Quay lại

Nghị quyết 15/2004/NQ-HĐND về nhiệm vụ phát triển Kinh tế - xã hội năm 2005.

HĐND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 15/2004/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 21 tháng 12 năm 2004

- Căn cứ vào Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992;

- Căn cứ vào Điều 11 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Sau khi nghe báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, báo cáo của các ngành chức năng, kiến nghị của Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh, thuyết trình của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

I. Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2004, phương hướng, nhiệm vụ năm 2005 với những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được nêu trong báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng thời nhấn mạnh một số vấn đề sau đây:

1. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2004.

Năm 2004, mặc dù phải đương đầu với nhiều khó khăn và thách thức nhưng tình hình kinh tế và xã hội ở Bến Tre phát triển khá toàn diện, đạt và vượt nhiều chỉ tiêu cơ bản. Trong đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Các nguồn lực cho đầu tư phát triển được huy động tốt hơn, nhiều công trình quan trọng đã được đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả. Thu ngân sách vượt dự toán. Kinh tế trang trại, kinh tế tập thể phát triển và có nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ tăng trưởng khá cao. Hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được đầu tư. Các lĩnh vực văn hoá – xã hội đều có bước phát triển. Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Tình hình chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được củng cố.

Đạt được những kết quả trên là do có sự phấn đấu rất lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, sự điều hành sâu sát, năng động, kiên quyết của Uỷ ban nhân dân tỉnh, sự cố gắng của các ngành, các cấp, sự giám sát có hiệu quả của các cơ quan dân cử và sự ủng hộ, giúp đỡ của các Bộ, ngành Trung ương.

Bên cạnh những thành tựu, tiến bộ đã đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh còn những khó khăn và hạn chế: tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng chất lượng chưa cao và còn một số yếu tố chưa vững chắc; chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng nhưng chậm. Trong nông nghiệp, việc chọn đối tượng sản xuất để chuyển đổi cơ cấu có nơi còn lúng túng nhất là ở vùng nước lợ. Hệ thống thuỷ lợi chưa đồng bộ. Việc quản lý con giống và môi trường nuôi thuỷ sản chưa chặt chẽ nên còn nhiều rủi ro và thiệt hại trong sản xuất. Tiến độ xây dựng các khu, cụm công nghiệp còn chậm. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, sức thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp còn hạn chế. Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh nhưng chưa đạt kế hoạch. Chất lượng giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, công tác phòng chống dịch bệnh, dạy nghề và giải quyết việc làm còn có mặt chưa tốt. Tình hình tội phạm, tai nạn và tệ nạn xã hội có bước được kéo lùi nhưng còn ở mức cao. Tình hình khiếu kiện của nhân dân nhất là về đất đai vẫn còn một số vụ gay gắt, tập trung đông người giải quyết chưa dứt điểm. Công tác điều tra, xét xử và công tác thi hành án tuy có tiến bộ nhưng còn tồn đọng nhiều. Đây là những vấn đề cần tập trung khắc phục trong năm 2005.

2. Mục tiêu tổng quát và chỉ tiêu chủ yếu năm 2005.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII và kế hoạch Nhà nước 5 năm (2001-2005), tạo tiền đề để Bến Tre phát triển nhanh, vững chắc hơn nữa trong giai đoạn sau, tỉnh ta trong năm 2005 cần phát huy tối đa nội lực, thu hút, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả các nguồn ngoại lực, phấn đấu đạt mục tiêu tổng quát là: “Bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững hơn; chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phát triển thị trường; nâng cao hơn nữa về chất lượng và hiệu quả đầu tư; đẩy mạnh việc xây dựng kết cấu hạ tầng và nâng cao trình độ ứng dụng khoa học – công nghệ. Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, nhất là xoá đói giảm nghèo, giảm tỷ trọng tăng dân số tự nhiên với việc nâng cao chất lượng dân số và cải thiện đời sống nhân dân; nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - xã hội; ngăn chặn có hiệu quả tệ tham nhũng, lãng phí, tệ quan liêu, sách nhiễu trong bộ máy Nhà nước; đẩy mạnh việc cái cách hành chính, cải cách tư pháp và thực hiện quy chế dân chủ; giữ vững, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, giảm các loại tội phạm, các tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông”.

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất các chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội năm 2005 (so với năm 2004) như sau:

- Tốc độ tăng trưởng GDP tăng lên 12%:

+ Giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp tăng 7,6%.

+ Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 23,9%.

+ Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 14,7%.

- Cơ cấu ngành kinh tế trong GDP:

+ Nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 58,1%.

+ Công nghiệp, xây dựng chiếm 17,6%.

+ Các ngành dịch vụ chiếm 24,3%.

(Phấn đấu đạt chỉ tiêu Đại hội tỉnh Đảng bộ lần VII).

- Tổng kim ngạch xuất khẩu: đạt 130 triệu USD.

- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn: 653,598 tỷ đồng.

- Tổng vốn đầu tư xã hội tăng 24,3%.

- 85% xã, phường, thị trấn đạt phổ cập trung học cơ sở.

- Giảm tỷ suất sinh: 0,2‰.

- Lao động qua đào tạo đạt 25%. Tạo và giải quyết việc làm cho 30.000 lao động.

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh xuống còn 4%.

- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 23%.

- Phấn đấu 45% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch.

3. Các nhiệm vụ và giải pháp chính:

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất về các nhiệm vụ cụ thể và giải pháp để thực hiện như Uỷ ban nhân dân tỉnh đã báo cáo và các ý kiến bổ sung của các Ban và các Đại biểu. Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý Uỷ ban nhân dân tỉnh một số điểm cơ bản về các giải pháp sau:

a) Về kinh tế:

Uỷ ban nhân dân tỉnh cần bám sát các mục tiêu và dựa vào các quy hoạch để chỉ đạo, điều hành thật đồng bộ. Một số lĩnh vực cần điều chỉnh hoặc xây dựng quy hoạch mới để sự chỉ đạo luôn sát hợp và có hiệu quả.

Trên lĩnh vực nông nghiệp:

Kết hợp chặt các biện pháp về giống, thuỷ lợi, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật đồng thời nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả như xen canh, luân canh, phát triển trang trại và các loại hình hợp tác để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng nhằm đạt mục tiêu giá trị sản xuất bình quân 50 triệu đ/ha. Cần chú ý giải quyết các khó khăn của vùng lợ và tăng cường quản lý về giống, môi trường, các dịch vụ và thời vụ sản xuất thuỷ sản, hạn chế rủi ro.

Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp:

Phát huy tối đa năng lực sản xuất của các cơ sở đang có. Tập trung xây dựng Khu Công nghiệp Giao Long và các cụm công nghiệp đã quy hoạch, đồng thời áp dụng các chính sách để thu hút mạnh các thành phần kinh tế đầu tư mới, nâng tỷ trọng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu GDP theo mục tiêu đã đề ra.

Tiếp tục thực hiện việc sắp xếp và nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước.

Thành lập Trung tâm Khuyến công để chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ và thúc đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, phát triển các làng nghề.

Thương mại – du lịch xuất khẩu:

- Tăng cường các biện pháp thông tin thị trường, xúc tiến thương mại, ứng dụng công nghệ thông tin trong thương mại và xây dựng thương hiệu để mở rộng thị trường, tăng tính cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá trong tỉnh. Huy động mọi nguồn hàng để thực hiện cho được chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu. Tiến hành đầu tư xây dựng các cảng hàng hoá và các chợ đầu mối để nâng cao khả năng tiêu thụ các hàng hoá nông – thuỷ sản.

- Gắn việc phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội với phát triển du lịch, tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn cùng với việc nâng cao năng lực tổ chức các hoạt động du lịch, để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.

Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội:

Quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư nhất là từ ngân sách Nhà nước, vốn vay, các nguồn ODA và huy động sự đóng góp của nhân dân để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong năm, phải triển khai thực hiện tốt dự án năng lượng điện RE II và hoàn thành cơ bản giao thông nông thôn.

Cần tập trung tháo gỡ các vướng mắc trong việc đền bù giải toả, giải phóng mặt bằng và quản lý chặt các khâu trong đầu tư – xây dựng, nhằm chống các tiêu cực, thất thoát và tăng hiệu quả đầu tư XDCB, phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra.

Về tài chính, ngân hàng:

- Phấn đấu thực hiện vượt dự toán thu ngân sách đồng thời với việc nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Nhưng phải quản lý chặt chẽ các khoản phân bổ và chi ngân sách (cả của địa phương và TW), chống thất thoát, lãng phí. Đồng thời tập trung các nguồn đầu tư (bao gồm từ ngân sách, ngân hàng, vốn vay và viện trợ) vào đúng mục tiêu kinh tế - xã hội, với hiệu quả tốt nhất.

b) Về giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, dân số, gia đình và trẻ em, các vấn đề xã hội, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường:

Phải kết hợp chặt chẽ sự đầu tư của Nhà nước với việc xã hội hoá theo đúng chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, để thực hiện cho được các mục tiêu đã đề ra trên từng lĩnh vực theo kế hoạch của UBND tỉnh. Trong đó cần lưu ý là các hoạt động tuyên truyền, văn hoá văn nghệ - thể thao phải phục vụ tốt cho yêu cầu tổ chức các ngày lễ lớn trong năm 2005.

c) Quốc phòng, an ninh, trật tư an toàn xã hội, cải cách hành chính và tư pháp:

Phải kết hợp chặt các biện pháp đấu tranh, các hoạt động của Nhà nước, lực lượng công an và phong trào của quần chúng để bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch: ngăn chặn và kéo giảm các loại tội phạm, các tệ nạn và tai nạn xã hội, nhất là tội phạm về cướp giật, ma tuý, mại dâm, tai nạn giao thông và điện trên mọi địa bàn.

Tiếp tục nâng cao số lượng và chất lượng các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án theo hướng cải cách tư pháp.

Tập trung giải quyết nhanh các vụ khiếu nại tố cáo của dân còn tồn đọng ở mỗi cấp và kiên quyết thực hiện các quyết định hành chính đã có hiệu lực.

Tiếp tục đẩy mạnh và đồng bộ hơn nữa các nội dung cải cách hành chính ở 3 cấp và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Nâng cao chất lượng toàn diện về đội ngũ cán bộ - công chức, bộ máy, hiệu quả hoạt động và thái độ phục vụ nhân dân.

II. Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết này.

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có trách nhiệm giúp Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết ở các ngành, các cấp đúng chức năng và đúng pháp luật.

Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải gương mẫu thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đồng thời giám sát, tuyên truyền, động viên cử tri thực hiện tốt Nghị quyết.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre khoá VII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 2004./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu15/2004/NQ-HĐND
Ngày ban hành21/12/2004
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực28/12/2004
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Vĩnh Long / Huỳnh Văn Be
Phạm viBến Tre
Trích yếuVề nhiệm vụ phát triển Kinh tế - xã hội năm 2005.
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.