|
HĐND TỈNH HƯNG YÊN Số: 172/2005/NQ-HĐ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Hưng Yên, ngày 30 tháng 12 năm 2005 |
NGHỊ QUYẾT
Về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2006
________________________
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
KHÓA XIV - KỲ HỌP THỨ TƯ
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003, Luật Ngân sách nhà nước;
Căn cứ Quyết định số: 1194/2005/QĐ-TTg ngày 09/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 1177/QĐ-BKH ngày 11/11/2005 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về giao chỉ tiêu kế hoạch đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước năm 2006, Quyết định 1266/QĐ-BKH ngày 7/12/2005 của Bộ kế hoạch và Đầu tư về việc giao chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2006; Quyết định số 4060/QĐ-BTC ngày 10/11/2005 của Bộ Tài chính về giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2006 tỉnh Hưng Yên;
Sau khi xem xét báo cáo số 86/BC-UB ngày 24/12/2005 và dự thảo Nghị quyết của UBND tỉnh, báo cáo của các cơ quan hữu quản, báo cáo thẩm tra của các Ban và ý kiến của các đại biểu HNĐN tỉnh.
QUYẾT NGHỊ:
Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành nội dung các báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2005 và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh và cơ quan hữu quan; đồng thời nhấn mạnh một số nội dung sau:
I. Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2005.
Năm 2005, năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến động ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh ta; chỉ số giá tiêu dùng vẫn ở mức cao, thời tiết đầu năm rét đậm, hạn hán xảy ra trên diện rộng, cuối vụ do ảnh hưởng của cơn bão số 7 làm một số diện tích lúa bị đổ…. Song với sự cố gắng của Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh, đã thu được kết quả khả quan trên tất cả các lĩnh vực: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt kế hoạch 12,9% (kế hoạch 12,9%); giá trị sản xuất nông nghiệp và thủy sản tăng 4,7% (kế hoạch 5%); giá trị sản xuất công nghiệp tăng 30% (KH 29,5%); giá trị các ngành dịch vụ tăng 17% (KH 18%); cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, NNo - CN, XD - DV: 30,5% - 38% - 31,5% (KH32,5% - 35,5% - 32%); GDP bình quân dầu người đạt 550 USD (KH 550 USD); kim ngạch xuất khẩu đạt 210,5 triệu USD (KH 210 triệu USD); tổng thu ngân sách trên đại bàn đạt 1.250 tỷ đồng (KH 1.100 tỷ đồng), trong đó: Thu nội địa gần 600 tỷ đồng và thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 650 tỷ; giá trị thu được trên 1 ha canh tác đạt 39 triệu đồng (KH 39 Tr.đ); tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 0,99%; vấn đề giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả khá, tỷ lệ hộ nghèo còn 13,2% theo chuẩn mới; tạo thêm việc làm mới cho 2,2 vạn lao động (KH 2,2 vạn); Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh tiếp tục phát triển, các chỉ số giáo dục tăng nhanh; công tác dạy nghề có tiến bộ, đào tạo được 5.620 lao động; dạy nghề cho nông đân, người tàn tật và chuyển giao công nghệ 9.500 người; hoạt động chăm sóc người có công và các đối tượng chính sách được duy trì và mở rộng, mua thẻ BHYT cho 34.680 đối tượng nghèo, với kinh phí 1.734 triệu đồng; Mạng lưới y tế được củng cố và phát triển, các dịch vụ y tế ngày càng đa dạng và được quản lý chặt chẽ hơn, 100% trạm xá xã có bác sĩ và 40% số xã đạt chuẩn về y tế; văn hóa, thông tin, phát thanh, truyền hình tiếp tục có những chuyển biến tích cực, có 55% làng, khu phố được công nhận làng, khu phố văn hóa (KH 55%); công tác quốc phòng, an ninh có nhiều tiến bộ, tình hình chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội có nhiều tiến bộ, an ninh nông thôn ổn định.
