|
HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC ******** |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ******** |
|
Số: 136/NQ/HĐNN7 |
Hà Nội, ngày 18 tháng 9 năm 1982 |
QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚCSỐ 236 NQ/HĐNN7 NGÀY 18 THÁNG 9 NĂM 1982
HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Căn cứ vào Điều 57, 58 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, ngày 18-12-1980; Căn cứ Quyết định ngày 17-6-1982 của Hội đồng Nhà nước về việc tiến hành bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội khoá VII ở một số đơn vị bầu cử để thay thế các đại biểu đã từ trần,
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1 Tiến hành việc bầu cử bổ sung đại biểu quốc hội khoá VII ở các đơn vị bầu cử sau đây:
1- Thành phố Hải Phòng: bầu bổ sung một đại biểu Quốc hội ở đơn vị số 3 của thành phố, gồm các huyện Đồ Sơn, Kiến An, Tiên Lãng và Vĩnh Bảo, vào ngày chủ nhật 31 tháng 10 năm 1982.
2- Tỉnh Sơn La: bầu bổ sung một đại biểu Quốc hội, vào ngày chủ nhật 7 tháng 11 năm 1982.
3- Tỉnh Gia Lai - Kon Tum: bầu bổ sung một đại biểu Quốc hội, vào ngày chủ nhật 21 tháng 11 năm 1982.
Điều 2 Việc bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội tiến hành theo quy định ở các Điều 58, 59, 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội.
Luật Không số bầu cử Đại biểu Quốc hội
Điều 61
Chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Uỷ ban nhân dân xã, phường hoặc cấp tương đương thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một tổ bầu cử bổ sung từ năm đến bảy người, gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số đoàn thể nhân dân ở cơ sở.
Tổ bầu cử bổ sung bầu ra một tổ trưởng, một phó tổ trưởng và một thư ký.
Điều 63
Danh sách những người do Mặt trận Tổ quốc ở địa phương khuyết đại biểu giới thiệu ra ứng cử được công bố chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử.
Điều 60
Chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày bầu cử bổ sung, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính cấp tương đương thành lập ở đơn vị bầu cử một ban bầu cử bổ sung, từ ba đến năm người, gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số đoàn thể nhân dân địa phương.
Ban bầu cử bổ sung bầu ra một trưởng ban, một phó trưởng ban và một thư ký.
Điều 64
Những khiếu nại về công tác của tổ bầu cử bổ sung do ban bầu cử bổ sung giải quyết. Những khiếu nại về công tác của ban bầu cử bổ sung do uỷ ban bầu cử bổ sung giải quyết.
Điều 62
Quyền hạn và nhiệm vụ của uỷ ban bầu cử bổ sung, ban bầu cử bổ sung, tổ bầu cử bổ sung và thể thức bỏ phiếu bầu cử bổ sung cũng theo những quy định về Hội đồng bầu cử, ban bầu cử, tổ bầu cử và về trình tự bầu cử, kết quả bầu cử nói ở luật này.
Điều 59
Danh sách cử tri do Uỷ ban nhân dân xã, phương hoặc cấp tương đương lập phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung.
Điều 58
Quyết định bầu cử bổ sung của Hội đồng Nhà nước được công bố chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử.
Luật Không số bầu cử Đại biểu Quốc hội
Điều 61
Chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Uỷ ban nhân dân xã, phường hoặc cấp tương đương thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một tổ bầu cử bổ sung từ năm đến bảy người, gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số đoàn thể nhân dân ở cơ sở.
Tổ bầu cử bổ sung bầu ra một tổ trưởng, một phó tổ trưởng và một thư ký.
Điều 63
Danh sách những người do Mặt trận Tổ quốc ở địa phương khuyết đại biểu giới thiệu ra ứng cử được công bố chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử.
Điều 60
Chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày bầu cử bổ sung, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính cấp tương đương thành lập ở đơn vị bầu cử một ban bầu cử bổ sung, từ ba đến năm người, gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số đoàn thể nhân dân địa phương.
Ban bầu cử bổ sung bầu ra một trưởng ban, một phó trưởng ban và một thư ký.
Điều 64
Những khiếu nại về công tác của tổ bầu cử bổ sung do ban bầu cử bổ sung giải quyết. Những khiếu nại về công tác của ban bầu cử bổ sung do uỷ ban bầu cử bổ sung giải quyết.
Điều 62
Quyền hạn và nhiệm vụ của uỷ ban bầu cử bổ sung, ban bầu cử bổ sung, tổ bầu cử bổ sung và thể thức bỏ phiếu bầu cử bổ sung cũng theo những quy định về Hội đồng bầu cử, ban bầu cử, tổ bầu cử và về trình tự bầu cử, kết quả bầu cử nói ở luật này.
Điều 59
Danh sách cử tri do Uỷ ban nhân dân xã, phương hoặc cấp tương đương lập phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung.
Điều 58
Quyết định bầu cử bổ sung của Hội đồng Nhà nước được công bố chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử.