Quay lại

Nghị quyết 104/2008/NQ-HĐND về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009

HĐND TỈNH QUẢNG BÌNH
-------

Số: 104/2008/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Quảng Bình, ngày 11 tháng 12 năm 2008

NGHỊ QUYẾT

Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009

_____________________________

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

KHÓA XV, KỲ HỌP THỨ 14

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;

Căn cứ Nghị quyết số 39/2005/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2005 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XV, kỳ họp thứ 6 về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010;

Sau khi xem xét các Báo cáo, Tờ trình của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; Báo cáo thẩm tra của các ban của Hội đồng nhân dân và ý kiến của các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Tán thành đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2008, phương hướng nhiệm vụ năm 2009 với các mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp được nêu trong Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan hữu quan, Hội đồng nhân dân tỉnh nhấn mạnh một số vấn đề sau:

I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2008

Năm 2008, mặc dù gặp nhiều khó khăn, trở ngại, những thiệt hại nặng nề do bão lụt năm trước gây ra chưa khắc phục hết, đầu năm lại bị rét đậm, rét hại kéo dài, dịch bệnh gia súc, gia cầm tái phát; đặc biệt do ảnh hưởng của lạm phát làm cho giá vật tư, hàng hóa tăng cao; lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng tăng mạnh... ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Nhưng nhờ sự quan tâm, giúp đỡ của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành tập trung của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh nên nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn đạt được kết quả khá trên nhiều lĩnh vực, hầu hết các chỉ tiêu cơ bản đạt và vượt kế hoạch đề ra.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,42%; giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng 5,26%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 20,25%, giá trị các ngành dịch vụ tăng 12,1%, sản lượng lương thực tăng 11,2% so cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu 62,9 triệu USD (vượt mục tiêu đến 2010 là 58 triệu USD); thu ngân sách trên địa bàn vượt 11,9% so kế hoạch. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được tăng cường; công tác xúc tiến đầu tư đạt được nhiều kết quả khả quan. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, thực hiện các chính sách xã hội được quan tâm chỉ đạo, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao có nhiều khởi sắc, quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, đời sống nhân dân cơ bản ổn định. Hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp từng bước được đổi mới và không ngừng nâng cao chất lượng.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội năm 2008 còn nhiều tồn tại hạn chế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng chưa đạt chỉ tiêu đề ra, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa mạnh. Công tác cải cách hành chính, tiến độ thực hiện một số chương trình, dự án còn chậm, công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân còn hạn chế. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao so với bình quân chung của cả nước; đời sống nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai vẫn còn nhiều khó khăn. Việc giải quyết một số vấn đề xã hội bức xúc còn chậm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, tình trạng vi phạm lâm luật vẫn diễn biến phức tạp.

II. MỤC TIÊU VÀ CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI CHỦ YẾU NĂM 2009

1. Mục tiêu tổng quát
Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý và bền vững. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế; chú trọng phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo tinh thần Nghị quyết TW7 (khóa X). Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường hiệu lực và hiệu quả của bộ máy chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp xã. Nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao theo hướng xã hội hóa; phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm của tỉnh; tích cực giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường. Quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Chủ động đẩy mạnh các hoạt động hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Chủ đề năm 2009 là:Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh và phát triển nguồn nhân lực.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 11,0 - 12,0%;
- Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng 4,0 - 4,5%;
- Sản lượng lương thực 25,5 vạn tấn;
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 18 - 18,5%;
- Giá trị các ngành dịch vụ tăng 12,5 - 13%;
- Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm, ngư nghiệp: 22,5%; công nghiệp - xây dựng: 38,2%; dịch vụ: 39,3%;
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu 68 triệu USD, tăng 8,1%;
- Tổng thu ngân sách trên địa bàn 900 tỷ đồng;
- Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm 3,5 - 4,0% so với năm 2008;
- Giải quyết việc làm cho 2,9 vạn lao động;
- Phổ cập THCS cho 98,1% xã, phường, thị trấn;
- Giảm tỷ suất sinh 0,35 - 0,4%o;
- Tỷ lệ các trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia 54,7% và tỷ lệ trạm y tế xã, phường, thị trấn có bác sĩ đạt: 84,3%;
- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn 26 - 26,5% ;
- Tỷ lệ hộ nông thôn dùng nước hợp vệ sinh 70%;
- GDP bình quân đầu người 720 USD/người;
III. CÁC NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tập trung đẩy mạnh việc huy động các nguồn lực nhằm mở rộng, phát triển sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Đẩy mạnh huy động các nguồn lực để thúc đẩy thực hiện các dự án đầu tư, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, tiếp tục thực hiện cổ phần hóa, sắp xếp, đổi mới nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Phát huy và nâng cao hiệu quả các cơ sở sản xuất, kinh doanh hiện có. Khai thác và phát huy hiệu quả cơ sở hạ tầng quan trọng đã được đầu tư. Tiếp tục hỗ trợ và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng các dự án mới như: Các dự án xi măng, luyện gang và sản xuất phôi thép, điện.v.v.. Nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành dịch vụ. Đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án du lịch, nghỉ dưỡng; triển khai xây dựng các khu đô thị mới Bảo Ninh và Nam đường Trần Hưng Đạo. Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư... nhằm thúc đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, đảm bảo chất lượng và bền vững.

2. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, điều hành nền kinh tế, quản lý sử dụng ngân sách Nhà nước, tăng cường quản lý thị trường, giá cả tiếp tục kiềm chế lạm phát, ngăn ngừa suy giảm kinh tế.
Tăng cường vai trò và năng lực của các cơ quan tham mưu tổng hợp trong công tác quản lý, điều hành nền kinh tế; nâng cao chất lượng phân tích và dự báo tình hình để chủ động xây dựng và thực hiện các phương án ứng phó thích hợp, hạn chế tác động bất lợi đến sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân.
Trên cơ sở đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh để đảm bảo nguồn thu ổn định, vững chắc; tăng cường quản lý chặt chẽ các nguồn thu để tăng thu ngân sách Nhà nước, phấn đấu vượt dự toán năm 2009 để tạo tiền đề cho thực hiện mục tiêu thu ngân sách năm 2010 đạt 1.000 tỷ đồng. Thực hiện tiết kiệm trong chi tiêu, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước, chống lãng phí; kiên quyết xử lý dứt điểm các trường hợp nợ ngân sách kéo dài và giảm dần tình trạng nợ đọng thuế. Tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra trong quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản, chấn chỉnh kịp thời các sai phạm. Tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình xây dựng cơ bản để sớm đưa vào khai thác, sử dụng. Nghiên cứu phương án xây dựng trung tâm hành chính liên cơ quan cấp tỉnh để tiết kiệm quỹ đất, đồng thời tạo điểm nhấn về cảnh quan đô thị cho thành phố Đồng Hới.
Tăng cường giám sát các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng về thực hiện cơ chế lãi suất theo đúng quy định, bảo đảm cho các thành phần kinh tế vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh thuận lợi, hiệu quả và an toàn. Tổ chức tốt thị trường, bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời các mặt hàng thiết yếu như: Điện, xăng dầu, sắt thép, xi măng, phân bón, thuốc trừ sâu và các mặt hàng phục vụ chính sách xã hội cho đồng bào miền núi, hàng tiêu dùng thiết yếu... Đẩy mạnh công tác quản lý thị trường, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, chống đầu cơ buôn lậu và gian lận thương mại.

3. Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch.
Đổi mới phương pháp làm quy hoạch phù hợp với kinh tế thị trường. Sử dụng có hiệu quả năng lực của các tổ chức tư vấn trong nước và quốc tế để xây dựng các quy hoạch trọng điểm như: Quy hoạch tổng thể phát triển Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Hòn La, quy hoạch xây dựng nông thôn, quy hoạch chung thành phố Đồng Hới và quy hoạch các khu đô thị mới. Tăng cường hơn nữa công tác quản lý các quy hoạch, thực hiện công khai, minh bạch, tổ chức lấy ý kiến của nhân dân trong việc xây dựng và công bố các quy hoạch trên địa bàn để nhân dân và nhà đầu tư, các doanh nghiệp biết chủ động lựa chọn dự án đầu tư và kiểm tra, giám sát việc thực hiện; điều chỉnh kịp thời các quy hoạch không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

4. Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, tập trung phát triển nguồn nhân lực.
Tiếp tục sửa đổi bổ sung các cơ chế chính sách nhằm ưu đãi, khuyến khích thu hút các dự án đầu tư vào phát triển sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực công nghiệp, du lịch và chế biến nông, lâm, thủy sản; ưu tiên hỗ trợ tạo điều kiện cho những doanh nghiệp đầu tư vào các ngành nghề, địa bàn khó khăn, giải quyết việc làm, phát triển chăn nuôi, thủy sản, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn, vùng miền núi, vùng nghèo; gắn thu hút đầu tư với tăng cường công tác quản lý và bảo vệ môi trường.
Khai thác phát huy có hiệu quả các cơ sở hạ tầng hiện có, đồng thời tập trung tiếp tục đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất, hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu du lịch, dịch vụ để thu hút mời gọi các dự án đầu tư cả trước mắt và về lâu dài.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung vào cải tiến thủ tục hành chính theo hướng tập trung một đầu mối; thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” và đề cao trách nhiệm, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, đảm bảo thuận lợi cho nhà đầu tư và nhân dân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh.
Làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền vận động nhân dân. Tạo sự đồng thuận trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm, trước hết là trong công tác giải phóng mặt bằng, nâng cao trách nhiệm của hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, nhất là của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương trong triển khai chủ trương thu hút đầu tư của tỉnh.
Tập trung đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư. Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nghề của các trung tâm đào tạo nghề trong tỉnh. Chú trọng công tác xuất khẩu lao động. Thực hiện Đề án thành lập Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật trên cơ sở sáp nhập Trường Trung học Kinh tế và Trường Trung học Kỹ thuật công nông nghiệp. Phát triển mô hình liên doanh, liên kết để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

5. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan hành chính Nhà nước.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương bảo đảm sự chỉ đạo điều hành, thông suốt, kịp thời, sâu sát, tập trung hướng về cơ sở để tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Đề cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan Nhà nước; kiên quyết chấn chỉnh, khắc phục những biểu hiện tắc trách, sách nhiễu, gây phiền hà trong giải quyết công việc của một bộ phận công chức trong các cơ quan, đơn vị địa phương... Thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của tỉnh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng, kiềm chế lạm phát.

6. Tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân.
Quán triệt và triển khai thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm của tỉnh. Chú trọng nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện tốt chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công để đưa nhanh các tiến bộ về giống cây trồng vật nuôi, kỹ thuật canh tác, nuôi trồng, phòng trừ dịch bệnh, bảo quản, chế biến và phát triển ngành nghề nông thôn; khuyến khích, huy động các nguồn lực đầu tư nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn góp phần cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại để hình thành những vùng sản xuất hàng hóa, tập trung; có giải pháp hiệu quả để hỗ trợ cho nông dân trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông, lâm, thủy sản.

7. Các giải pháp về đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa xã hội.
- Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch mạng lưới trường lớp ở các địa phương để làm cơ sở cho việc đầu tư xây dựng, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, mà trước hết là các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông. Tiếp tục thực hiện các biện pháp đồng bộ nhằm giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học. Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào giáo dục - đào tạo.
- Tập trung huy động, lồng ghép các nguồn lực đầu tư tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế, nhất là cho trạm y tế cơ sở tuyến xã, các trung tâm dự phòng thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; phòng chống HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội khác. Tăng cường quản lý hành nghề y dược tư nhân. Đầu tư nguồn lực để thực hiện tốt việc giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng; thực hiện có hiệu quả công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình.
- Tiếp tục thực hiện các chính sách an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo; chú trọng khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia công tác giảm nghèo, hoạt động nhân đạo, từ thiện. Thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng hỗ trợ người nghèo, các đối tượng chính sách phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống. Triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế, chính sách của Chính phủ về hỗ trợ xóa đói giảm nghèo đối với huyện còn trên 50% hộ nghèo (huyện Minh Hóa).
- Khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các hoạt động văn hóa, thể dục - thể thao; đặc biệt là văn hóa truyền thống và thể thao thành tích cao. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Tăng cường quản lý Nhà nước đối với các hoạt động thông tin, truyền thông; khai thác phát huy hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị công nghệ thông tin đã đầu tư ở các cấp, các ngành, các doanh nghiệp.

8. Đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện tốt Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể xã hội và các cơ quan thông tấn, báo chí trong công tác phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở. Bảo đảm công khai, minh bạch các hoạt động kinh tế, tài chính ở các cơ quan đơn vị và các cấp ngân sách. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra xử lý các vụ việc tiêu cực, tham nhũng. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng chức, quyền để tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí tài sản, tiền vốn của Nhà nước và nhân dân.

9. Củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững trật tự an toàn xã hội.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh. Thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; chủ động xử lý hiệu quả khi có tình huống xấu xảy ra, kiên quyết đấu tranh triệt phá các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Bảo đảm trật tự an toàn giao thông, kiềm chế và giảm số vụ tai nạn, số người chết và bị thương do tai nạn giao thông.

Điều 2. Giao Ủy ban nhân dân tỉnh cụ thể hóa, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết này. Trong quá trình chỉ đạo, điều hành nếu có những vấn đề phát sinh, Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh giải quyết và báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp gần nhất.

Điều 3. Giao Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện Nghị quyết này.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên của Mặt trận tích cực giám sát và động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình khóa XV kỳ họp thứ 14 thông qua./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu104/2008/NQ-HĐND
Ngày ban hành11/12/2008
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực21/12/2008
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo10/01/2009
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Quảng Trị / Lương Ngọc Bính
Phạm viQuảng Bình
Trích yếuVề nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.