Hội đồng nhân dân tỉnh biểu dương sự nỗ lực phấn đấu của các tầng lớp nhân dân, sự quản lý, chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành đã góp phần tích cực vào những thành tựu đạt được về phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2005.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được là chủ yếu, vẫn còn một số tồn tại, yếu kém: Diện tích gieo trồng cây vụ đồng còn chiếm tỷ lệ thấp, chưa trở thành một vụ sản xuất chính. Các loại hình hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hoạt động còn hạn chế. Tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân cư còn chậm. Tiến độ triển khai các KCN làng nghề tiểu thủ công nghiệp và công tác lập quy hoạch các KCN tập trung không đảm bảo kế hoạch; việc phát triển công nghiệp ở các huyện phía Nam của tỉnh vẫn còn khó khăn, chưa hấp dẫn được các nhà dầu tư. Du lịch, dịch vụ phát triển chậm, chưa tạo ra sản phẩm du lịch có tính hấp dẫn. Chất lượng bưu chính viễn thông hạn chế. Công tác chuẩn bị cho hội nhập kinh tế quốc tế chưa được quan tâm đúng mức. Nguồn vốn và tiến độ GPMB và xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, nhất là đường giao thông, khu đô thị còn chậm. Hiệu quả đầu tư và sử dụng vốn đầu tư tuy đã có nhiều cố gắng song việc sử dụng nguồn vốn phân cấp của một số huyện còn phân tán; việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng ở một số địa phương chưa tốt. Các dự án sử dụng nguồn vốn ODA triển khai chậm, nhất là dự án cấp nước thị xã Hưng Yên. Các dự án sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng triển khai chậm. Chất lượng giáo dục và đào tạo tuy đã được nâng nên nhưng chưa đáp ứng được đòi hỏi của xã hội. Cơ cấu đào tạo vẫn còn bất hợp lý với tình hình thực tế của địa phương, tỷ lệ đào tạo nghề dài hạn còn ở mức thấp. Chất lượng nguồn lao động và năng xuất lao động chưa cao. Các loại hình dịch vụ y tế, nhất là dịch vụ chất lượng cao chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân. Chất lượng các hoạt động văn hóa còn hạn chế. Tiến độ triển khai các dự án xử lý rác thải công nghiệp và đô thị chậm. Chưa quy hoạch các bãi rác sinh hoạt ở nông thôn. Các tệ nạn xã hội vẫn rất bức xúc, nhất là tội phạm ma túy và số người nghiện hút vẫn tăng; tai nạn giao thông những tháng cuối năm tăng cao. Nhiều nơi việc chấp hành các quyết định, chỉ thị của cấp trên chưa nghiêm; khâu xử lý vi phạm chưa kiên quyết, cụ thể. Tình trạng gây phiền hà trong giải quyết công việc cho nhân dân và các đơn vị, doanh nghiệp vẫn còn xảy ra.
II. Những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản năm 2006.
Năm 2006, năm khởi đầu thực hiện mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 16 đề ra, là năm nước ta bắt đầu thực hiện hội nhập nền kinh tế thế giới; tình hình thế giới và trong nước tuy có nhiều thuận lợi, song thách thức còn nhiều, đòi hỏi tập trung xây dựng chiến lược phát triển, nhằm tăng nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị và tạo đà phát triển cho những năm sau.
* Những mục tiêu chủ yếu
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 13,7%.
- Giá tị sản xuất nông nghiệp tăng 5%
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trên 28%
- Giá trị các ngành dịch vụ tăng trên 16,5%
- Cơ cấu kinh tế NNo- CN, XD-DV: 28,0%-40,2%-31,8%
- GDP bình quân dầu người đạt 650 USD
- Kim ngạch xuất khẩu đạt 270 triệu USD
- Thu NS đạt khoảng 1.450 tỷ đồng (trong đó thu nội địa 670 tỷ)
- Giá trị thu được trên 1ha canh tác 40,5 triệu đồng.
- Duy trì tỷ lệ phát triển dân số dưới 1%; tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 11%; tạo thêm việc làm mới cho 2,3 vạn lao động.
- Tỷ lệ xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 60%.
- Tỷ lệ làng văn hóa đạt 60%.
* Những nhiệm vụ và giải pháp cơ bản
1- Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả gắn với thị trường. Phát triển toàn diện và bền vững trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học trong sản xuất. Chú trọng việc quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với bảo vệ môi trường; tăng cường công tác quản lý và sử dụng đất đai. Xây dựng nông thôn mới, có quan hệ sản xuất phù hợp, tạo tiền đề cho nông nghiệp, nông thôn phát triển toàn diện. Tăng diện tích lúa chất lượng cao đi đôi với việc duy trì một số diện tích lúa có nâng suất cao để đảm bảo nguồn lương thực phục vụ chăn nuôi và an ninh lương thực. Xây dựng đề án phát triển ngành trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản cho 5 năm tiếp theo 2006-2010. Tăng cường công tác phòng chống lụt bão, quản lý đê điều và thủy lợi nội đồng.
2- Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Tạo điều kiện thuận lợi phát triển sản phẩm có tính cạnh tranh cao trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, các sản phẩm sử dụng công nghệ cao, sản phẩm phục vụ nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm như điện tử, xe máy, ô tô, nguyên phụ liệu dệt may, giầy dép… Ưu tiên thu hút các dự án có quy mô lớn, đóng góp nhiều cho ngân sách: tại điều kiện thuận lợi để các dự án mới sớm đi vào sản xuất. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN tập trung đã được thành lập và 10 KCN làng nghề đã được hình thành. Phối hợp với các Bộ, Ngành trung ương phổ biến rộng rãi cho các doanh nghiệp về những thách thức và thuận lợi khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
3. Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có tiềm năng, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào các ngành dịch vụ như: khách sạn, nhà hàng, nhà ở cho công nhân, trước hết là ở khu đô thị và khu công nghiệp; nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ; có chính sách hỗ trợ đẩu tư cho các ngành dịch vụ có khả năng cạnh tranh; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động dịch vụ. Tích cực tuyên truyền, vận đồng cho các doanh nghiệp sớm xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án phát triển đô thị mới đảm bảo hiệu quả cao.
