Quay lại

Nghị quyết 19/NQ-HĐND về các đề án và tờ trình của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre trình bày tại kỳ họp thứ 6-HĐND tỉnh Bến Tre khoá V

HĐND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 19/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 25 tháng 01 năm 1997

NGHỊ QUYẾT

Về dự toán ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 1998

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

Căn cứ vào Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 18 tháng 4 năm 1992;

Căn cứ vào Điều 12 và Điều 31 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;

Sau khi nghe Uỷ ban nhân dân tỉnh trình bày các dự án và tờ trình tại kỳ họp thứ VI Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre khóa V, ngày 20 tháng 01 năm 1997;

Sau khi nghe báo cáo thẩm định của Ban Kinh tế và Ngân sách, Ban Văn hoá – Xã hội HĐND tỉnh và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre,

QUYẾT NGHỊ:

I. Nhất trí thông qua nội dung cơ bản các đề án và tờ trình sau:

* Phương án quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bến Tre giai đoạn 1996 - 2010.

* Đề án tổng quan cấp nước sinh hoạt tỉnh Bến Tre giai đoạn 1997 - 2000.

* Đề án chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân tỉnh Bến Tre 1997 - 2000.

* Tờ trình xin thành lập doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích để quản lý và khai thác điện nông thôn tỉnh Bến Tre.

* Tờ trình về việc chuyển 2 doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần theo Nghị định số 28/CP ngày 07/5/1996 của Chính phủ trong năm 1997.

Trong quá trình triển khai thực hiện các đề án và tờ trình trên, Hội đồng nhân dân lưu ý Uỷ ban nhân dân những việc cụ thể như sau:

1. - VỀ PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT BẾN TRE THỜI KỲ 1996 - 2010:

Thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất Bến Tre thời kỳ 1996 - 2010 là một công việc bức xúc cần tiến hành khẩn trương, nhằm ổn định việc quản lý và sử dụng đất đúng luật pháp, đúng quy hoạch, tiết kiệm và hiệu quả cao, cần lưu ý tập trung các vấn đề sau:

* Kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực và xây dựng ngành địa chính ở 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) vững mạnh, đủ sức đáp ứng yêu cầu, quản lý, sử dụng đất trên phạm vi toàn tỉnh.

* Thể chế hoá việc quản lý, sử dụng đất bằng những văn bản pháp lý, những quy định, hướng dẫn, những biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách ruộng đất. Tuyên truyền sâu, rộng Luật Đất đai, khuyến khích các tổ chức, các cá nhân thực hiện đúng quy hoạch, sử dụng đất của tỉnh nhà.

* Gắn chặt quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch đô thị và quy hoạch cụm dân cư một cách chi tiết phục vụ cho quá trình bố trí và phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

* Đặc biệt quan tâm việc bảo vệ môi trường đất, chấm dứt việc sử dụng các loại hoá chất độc hại làm ô nhiễm, suy thoái đất, làm tổn hại đến sức khoẻ con người và môi trường sinh thái.

* Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm tiếp tục điều tra hiện trạng đất bồi lở ở khu vực ven biển và ven sông để định kỳ bổ sung vào quy hoạch, quản lý và sử dụng đất chính xác và hợp lý.

2. - ĐỀ ÁN TỔNG QUAN CẤP NƯỚC SINH HOẠT TỈNH BẾN TRE GIAI ĐOẠN 1997 – 2000:

- Cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của nhân dân là vấn đề bức xúc là một chủ trương lớn phù hợp lòng dân; thiết thực thực hiện Chi thị số 200/TTg có ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội; môi trường cần được tập trung đầu tư và chỉ đạo triển khai thực hiện khẩn trương.

- Để thực hiện có kết quả theo bố trí của đề án cần phải tập trung nhiều nguồn lực gồm có vốn vay của Ngân hàng thế giới, vốn tài trợ cho công trình cấp nước nông thôn của Unicef, vốn ngân sách Nhà nước và vốn huy động trong dân. Đối với nguồn vốn vay nước ngoài phải thu hồi và trả nợ vay, do đó một mặt cần khẩn trương xây dựng đề án chi tiết để tranh thủ nguồn vốn, mặt khác phải tính toán đầy đủ hiệu quả dự án, đảm bảo khả năng thu hồi vốn một cách vững chắc. Đối với vốn ngân sách phải được cân đối cụ thể trong kế hoạch tỉnh hàng năm. Nguồn vốn viện trợ cần tập trung đầu tư cho hộ nghèo, hộ chính sách, các vùng mặn, lợ, khó khăn về nước. Có chủ trương khuyến khích nhân dân đầu tư khai thác, cung cấp nước ở thị tứ, nông thôn với chính sách rõ ràng, hợp lý, ổn định lâu dài để thu hút nhiều người bỏ vốn tham gia chương trình này.

- Trong quá trình thực hiện cấp nước sạch, dự án cần quan tâm đến đảm bảo chất lượng nước theo tiêu chuẩn quy định của Bộ Y tế và việc kết hợp chương trình cấp nước với thực hiện Chỉ thị số 200/TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Đây là đề án giai đoạn 1997 – 2000, việc dự kiến, bố trí các cụm nhà máy nước ở thị xã, thị trấn, thị tứ trong quá trình thực hiện cần xem xét kỹ để tránh lãng phí, khi tiến hành nối mạng theo phương án giai đoạn sau 2000 (chủ yếu theo trục lộ giao thông chính).

