Quay lại

Nghị quyết 182/2004/NQ-HĐND về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2005

HĐND TỈNH HƯNG YÊN
-------

Số: 182/2004/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Hưng Yên, ngày 17 tháng 12 năm 2004

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

KHOÁ XIV - KỲ HỌP THỨ 2

(Từ ngày 15 - 17/12/2004)

NGHỊ QUYẾT

Về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2005

___________________

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Quyết định số 194/2004/QĐ-TTg ngày 17/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2005; Quyết định số 86/2004/QĐ-BTC ngày 17/11/2004 của Bộ Tài chính giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước; Quyết định số 139 ngày 18/11/2004 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về giao chỉ tiêu kế hoạch đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước năm 2005 tỉnh Hưng Yên;

Trên cơ sở xem xét các báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh, các cơ quan hữu quan; báo cáo thẩm tra của các Ban và ý kiến của Đại biểu HĐND tỉnh.

QUYẾT NGHỊ

Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành nội dung các báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2004 và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2005 của UBND tỉnh và các cơ quan hữu quan; đồng thời nhấn mạnh các vấn đề trọng tâm sau đây:

I. Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2004:

Năm 2004, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp; trong nước giá cả một số mặt hàng tăng, thời tiết đầu năm hạn hán và rét đậm kéo dài, đầu vụ mùa mưa lớn gây gập úng trên diện rộng; dịch cúm gia cầm bùng phát đã ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế tỉnh nhà. Song, với quyết tâm nỗ lực phấn đấu cao của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh vẫn đảm bảo được sự phát triển và tăng trưởng. Các chỉ tiêu cơ bản ước thực hiện: tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) 12,8% (kế hoạch 12,7%), giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,5% (kế hoạch 5%), giá trị sản xuất công nghiệp tăng 29,3% (kế hoạch 27%) giá trị các ngành dịch vụ tăng 15% (kế hoạch 15%), kim ngạch xuất khẩu 170 triệu USD (kế hoạch 115 triệu USD); tổng thu ngân sách trên địa bàn 835 tỷ đồng (kế hoạch 542 tỷ đồng) trong đó: thu ngân sách địa phương 385 tỷ đồng, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 450 tỷ đồng; tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đạt 2.750 tỷ đồng (năm 2003 đạt 2.150 tỷ); thu nhập bình quân đầu người 5,9 triệu đồng (kế hoạch 5,7 triệu đồng). Cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch khá : Nông nghiệp 34%; công nghiệp, xây dựng 34,5%; dịch vụ 31,5% (năm 2003 là 35,3 – 33,2 – 31,5); giá trị thu được trên một ha canh tác đạt 37,5 triệu (năm 2003 là 35,2 triệu); tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,01% (kế hoạch 1%); tỷ lệ hộ nghèo còn 3,7%. Giáo dục đào tọa tiếp tục phát triển, các chỉ số về phát triển giáo dục đạt ở mức cao, được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận hoàn thành 10 tiêu chí giáo dục và là một trong 7 tỉnh được nhận Cờ thi đua; đào tạo được 6.965 lao động cung cấp cho các doanh nghiệp trong tỉnh và đưa 1.200 lao động làm việc ở nước ngoài; tạo việc làm mới cho 21.200 lao động; thực hiện tốt các chính sách xã hội, xây mới 1.054 ngôi nhà Đại đoàn kết. Công tác y tế, dân số, khoa học công nghệ, tài nguyên môi trường, văn hóa, thể dục – thể thao, thông tin tuyên truyền có nhiều tiến bộ; an ninh và quốc phòng được giữ vững, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Hội đồng nhân dân tỉnh biểu dương sự nỗ lực phấn đấu của các tầng lớp nhân dân và sự quản lý, chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành đã góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh năm 2004.

