Quay lại

Nghị quyết 09/2003/NQ-HĐT về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu năm 2004

HĐND TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
-------

Số: 09/2003/NQ-HĐT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 25 tháng 12 năm 2003

NGHỊ QUYẾT

VỀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU NĂM 2004

__________

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;

Sau khi xem xét Báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan hữu quan; Báo cáo thẩm định của các Ban HĐND tỉnh; kiến nghị của cử tri và ý kiến thảo luận của Đại biểu HĐND tại kỳ họp.

QUYẾT NGHỊ:

- Nhất trí với Báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về hoạt động cùa Hội đồng nhân dân tỉnh năm 2003 và các nhiệm vụ chủ yếu năm 2004.

- Tán thành Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh và các ngành tư pháp về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng và thực thi pháp luật năm 2003 và một số chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2004.

A- Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2003:

Năm 2003, với sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân, của chính quyền và các ngành các cấp trong tỉnh, chúng ta đã hoàn thành đạt và vượt hầu hết các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Hội đồng nhân dân tỉnh đã quyết nghị tại kỳ họp thứ 8 và thứ 9. Nhiều nhiệm vụ, giải pháp đề ra đã được triển khai và thực hiện khá tốt. Kinh tế vẫn duy trì được mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế trong nhiều ngành và lĩnh vực có sự chuyển dịch tích cực. Sản xuất công nghiệp tiếp tục đạt tốc độ tăng nhanh. Ngành du lịch tuy gặp nhiều khó khăn nhưng đã có dấu hiệu phục hồi. Nông nghiệp có sự chuyển đổi cơ cấu theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa gắn với thị trường, tăng giá trị thu nhập. Ngành thủy sản, nhất là nuôi trồng tiếp tục phát triển khá. Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn và xuất khẩu thủy sản đạt khá. Hoạt động tín dụng có tiến bộ. Việc huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển đạt kết quả tốt. Thu ngân sách đạt kết quả cao, huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển đạt kết quả tốt. Nguồn vốn ngân sách đã được tập trung đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, nông nghiệp và phát triển nông thôn, các công trình kinh tế và các chương trình mục tiêu quốc gia. Sự đầu tư này đã bảo đảm sự phát triển kinh tế và đáp ứng những nhu cầu bức xúc về đời sống của nhân dân trong tỉnh. Công tác quản lý Nhà nước, cải cách thủ tục hành chính có hiệu quả hơn.

Các nhiệm vụ xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự trị an được triển khai tích cực, đạt kết quả tốt.

Một số công trình văn hóa, xã hội hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đời sống các tầng lớp nhân dân tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đều giảm. Mức hưởng thụ văn hóa, tỷ lệ dân số ở nông thôn được dùng điện, nước sạch đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Lĩnh vực y tế, giáo dục được đầu tư tốt hơn. Việc giải quyết chế độ đối với các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc, chăm lo hỗ trợ người nghèo, cơ nhỡ bất hạnh thực hiện tốt. Tăng cường công tác truy quét, triệt phá các ổ nhóm tệ nạn xã hội theo tinh thần triển khai thực hiện chương trình 4 giảm.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, lĩnh vực kinh tế, xã hội tỉnh nhà vẫn còn một số yếu kém cần có những giải pháp thiết thực để tập trung khắc phục.

Kinh tế có phát triển nhưng chất lượng chuyển biến chậm. Năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp đạt thấp.

Đầu tư của Nhà nước ở một số công trình còn kéo dài, thất thoát, chất lượng không cao. Tiến độ triển khai đầu tư xây dựng cơ bản không đạt yêu cầu, giải ngân vốn chưa đạt kế hoạch.

Việc đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước địa phương tuy có nhiều nỗ lực, nhưng thực hiện chậm so với yêu cầu. Một số doanh nghiệp Nhà nước địa phương đang gặp nhiều khó khăn, do một số tồn tại trước đây chưa được giải quyết dứt điểm.

Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật các KCN thực hiện chậm, ảnh hưởng đến thu hút đầu tư và tiến độ triển khai các dự án.

Việc đổi mới công nghệ trong lĩnh vực đánh bắt, bảo quản và chế biến hải sản chưa có chuyển biến mạnh; dịch vụ hậu cần nghề cá chưa đáp ứng tốt yêu cầu.

Việc quản lý sử dụng đất đai, quản lý quy hoạch, quản lý đô thị còn nhiều thiếu sót. Tình trạng lấn chiếm đất đai, xây dựng trái phép, xây dựng không phép chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư còn nhiều khó khăn Đề án xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp và một số dự án khu tái định cư triển khai rất chậm.