3. - ĐỀ ÁN CHĂM SÓC BẢO VỆ SỨC KHOẺ NHÂN DÂN:

- Cần đẩy mạnh hơn nữa xã hội hoá ngành y tế, để mọi người dân, mọi tổ chức, đoàn thể, tôn giáo đều có trách nhiệm tham gia bảo vệ sức khoẻ cho chính mình và cho cộng đồng. Đẩy mạnh hoạt động của các chương trình quốc gia mà tỉnh ta đã nhiều năm thực hiện như chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình y tế học đường, nha học đường vv…

- Quan tâm hơn nữa việc đào tạo đội ngũ cán bộ y tế để thực hiện mục tiêu 3,5 Bác sĩ trên 1 vạn dân vào năm 2000 và đào tạo cán bộ sau đại học cho ngành. Thường xuyên giáo dục y đức cán bộ - công nhân viên trong ngành y tế.

- Trong công tác bảo hiểm y tế, cần quan tâm đến việc bảo hiểm y tế cho người nghèo, cô đơn, quả phụ và thực hiện chữa bệnh cho người có BHYT ở vùng sâu, vùng nông thôn hẻo lánh.

- Về chính sách, tiếp tục đa dạng hoá các loại hình chăm sóc sức khoẻ, đa dạng nguồn đầu tư trang thiết bị y tế, thu đủ viện phí đúng đối tượng có nhu cầu và có điều kiện.

- Xử lý nước thải, chất thải y tế ở bệnh viện tỉnh và các trung tâm y tế cấp huyện, thị, bảo đảm vệ sinh môi trường. Ngành y tế phải đi đầu trong công tác bảo vệ và làm sạch môi trường, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

4. - CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG VÌ TRẺ EM:

- Cần điều tra thực trạng xã hội, phân tích sâu sắc tác hại mặt trái của cơ chế thị trường - sự phân hoá giàu nghèo, phân cực trong xã hội đã tác động xấu đến đời sống vật chất và tinh thần của trẻ em. Tình hình trẻ em phạm pháp chưa giảm, nạn trẻ em phải lao động sớm, lao động nặng và bị lợi dụng tình dục, hiếp dâm đang gia tăng, nạn tiêm, hút ma tuý đang xâm nhập vào nhà trường v.v... cần có biện pháp giải quyết có hiệu quả.

- Quan tâm hơn nữa việc đào tạo lực lượng, củng cố tổ chức của Uỷ ban bảo vệ Chăm sóc trẻ em cấp tỉnh và huyện để đủ đáp ứng yêu cầu công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em trên phạm vi toàn tỉnh.

- Có biện pháp phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các đoàn thể, các địa phương, các tổ chức nhân đạo quốc tế để huy động nhiều nguồn lực hơn nữa nhằm xã hội hoá công tác bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em. Các huyện, thị xã phải xây dựng chương trình hành động vì trẻ em cụ thể và sát hợp với tình hình địa phương mình để hoạt động bảo vệ chăm sóc trẻ em có hiệu quả.

- Các hoạt động văn hoá tinh thần, thể dục thể thao của trẻ em ở nông thôn hiện nay còn rất hạn chế. Uỷ ban nhân dân tỉnh cần xem xét duyệt phân bổ ngân sách cho hoạt động này nhằm đào tạo trẻ em một cách toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần và đạo đức mà nhiều em qua trẻ em ở nông thôn chịu nhiều thiệt thòi.

- Đối với những trẻ em có năng khiếu trên các lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội và các ngành nghệ thuật cần phải được quan tâm đào tạo chăm sóc ngay từ lúc nhỏ để đào tạo nhân tài cho tỉnh nhà.

5. - VỀ TỜ TRÌNH XIN THÀNH LẬP CÔNG TY QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC ĐIỆN NÔNG THÔN TỈNH BẾN TRE:

Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí chủ trương thành lập doanh nghiệp để quản lý và khai thác điện nông thôn tỉnh Bến Tre, Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng đề án chi tiết làm rõ tên gọi tổ chức, mục tiêu, phương thức hoạt động (nhất là những vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân), hiệu quả và sự quản lý Nhà nước đối với đơn vị này... để trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua trong kỳ họp tới trước khi quyết định thành lập theo Luật Công ty.

6. - VỀ TỜ TRÌNH CHUYỂN 2 DOANII NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 28/CP NGÀY 07/5/1996:

Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí chủ trương chuyển 2 Doanh nghiệp Công ty Vận tải thuỷ bộ và Công ty Dịch vụ - Thương mại thành Công ty cổ phần. Giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt đề án chi tiết và chỉ đạo tổ chức thực hiện đạt kết quả tốt.

II. Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ sung, chỉnh sửa theo ý kiến đóng góp của Ban Kinh tế và Ngân sách, Ban Văn hoá - Xã hội và các Đại biểu mà Đoàn Thư ký tổng hợp báo cáo tại kỳ họp, đồng thời nhanh chóng tổ chức triển khai thực hiện đề án có hiệu quả cao nhất.

Các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh có trách nhiệm giúp Hội đồng nhân dân tỉnh thường xuyên giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết này.

Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân hưởng ứng và tích cực thực hiện Nghị quyết.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá V, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25 tháng 01 năm 1997./.

TM. HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH

CHỦ TỊCH

Nguyễn Văn Thới

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu19/NQ-HĐND
Ngày ban hành25/01/1997
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực25/01/1997
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Vĩnh Long / Nguyễn Văn Thới
Phạm viBến Tre
Trích yếuVề các đề án và tờ trình của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre trình bày tại kỳ họp thứ 6-HĐND tỉnh Bến Tre khoá V
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.