4. Tích cực mở rộng thị trường, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, đa dạng hóa quan hệ với các đối tác, tận dụng khả năng để tăng mức xuất khẩu trên các thị trường; tiếp tục nâng cao tỷ trọng xuất khẩu qua chế biến và tỷ trọng hàng hóa có hàm lượng chất xám cao. Tiếp tục tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư vào địa bàn tỉnh, đặc biệt ưu tiên khuyến khích dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng các KCN. Các dự án đã được cấp giấy phép cần thực hiện đúng cam kết và tiến độ xây dựng và hoạt động.
5. Thực hiện triển khai đồng bộ các biện pháp thu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách nhà nước. Tập trung chỉ đạo thật tốt việc thu thuế, nhất là các khoản thu liên quan đến đất đai. Chi ngân sách đúng dự toán, thực hiện tốt việc khoán quỹ lương, đảm bảo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tăng nguồn vốn cho đầu tư phát triển.
6. Tiếp tục triển khai tốt Luật Giáo dục, Nghị quyết số 05 về đẩy mạnh công tác xã hội hóa và đề án 112 về xây dựng xã hội học tập. Nâng cao các chỉ số phát triển giáo dục. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về y tế đảm bảo chăm sóc tốt hơn sức khỏe của nhân dân; chủ động phòng chống dịch bệnh, thiên tai lũ lụt, bệnh xã hội và các bệnh dịch nguy hiểm. Củng cố kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở. Tiếp tục duy trì xu thế giảm sinh, tăng cường chất lượng dịch vụ chăm sóc sử khỏe sinh sản. Đẩy mạnh thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phòng trào xây dựng làng, khu phố, gia đình, cơ quan, đơn vị văn hóa; quan tâm chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa ở các nơi phát triển công nghiệp. Tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước về văn hóa, nhất là các hoạt động về Internet. Chuẩn bị tốt cho Đại hội TDTT cấp tỉnh và lực lượng tham dự Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ V năm 200 Ứng dụng có hiệu quả các thành tựu KHCN, các tiến bộ kỹ thuật phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; chú trọng ứng dụng các tiến bộ công nghệ sinh học . Tăng cường thanh tra, kiểm tra ô nhiễm môi trường đối với các cơ sở sản xuất. Đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” “Uống nước nhớ nguồn”, quan tâm người già cô đơn không nơi nương tựa, những nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam, người nghèo… đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo. Tăng cường công tác giải quyết việc làm và dạy nghề cho lao động.
7. Tăng cường nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, nâng cao chất lượng công tác công an trong tình hình mới. Đẩy mạnh tấn công trấn áp tội phạm, giảm tội phạm hình sự, tội phạm ma túy và tai nạn giao thông. Nâng cao chất lượng công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo hợp pháp của công dân theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân. Tiếp tục duy trì thực hiện nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh, hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân năm 2006. Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện để sẵn sàng khắc phục hậu quả thiên tai, cháy nổ có thể xảy ra. Thực hiện tốt kế hoạch huấn luyện cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang tỉnh, nâng cao hơn nữa năng lực công tác và trình độ sẵn sàng chiến đấu.
8. Thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả cơ chế một cửa tại các cơ quan hành chính của tỉnh; đẩy mạnh hơn nữa việc phân công, phân cấp cụ thể cho các ngành, địa phương để nâng cao tính chủ động, chịu trách nhiệm, tránh tình trạng trùng lặp, đùn đẩy, né tranh trong giải quyết công việc. Tiếp tục triển khai tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, cải tiến các hình thức, tranh thủ ý kiến của nhân dân và cán bộ công chức tại cơ quan, cải cách phương thức tiếp dân, đảm bảo hiệu quả và nhanh chóng.
III. Tổ chức thực hiện
Hội đồng nhân dân tỉnh giao Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết này.
Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đề cao trách nhiệm trong hoạt động giám sát và vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả Nghị quyết này.
Hội đồng nhân dân tỉnh kêu gọi toàn thể nhân dân, các cấp, các ngành, các đơn vị, tổ chức, lực lượng vũ trang trong tỉnh nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng năm 2006.
Nghị quyết này được Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XIV - kỳ họp thứ tư thông qua ngày 30/12/2005.