Thu ngân sách tăng cao so với dự toán nhưng thu từ kinh tế địa phương còn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng thu. Tình trạng trốn thuế, gian lận thương mại vẫn còn nhiều.

Thực hiện chương trình 4 giảm tuy đạt được một số kết quả nhưng còn phải nỗ lực nhiều.

Hội đồng nhân dân tỉnh kỳ họp thứ 8 đã quyết định lấy năm 2003 là “Năm lập lại trật tự kỷ cương và tăng cường công tác quản lý đô thị”. Tuy nhiên, trật tự kỷ cương chuyển biến còn chậm, quản lý đô thị còn nhiều yếu kém.

B- Về chỉ tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2004:

Hội đồng nhân dân tỉnh cơ bản nhất trí với Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh về phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2004 và Quyết nghị một số chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

A- Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2003:


Năm 2003, với sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân, của chính quyền và các ngành các cấp trong tỉnh, chúng ta đã hoàn thành đạt và vượt hầu hết các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Hội đồng nhân dân tỉnh đã quyết nghị tại kỳ họp thứ 8 và thứ 9. Nhiều nhiệm vụ, giải pháp đề ra đã được triển khai và thực hiện khá tốt. Kinh tế vẫn duy trì được mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế trong nhiều ngành và lĩnh vực có sự chuyển dịch tích cực. Sản xuất công nghiệp tiếp tục đạt tốc độ tăng nhanh. Ngành du lịch tuy gặp nhiều khó khăn nhưng đã có dấu hiệu phục hồi. Nông nghiệp có sự chuyển đổi cơ cấu theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa gắn với thị trường, tăng giá trị thu nhập. Ngành thủy sản, nhất là nuôi trồng tiếp tục phát triển khá. Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn và xuất khẩu thủy sản đạt khá. Hoạt động tín dụng có tiến bộ. Việc huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển đạt kết quả tốt. Thu ngân sách đạt kết quả cao, huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển đạt kết quả tốt. Nguồn vốn ngân sách đã được tập trung đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, nông nghiệp và phát triển nông thôn, các công trình kinh tế và các chương trình mục tiêu quốc gia. Sự đầu tư này đã bảo đảm sự phát triển kinh tế và đáp ứng những nhu cầu bức xúc về đời sống của nhân dân trong tỉnh. Công tác quản lý Nhà nước, cải cách thủ tục hành chính có hiệu quả hơn.


Các nhiệm vụ xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự trị an được triển khai tích cực, đạt kết quả tốt.


Một số công trình văn hóa, xã hội hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đời sống các tầng lớp nhân dân tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đều giảm. Mức hưởng thụ văn hóa, tỷ lệ dân số ở nông thôn được dùng điện, nước sạch đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Lĩnh vực y tế, giáo dục được đầu tư tốt hơn. Việc giải quyết chế độ đối với các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc, chăm lo hỗ trợ người nghèo, cơ nhỡ bất hạnh thực hiện tốt. Tăng cường công tác truy quét, triệt phá các ổ nhóm tệ nạn xã hội theo tinh thần triển khai thực hiện chương trình 4 giảm.


Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, lĩnh vực kinh tế, xã hội tỉnh nhà vẫn còn một số yếu kém cần có những giải pháp thiết thực để tập trung khắc phục.


Kinh tế có phát triển nhưng chất lượng chuyển biến chậm. Năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp đạt thấp.


Đầu tư của Nhà nước ở một số công trình còn kéo dài, thất thoát, chất lượng không cao. Tiến độ triển khai đầu tư xây dựng cơ bản không đạt yêu cầu, giải ngân vốn chưa đạt kế hoạch.


Việc đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước địa phương tuy có nhiều nỗ lực, nhưng thực hiện chậm so với yêu cầu. Một số doanh nghiệp Nhà nước địa phương đang gặp nhiều khó khăn, do một số tồn tại trước đây chưa được giải quyết dứt điểm.


Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật các KCN thực hiện chậm, ảnh hưởng đến thu hút đầu tư và tiến độ triển khai các dự án.


Việc đổi mới công nghệ trong lĩnh vực đánh bắt, bảo quản và chế biến hải sản chưa có chuyển biến mạnh; dịch vụ hậu cần nghề cá chưa đáp ứng tốt yêu cầu.