Trong phát triển kinh tế xã hội còn bộc lộ những tồn tại, yếu kém: chất lượng tăng trưởng chung của nền kinh tế chưa đồng đều; chyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở một số huyện còn chậm; các loại hình hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hoạt động kém hiệu quả; hệ thống kênh mương tưới tiêu thiếu đồng bộ, xuống cấp. cơ cấu phát triển công nghiệp chưa hợp lý; các dự án lớn có khả năng đóng góp ngân sách cao còn ít; tiến độ xây dựng hạ tầng khu công nghiệp và triển khai đầu tư thực hiện dự án của một số doanh nghiệp còn chậm hoặc sử dụng đất thuê không đúng mục đích, chưa thực hiện được cam kết về bảo đảm vệ sinh môi trường; việc triển khai dự án giải quyết chất thải, rác thải công nghiệp và đô thị chậm; tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước còn chậm; quản lý, giám sát các nguồn thu chưa chặt chẽ, một số doanh nghiệp còn không hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước, còn để thất thoát nguồn thu, bố trí vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn dàn trải, thời gian kéo dài quá quy định, chất lượng và hiệu quả ở một số công trình thấp; trình tự, thủ tục, thời gian xem xét, thẩm định, phê duyệt các dự án (kể cả thu hút đầu tư và xây dựng cơ bản) còn có biểu hiện gây phiền hà cho các doanh nghiệp và chủ đầu tư, chất lượng thẩm định chưa cao đã ảnh hưởng đến hiệ quả tiếp nhận các dự án đầu tư và các công trình xây dựng cơ bản; tình trạng vi phạm hành lang an toàn giao thông, đê điều và các công trình thủy lợi chậm được ngăn chặn, xử lý. Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu đồi hỏi của xã hội, vẫn còn tiêu cực trong thi cử, đào tạo nghề cho người lao động còn bất cập; việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống còn hạn chế. Chất lượng khám chữa bệnh và ý thức phục vụ nhân dân còn nhiều tồn tại, chậm được khắc phục; tai nạn giao thông, tệ nạn nghiện hút còn bức xúc. Tiến trình cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; việc chấp hành các quyết định, chỉ thị của cấp trên ở một số nơi chưa nghiêm, xử lý vi phạm chưa kiên quyết, vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức gây phiền hà, sách nhiễu khi giải quyết công việc.

II. Những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản năm 2005:

Năm 2005, năm có nhiều sự kiện chính trị trọng đại, năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp và là năm cuối của kế hoạch 5 năm 2001- 2005. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch năm 2005, cần tập trung cao sự chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, đôn đốc tổ chức thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản sau:

* Những mục tiêu chủ yếu năm 2005, phấn đấu:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) 12,9%.

- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 29,5%.

- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5%.

- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 18%.

- Kim ngạch xuất khẩu đạt 210 triệu USD

- Thu ngân sách đạt 1.100 tỷ đồng (trong đó thu nội địa 500 tỷ đồng).

- GDP bình quân đầu người đạt 7 triệu đồng, tương đương 550 USD.

- Cơ cấu kinh tế: NN 32,5%- CN, XD 35,5% - DV 32%.

- Giá trị thu được bình quân trên 1 ha canh tác đạt 39 triệu đồng.

- Tỷ lệ phát triển dân số dưới 1,0%.

- Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 3,0%. Không còn hộ nhà tranh vách đất.

- Tạo thêm việc làm mới cho trên 2,2 vạn lao động.

- 100% trạm xá xã có Bác sỹ.

- 55% số làng được công nhận làng văn hóa.

* Những nhiệm vụ và giải pháp cơ bản:

1. Tiếp tục huy động có hiệu quả mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển, phấn đấu đạt trên 2.800 tỷ đồng, để đảm bảo sự tăng trưởng bền vững. Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn từ quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.

2. Tạo điều kiện thuận lợi trong việc thu hút các dự án nước ngoài, tỉnh ngoài đầu tư vào địa bàn tỉnh, ưu tiên những dự án có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, sản phẩm có sức cạnh tranh cao, có khả năng đóng góp nhiều cho ngân sách; bố trí tập trung vào các khu công nghiệp đã có quy hoạch.

