu, Sở Văn hoá Thông tin, Đài Phát thanh truyền hình tổ chức nhiều đợt sáng tác, cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật để có nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật, có nội dung lành mạnh, có sức chiến đấu để phổ biến rộng rãi trong nhân dân, tạo nên phong trào sinh hoạt văn hoá, văn nghệ lành mạnh xoá bỏ các tác phẩm có nội dung xấu, độc hại, góp phần lành mạnh hoá xã hội.
4. Về các vấn đề xã hội và y tế:
- Thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân, chính sách tự do tín ngưỡng huy động các tầng lớp nhân dân thực hiện các mục tiêu kinh tế tỉnh nhà.
- Triển khai và thực hiện có kết quả đề án tổng quan giải quyết việc làm. Kết hợp việc cho vay vốn với đẩy mạnh chương trình xoá đói giảm nghèo. Tiếp tục thực hiện Pháp lệnh ưu đãi những người có công. Thực hiện tốt các chính sách xã hội và chương trình đền ơn đáp nghĩa, tăng cường công tác thanh tra và xử lý tiêu cực trong lĩnh vực này.
- Tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm thực hiện Chỉ thị 200/TTg của Thủ tướng Chính phủ và tập trung nhiều biện pháp thực hiện nghị quyết HĐND về cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn trong năm 1996 (lưu ý các vấn đề nước sạch và hố xí hợp vệ sinh).
- Thực hiện tốt chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi, bà mẹ, trẻ em; giảm tỉ lệ mắc bệnh, tăng tuổi thọ bình quân. Thực hiện tốt chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Kịp thời ngăn chặn dịch bệnh, tiếp tục thực hiện tốt việc tiêm chủng mở rộng.
Tăng cường mạng lưới y tế xã, phường và có biện quản lý tốt các hoạt động dịch vụ y tế tư nhân theo Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân.
Đẩy mạnh công tác giáo dục, truyền thông dân số. Cán bộ, công chức, viên chức gương mẫu thực hiện (có quy định cụ thể việc thi đua, khen thưởng, kỷ luật) và vận động phong trào sinh đẻ có kế hoạch rộng mạnh là một trong những nội dung nếp sống văn hoá ở các địa phương. Củng cố và phát triển mạng lưới dịch vụ KHHGĐ ở cơ sở nhằm thực hiện tốt đề án DS-KHHGĐ.
5. Về an ninh - quốc phòng:
- Động viên toàn dân, toàn quân giữ vững an ninh – chính trị, trật tự an toàn xã hội, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng chủ động và kịp thời đập tan mọi âm mưu và hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch.
- Đẩy mạnh công tác giáo dục làm cho nhân dân hiểu rõ âm mưu của kẻ thù trong tình hình mới. Kết hợp chặt chẽ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh. Phấn đấu đạt chỉ tiêu giao quân năm 1996 cả về số lượng và chất lượng. Củng cố dân quân tự vệ, lực lượng quân dự bị và các tổ nhân dân tự quản.
- Nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng Công an nhân dân, chủ động ngăn chặn kịp thời các hoạt động phản động, phối hợp với các ngành, các đoàn thể phát động phong trào quần chúng ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội, tai nạn xã hội nhất là tai nạn giao thông (lưu ý vấn đề thanh thiếu niên phạm pháp và tệ tự tử).
6. Về thi hành pháp luật:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giáo dục cho cán bộ và nhân dân ý thức tôn trọng pháp luật. Tiếp tực thực hiện tốt công tác giám sát việc thi hành pháp luật nhất là trong lĩnh vực quản lý ngân sách xã, quản lý điện, trong giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, tranh chấp đất đai, trật tự trị an, tệ nạn xã hội, việc thực hiện trình tự tố tụng, xét xử, thi hành án…kịp thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm để củng cố lòng tin của nhân dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Tăng cường đào tạo cán bộ và củng cố tổ chức các cơ quan bảo vệ pháp luật thực sự trong sạch và đủ mạnh để làm tốt công tác đấu tranh bảo vệ pháp luật.
- Cần có quy định tạm thời quản lý hoạt động của Đoàn Luật sư, Hội Luật gia để từng bước lập lại trật tự kỷ cương trong lĩnh vực dịch vụ tư vấn pháp luật.
7. Về công tác chỉ đạo điều hành:
Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, tiếp tục sắp xếp lại tổ chức bộ máy chính quyền theo hướng dẫn của Trung ương: (nhập Sở Thuỷ lợi và Nông Lâm, thành lập Sở Kế hoạch và đầu tư, tách chức năng quản lý Nhà nước về Điện lực qua Sở Công nghiệp và ở huyện, thị xã lập các phòng tương ứng). Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng. Có kế hoạch bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ công chức để bảo đảm đủ chuẩn nhất. Cải tiến lề lối làm việc, giảm các thủ tục phiền hà, giải quyết đến nơi đến chốn các sự việc tồn tại đã được kiểm tra, thanh tra, tạo điều kiện để dân kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước và tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, khắc phục những mặt yếu kém, trì trệ của bộ máy chính quyền các cấp.
Hội đồng nhân dân tỉnh giao trách nhiệm cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan hoàn chỉnh các đề án, dự án, quy chế…sau đây để trình tại các kỳ họp bất thường và định kỳ HĐND tỉnh tổ chức trong năm 1996:
* Đề án kinh tế biển.
* Đề án quy hoạch tổng thể KT-XH tỉnh Bến Tre 2000-2010.
* Chương trình vì trẻ em 1996-2000.
* Đề án xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá.
* Phương án phát triển công nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm 2000-2010.
* Quy hoạch về sử dụng đất đai trong tỉnh theo chỉ đạo của Trung ương.
* Đề án phát triển thương mai - dịch vụ đến năm 2000.
* Đề án đào tạo cán bộ đến năm 2000.
* Dự án tổng quan cấp nước và vệ sinh môi trường 1996- 2000.
* Đề án y tế chăm sóc sức khoẻ nhân dân 1996-2000.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai trong các ngành, các cấp thực hiện thắng lợi Nghị quyết này.
Thường trực HĐND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh có nhiệm vụ giúp cho HĐND tỉnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết ở các ngành, các cấp đúng chức năng và đúng pháp luật.
Đại biểu HĐND các cấp phải gương mẫu thực hiện nghị quyết của HĐND đồng thời tuyên truyền, động viên cử tri thực hiện tốt nghị quyết HĐND.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khóa V, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 26 tháng 01 năm 1996./.