Việc quản lý sử dụng đất đai, quản lý quy hoạch, quản lý đô thị còn nhiều thiếu sót. Tình trạng lấn chiếm đất đai, xây dựng trái phép, xây dựng không phép chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư còn nhiều khó khăn Đề án xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp và một số dự án khu tái định cư triển khai rất chậm.


Thu ngân sách tăng cao so với dự toán nhưng thu từ kinh tế địa phương còn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng thu. Tình trạng trốn thuế, gian lận thương mại vẫn còn nhiều.


Thực hiện chương trình 4 giảm tuy đạt được một số kết quả nhưng còn phải nỗ lực nhiều.


Hội đồng nhân dân tỉnh kỳ họp thứ 8 đã quyết định lấy năm 2003 là “Năm lập lại trật tự kỷ cương và tăng cường công tác quản lý đô thị”. Tuy nhiên, trật tự kỷ cương chuyển biến còn chậm, quản lý đô thị còn nhiều yếu kém.

B- Về chỉ tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2004:


Hội đồng nhân dân tỉnh cơ bản nhất trí với Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh về phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2004 và Quyết nghị một số chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

I- Một số chỉ tiêu chủ yếu.

1. Chỉ tiêu về kinh tế.

- Tốc độ tăng trưởng GDP (kể cả dầu khí) tăng 11,6%, trừ dầu khí tăng 18,1%.

- Giá trị sản xuất công nghiệp (kể cả dầu khí) tăng 11,9%, trừ dầu khí tăng 25,9%.

- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,2%; trong đó: trồng trọt tăng 4,8%; chăn nuôi tăng 6,95%.

- Giá trị ngư nghiệp tăng 6%.

- Doanh thu thương mại - dịch vụ tăng 17,1%, trong đó: doanh thu thương mại tăng 17,9%; doanh thu dịch vụ tăng 15,4%; du lịch tăng 10,6%.

- Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn 3.718 triệu USD; giá trị xuất khẩu trừ dầu khí 218 triệu USD, trong đó xuất khẩu hải sản 125,9 triệu USD.

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn 32.528 tỷ đồng.

- Tổng chi ngân sách địa phương 2.727 tỷ đồng.

- Tổng số vốn đầu tư phát triển thực hiện trên địa bàn 10.132,7 tỷ đồng; trong đó: vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách Nhà nước 752,7 tỷ đồng; vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp ngoài quốc doanh 700 tỷ đồng; vốn Trung ương quản lý 4.650 tỷ đồng; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 3.030 tỷ đồng.

2. Chỉ tiêu về xã hội.

- Giảm tỷ lệ sinh 0,04%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,2%.

- Giải quyết việc làm cho 24.400 lao động trong đó tạo việc làm mới cho 9.500 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 31%, xuất khẩu lao động 000 người.

- Không để hộ đói phát sinh, giảm từ 3.500 đến 4.000 hộ nghèo.

- Huy động 8,6% số cháu trong độ tuổi vào nhà trẻ; 55% số cháu trong độ tuổi vào mẫu giáo; số học sinh phổ thông tăng 4,3% so với năm học trước.

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn 21%.

- Mức hưởng thụ văn hóa 24,5 lần/người/ năm, tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa 78%, tỷ lệ ấp đạt tiêu chuẩn văn hóa 60%, tỷ lệ số người luyện tập thể dục thể thao thường xuyên 17%; tỷ lệ dân số được xem chương trình truyền hình 96%.

- Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng điện sinh hoạt 92%, được dùng nước sạch 90 %.

- Xây dựng 1.000 căn nhà tình thương.

II- Một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành các nhiệm vụ, giải pháp lớn đã nêu trong Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh và nhấn mạnh một số vấn đề quan trọng sau đây:

l. Về kinh tế

Tập trung mọi nỗ lực phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2004, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững, tạo điều kiện hoàn thành kế hoạch 5 năm (2001- 2005).