- Hoàn thành thủ tục trình duyệt các khu công nghiệp tập trung đã có quy hoạch và phê duyệt quy hoạch các khu công nghiệp mới. Đưa các khu công nghiệp làng nghề vào hoạt động; giao các ngành chức năng đề xuất cơ chế phù hợp khuyến khích các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp vào thuê đất đai tại các khu công nghiệp làng nghề sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

- Tập trung rà soát, chấn chỉnh các dự án đã đi vào hoạt động, đảm bảo thực hiện đúng mục đích, những cam kết và nghĩa vụ đối với Nhà nước; điều chỉnh kịp thời các ưu đãi đầu tư đối với các dự án phải chuyển đổi mục đích; xử lý kiên quyết đúng pháp luật đối với dự án đã quá hạn đầu tư xây dựng, những dự án sử dụng đất thuê trái mục đích.

- Có quy trình phù hợp nhằm nâng cao chất lượng và trách nhiệm thẩm định, đảm bảo tính khả thi của các dự án khi chấp thuận đầu tư. Để tạo điều kiện thuận lợi thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư, cần tiếp tục thể chế hóa và kiên quyết thực hiện cơ chế “ một cửa, một đầu mối” trong công tác tiếp nhận, cấp phép, đền bù và giao đất các dự án đầu tư, khắc phục sự chậm trễ, phiền hà trong tiếp nhận các dự án.

- Tăng cường quản lý quá trình triển khai các dự án đầu tư vào địa bàn. Giao trách nhiệm cụ thể giữa các ngành chức năng với chính quyền các cấp trong việc phối hợp quản lý triển khai thực hiện dự án, cung cấp thông tin, sử dụng lao động, thành lập các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp; thực hiện nghiêp túc các chế độ theo luật định. Thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh, đảm bảo an ninh trật tự và các vấn đề xã hội theo quy định của pháp luật.

- Khẩn trương triển khai thực hiện các dự án xử lý chất thải, rác thải và hệ thống nước thải trong các khu công nghiệp và các khu vực tập trung các dự án sản xuất công nghiệp; xây dựng xong các bãi chứa rác thải tại các khu công nghiệp và đô thị. Kiên quyết xử lý các doanh nghiệp vi phạm vệ sinh môi trường; sớm khắc phục tình trạng đổ chất thải, rác thải, nước thải ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.

- Chỉ đạo các ngành chức năng tập trung giải quyết các vấn đề về tài sản, tài chính,xác định giá trị doanh nghiệp theo quy định hiện hành của nhà nước, hoàn thành dứt điểm cổ phần hóa các doanh nghiệp theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa.

3. Thực hiện nghiêm túc các quy định về đầu tư xây dựng cơ bản. Nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư, tư vấn, thẩm định, giám sát; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đảm bảo chất lượng và hiệu quả đầu tư. Khắc phục tình trạng đầu tư kéo dài.

4. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa; khuyến khích phát triển mạnh các loại hình kinh tế trang trại mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhân rộng mô hình cánh đồng đạt trên 50 triệu đồng/ ha và hộ thu nhập đạt 50 triệu đồng/ năm; đẩy mạnh chuyển giao khoa học, công nghệ trực tiếp đến hộ sản xuất; thực hiện có hiệu quả chương trình nạc hóa đàn lợn, sinh hóa đàn bò; tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chương trình giống lúa, chương trình phát triển đàn bò sữa. Thực hiện tốt các dịch vụ phục vụ sản xuất, như: giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dự thính, dự báo phát hiện và phòng trừ kịp thời dịch bệnh đối với cây trồng vật nuôi; hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và đất canh tác; thực hiện tốt nhiệm vụ phòng chống lụt bão, úng và bảo vệ an toàn đê điều.