Tiếp tục cải tiến và đổi mới công tác quản lý, nâng cao hơn nữa hiệu quả đầu tư. Cần rà soát sắp xếp lại các dự án theo hướng đầu tư tập trung cho các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội, ưu tiên các công trình trọng điểm, nhất là các công trình cần hoàn thành trong năm 2004. Tiến hành đồng bộ các công trình cầu đường ven biển Vũng Tàu - Bình Châu. Tập trung đầu tư giải quyết vấn đề nước phục vụ sản xuất và đời sống. Bố trí đủ vốn và huy động nguồn vốn phụ thu tiền nước cho việc mở rộng hệ thống cấp nước sạch cho nhân dân. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động đầu tư và xây dựng. Tăng cường biên chế cho bộ máy thẩm định ở các sở chuyên ngành, củng cố tổ chức, bộ máy, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các Ban quản lý dự án trên địa bàn tỉnh. Quản lý chặt chẽ công tác đấu thầu trong xây dựng. Có biện pháp chế tài khi xảy ra những vi phạm về tiến độ thi công và chất lượng công trình. Kiên quyết xử lý tình trạng thất thoát, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Tập trung xử lý các tồn đọng, các sai phạm phát hiện qua công tác thanh tra, lập lại trật tự kỷ cương trong công tác đầu tư và xây dựng. Giải quyết tốt hơn công tác đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư, ổn định cuộc sống của nhân dân, nhất là đối với những công trình trọng điểm. Tăng cường công tác chuẩn bị đầu tư, triển khai công tác đấu giá quyền sử dụng đất.

Nghiên cứu điều chỉnh một số quy định về lộ giới, chỉ giới xây dựng đáp ứng phát triển đô thị trong tương lai. Chủ trương phát triển giao thông đường thủy, cảng, phát huy ưu thế tự nhiên của tỉnh, tăng cường khả năng giao lưu hàng hóa với các tỉnh, thành phố.

Tháo gỡ khó khăn, sử dụng vốn đầu tư để đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng khu công nghiệp Đông Xuyên và Phú Mỹ I. Có kế hoạch đào tạo nhân lực, giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động ở các khu công nghiệp. Thúc đẩy tiến độ quy hoạch và xây dựng hạ tầng, có cơ chế quản lý các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở các huyện, thị, thành phố.

Đẩy mạnh, nhân rộng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp. Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tìm kiếm và tiếp cận nhiều thị trường. Xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu hàng hóa của tỉnh. Có chương trình nâng cao nhận thức cho các ngành, các cấp, các doanh nghiệp về yêu cầu hội nhập kinh tế hiện nay. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ trương gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) để mọi người, nhất là các doanh nghiệp có sự chuẩn bị về xu thế hội nhập và cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế. Tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nước. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mọi thành phần kinh tế; sớm thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tập trung nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm. Sớm hoàn thành việc xây dựng các khu vực nuôi trồng thuỷ sản, sớm xác định vị trí và xây dựng quy hoạch để đầu tư hạ tầng kỹ thuật khu chế biến hải sản tập trung. Có phương án sắp xếp lại các nông trường, lâm trường của địa phương.

Tăng cường hoạt động khoa học- công nghệ và bảo vệ môi trường. Mở rộng việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện các chương trình, đề án trọng điểm của kế hoạch tổng thể ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin 2001- 2005. Triển khai nhanh các dự án cải tạo môi trường, xử lý chất thải, xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Có giải pháp đồng bộ, tăng cường quản lý bảo vệ rừng ở Khu bảo tổn thiên nhiên Bình Châu- Phước Bửu. Tạm đình chỉ hoạt động nhà máy chế biến cao su Xà Bang cho đến khi xử lý triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường. Tạm đình chỉ việc khai thác cát và vật liệu san lấp trên địa bàn huyện Long Đất; Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập đoàn thanh tra việc quản lý, khai thác có sự tham gia của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh.

Tiếp tục cải tiến phương thức và tổ chức quản lý thuế. Phấn đấu tăng thu, vượt thu để có nguồn tăng chi cho đầu tư phát triển, chi cho các ngành kinh tế mũi nhọn.

Đề nghị Trung ương sớm phê duyệt đề án phát triển kinh tế - xã hội huyện Côn Đảo có cơ chế chính sách hấp dẫn đủ sức thu hút đầu tư.

2. Về văn hóa xã hội

Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao. Tiếp tục phát triển các ngành học, đa dạng hóa các loại hình giáo dục- đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục, các ngành học, cấp học, đáp ứng yêu cầu về đội ngũ giáo viên, cơ sở trường lớp, trang thiết bị giáo dục và các chế độ chính sách để phát triển sự nghiệp giáo dục. Phấn đấu hoàn thành phổ cập trung học cơ sở.

Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế. Đầu tư trang thiết bị y tế hiện đại cho các bệnh viện cấp tỉnh đồng thời nâng cấp trang thiết bị đối với các Trung tâm y tế cấp huyện để đáp ứng việc khám chữa bệnh cho tất cả mọi đối tượng, nhất là các đối tượng chính sách, vùng kháng chiến cũ và người nghèo. Nâng cao y đức y thuật cho đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế. Quan tâm đảm bảo quyền lợi cho người có Bảo hiểm y tế.

Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên ngành văn hóa thông tin. Cần tập trung củng cố và nâng cao chất lượng chương trình phát sóng của Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, phục vụ công tác thông tin tuyên truyền và đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân.

Tiếp tục thực hiện phong trào xây dựng khu phố, thôn ấp, gia đình văn hóa; trên cơ sở đó từng bước đẩy lùi tệ nạn xã hội.

Tập trung phòng chống và đẩy lui tệ nạn xã hội, thực hiện tốt chương trình 4 giảm. Tổ chức có hiệu quả việc cai nghiện tự nguyên tại cộng đồng và cai nghiên bắt buộc tại các trung tâm cai nghiện; đưa cơ sở hậu cai nghiện vào hoạt động. Tổ chức dạy nghề, tạo công ăn việc làm cho các đối tượng sau cai nghiện. Tăng cường cơ sở vật chất, dụng cụ y tế, thiết bị dạy nghề tại các cơ sở chữa bệnh cho đối tượng nghiện ma tuý và người nhiễm HIV/AIDS.

Tiếp tục thực hiện xóa đói giảm nghèo, đầu tư cho những vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến cũ. Tăng cường các nguồn vốn và vận động các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội và các nhà hảo tâm cùng góp sức vào nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo. Mua và cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho người nghèo để mọi người đều được khám chữa bệnh. Thực hiện tốt hơn nữa các chính sách ưu đãi đối với người có công, chăm lo giúp đỡ người tàn tật cơ nhỡ, trẻ em mồ côi, người già cô đơn không nơi nương tựa, tổ chức có hiệu quả các hoạt động cứu trợ xã hội.

3. Về an ninh - quốc phòng và thực thi luật pháp:

Giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân, mạng lưới an ninh nhân dân. Không ngừng nâng cao cảnh giác làm thất bại mọi mưu toan phá hoại của các thế lực thù địch.

Hoàn thành các chỉ tiêu về tuyển quân, chỉ tiêu về huấn luyện dân quân tự vệ và quân dự bị động viên. Thực hiện thí điểm xây dựng dân quân thường trực ở một số xã trong tỉnh. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, tạo điều kiện thuận lợi cho quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự học nghề, có việc làm để ổn định cuộc sống.

Tiếp tục thực hiện sắp xếp tổ chức và tinh giản biên chế, bổ sung nhân lực ở những khâu công việc cần thiết để thúc đẩy việc triển khai nhiệm vụ quản lý kinh tế, xã hội. Giữ nghiêm kỷ cương, thực hiện công khai, dân chủ trong quá trình thực thi công vụ. Tập trung cải cách thủ tục hành chính theo hướng giảm bớt khó khăn, phiền hà cho dân, tạo điều kiện thông thoáng cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, xử lý nghiêm những trường hợp gây khó khăn nhũng nhiễu nhân dân.

Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật và các chủ trương chính sách của Nhà nước để mọi công dân thực hiện phương châm "Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật". Tăng cường trách nhiệm của các ngành các cấp trong công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Giải quyết dứt điểm những vụ khiếu kiện tồn đọng. Tăng cường phối kết hợp giữa các cơ quan trong việc thực thi pháp luật.

C- Về kinh phí hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh và kinh phí hỗ trợ hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh năm 2004.


Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định dự toán chi ngân sách hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh và kinh phí hỗ trợ hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh năm 2004:


- Hội đồng nhân dân tỉnh: 1.002.896.000 đồng


- Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh: 250.000.000 đồng

D- Tổ chức thực hiện:


Giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch cụ thể, tìm các giải pháp đồng bộ, tổ chức triển khai thực hiện tốt Nghị quyết này.


Giao cho Thường trực Hội đồng nhản dân và các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh tăng cường công tác giám sát, chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót trong quá trình thực hiện Nghị quyết.


Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và đoàn thể chính trị, xã hội tỉnh làm tốt vai trò giám sát và vận động mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia cùng chính quyền các cấp, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2004.


Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Khóa III kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 12 năm 2003.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu09/2003/NQ-HĐT
Ngày ban hành25/12/2003
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực---
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND thành phố Hồ Chí Minh / Trần Văn Khánh
Phạm viBà Rịa - Vũng Tàu
Trích yếuVề phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu năm 2004
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.