5. Tạo sự chuyển biến mới trong phát triển dịch vụ, mở rộng thị trường để tiêu thụ sản phẩm và xuất khẩu; củng cố hệ thống kinh doanh thương mại, nhất là các chợ đầu mối; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào các lĩnh vực dịch vụ phục vụ sản xuất, sinh hoạt và nhà ở cho người lao động, khách sạn, nhà hàng; nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải và bưu chính viễn thông… đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế.

6. Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch đất đai, đô thị, giao thông, thủy lợi đảm bảo phù hợp với yêu cầu phát triển của tỉnh năm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Đề cao trách nhiệm của từng cáp, từng ngành trong việc quản lý thực hiện theo đúng quy hoạch được phê duyệt, không phê duyệt các dự án đầu tư chưa thực hiện đúng quy hoạch. Chủ động xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 2006 – 2010 phục vụ Đại hội Đảng các cấp đảm bảo sát hợp và phát triển.

7. Tăng cường kiểm tra, rà soát, đôn đốc thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách, đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời các khoản thu vào ngân sách nhà nước, chống thất thu thuế. Có biện pháp tích cực để chống thất thu thuế đối với các hoạt động: xây dựng cơ bản, thuế môn bài thuế trước bạ và chuyển quyền sử dụng đất, nghĩa vụ các doanh nghiệp đã đi vào hoạt đọng. Xử lý nghiêm khắc đối với các đơn vị trốn thuế, truy thu các khoản thuế còn tồn đọng, quản lý chặt chẽ nguồn thu. Thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước, chi đúng dự toán được duyệt, tiết kiệm chi để tăng nguồn vốn cho đầu tư phát triển.

8. Tạo sự chuyển biến mới và nâng cao chất lượng các lĩnh vực văn hóa, xã hội: đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng trong giáo dục, đào tạo ở tất cả các cấp học, ngành học, đào tạo nghề, tạo việc làm cho người lao động; chất lượng cá dịch vụ y tế, chủ động phòng, chống dịch bệnh, nâng cao trách nhiệm và chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân; chất lượng hoạt động khoa học công nghệ bưu chính viễn thông, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; thực hiện tốt các chính sách xã hội, phấn đấu tháng 6 năm 2005 hoàn thành xóa nhà tranh vách đất, tháng 4/2005 xóa mù lòa cho các đối tượng chính sách và người nghèo.

9. Tăng cường công tác quốc phòng an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội; phối hợp các lực lượng tấn công, truy quét có hiệu quả các loại tội phạm, nhất là tội phạm hình sự, tội phạm kinh tế, tệ nạn xã hội, ma túy và giảm thiểu tai nạn giao thông. Quản lý chặt chẽ nhân hộ khẩu, vũ khí, vật liệu cháy nổi, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xx họi. Đảm bảo kế hoạch và chất lượng huấn luyện, diễn tập, tuyển quân, tính cơ động và sẵn sàng chiến đấu cao, tham gia thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

10. Đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền các cấp; xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ; nâng cao tính chủ động, sáng tạo, chịu trách nhiệm trong chỉ đạo, điều hành; tránh tình trạng né tránh, đùn đẩy trong giải quyết công việc; tích cực đấu tranh và xử lý nghiêm các biểu hiện quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, gây phiền hà cho nhân dân.

III. Tổ chức thực hiện:

Hội đồng nhân dân tỉnh giao Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết này.

Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đề cao trách nhiệm trong hoạt động giám sát và vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả Nghị quyết này.

Hội đồng nhân dân tỉnh kêu gọi toàn thể nhân dân, các cấp, các ngành, các đơn vị, tổ chức, các lực lượng vũ trang trong tỉnh nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng năm 2005.

Nghị quyết này được Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XIV – Kỳ họp thứ hai thông qua ngày 17/12/2004.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu182/2004/NQ-HĐND
Ngày ban hành17/12/2004
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực17/12/2004
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Hưng Yên / Phạm Đình Phú
Phạm viHưng Yên
Trích yếuVề nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2005
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.