Quay lại

Nghị quyết 21/NQ-HĐND về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1992

HĐND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 21/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 16 tháng 01 năm 1992

Căn cứ Điều 115 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1980;

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đã được Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 11 tháng 7 năm 1989;

Sau khi nghe báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tình hình, kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 1991 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1992;

Sau khi nghe các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh thuyết trình và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

Nhất trí thông qua báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tình hình, kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 1991 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1992, có bổ sung và sửa đổi một số điểm.

Hội đồng nhân dân tỉnh nhấn mạnh những vấn đề quan trọng dưới đây:

Trong tình hình khó khăn của năm 1991: đất nước chưa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, trước bối cảnh đó, tỉnh đã khắc phục khó khăn, giữ vững ổn định chính trị; kinh tế tiếp tục phát triển một số mặt: sản xuất nông nghiệp, đánh bắt và nuôi thuỷ hải sản, tiểu thủ công nghiệp, xuất nhập khẩu có tiến bộ, nhất là thâm canh trong sản xuất lúa; thu ngân sách đáp ứng cơ bản nhu cầu chi. Đặc biệt, trong điều kiện ngân sách tỉnh còn hạn hẹp, thực hiện phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm đã kéo đường điện quốc gia về đến các huyện Chợ Lách (là huyện cuối cùng có điện lưới quốc gia), làm thuỷ lợi dẫn nước ngọt về một số huyện ở vùng ngập mặn, xây dựng trường học, trạm xá ở nông thôn. Những thành tựu đạt được chứng tỏ sự năng nổ trong chỉ đạo điều hành của Uỷ ban nhân dân tỉnh và của các ngành, các cấp, sự phấn đấu các tầng lớp nhân dân trong tỉnh thực hiện các nghị quyết của HĐND tỉnh năm 1991.

Tuy nhiên, sản xuất phát triển còn chậm, chưa vững chắc, chưa phát huy khai thác tốt tiềm năng kinh tế và lao động của tỉnh. Kinh tế quốc doanh vẫn còn nhiều khó khăn, lúng túng; đời sống của một bộ phận nhân dân lao động còn khó khăn; văn hoá xã hội còn nhiều mặt sa sút nghiêm trọng, tệ mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội phát triển, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp, kỷ cương pháp luật nhà nước chưa nghiêm, tình hình tranh chấp đất đai, nợ tín dụng, nợ của các đơn vị quốc doanh còn kéo dài…

Những tồn tại nói trên bắt nguồn từ những khó khăn, phức tạp vốn có của nền kinh tế nhiều thành phần, nhưng trước hết là do sự chỉ đạo, quản lý điều hành chưa theo kịp yêu cầu, chưa dự kiến hết tình hình diễn biến phức tạp trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội; các biểu hiện tiêu cực chậm được khắc phục, công tác thanh tra, kiểm tra thiếu chặt chẽ, xử lý không nghiêm và không kịp thời.

Năm 1992 có vị trí hết sức quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm (1991-1995) phải tạo cho được bước chuyển biến mới để ổn định kinh tế - xã hội tạo cơ sở vững chắc phát triển kinh tế trong những năm tiếp theo.

Năm 1992 phải phấn đấu đạt các chỉ tiêu chủ yếu sau đây (so với năm 1991):

- Tổng sản phẩm xã hội tăng từ 4-4,5%, thu nhập quốc dân tăng từ 4,5-5%.

- Sản lượng lương thực: 380.000 tấn

- Giá trị sản lượng công nghiệp tăng 6%

- Kim ngạch xuất khẩu: 25 triệu USD

- Vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách nhà nước: 10,5 tỷ

- Phấn đấu giảm tỷ lệ phát triển dân số: 0,06%.

Để hoàn thành những chỉ tiêu chủ yếu nêu trên, Hội đồng nhân dân tỉnh xin lưu ý Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách và biện pháp lớn dưới đây:

1. Về kinh tế:

- Đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, tăng sản lượng cây công nghiệp và chăn nuôi để tạo nguồn nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, thực hiện tốt chính sách khuyến nông đối với nông nghiệp.

- Phát triển các hình thức hợp tác mới, đa dạng trên các lĩnh vực nông - lâm – ngư - nghiệp, giúp đỡ phát triển kinh tế gia đình. Tỉnh có chính sách bảo trợ sản xuất, nhất là cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, cho vay vốn đối với hộ nông dân có sức lao động nhưng thiếu vốn, tập trung thu hút lao động và vốn, khai thác ruộng đất còn hoang hoá để trồng lúa, màu, cây công nghiệp, cây ăn trái, trồng rừng, nuôi trồng thuỷ sản.

- Tiếp tục giải quyết để ổn định tình hình tranh chấp đất đai. Nơi nào giải quyết để ổn thì nhanh chóng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài, đàm bảo quyền thừa kế, quyền chuyển nhượng thành quả lao động của người sử dụng đất.

- Khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế để khơi tăng các nguồn lực của tỉnh:

+ Khẩn trương sắp xếp lại các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp quốc doanh, tập thể. Củng cố vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh trên những lĩnh vực then chốt của tỉnh. Tăng cường việc mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài để tiêu thụ hàng hoá, đẩy mạnh phát triển cơ sở dịch vụ đáp ứng kịp thời cho sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản. Triệt để chống tham nhũng, chống buôn lậu, làm hàng giả để bảo hộ các cơ sở sản xuất trong tỉnh, nhất là đối với những mặt hàng truyền thống của tỉnh.

+ Đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là mặt hàng chủ lực từ thuỷ hải sản, trái dừa, chuối già…để có nguồn ngoại tệ nhập khẩu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và phục vụ việc nâng cao đời sống của nhân dân.

+ Thu đúng, thu đủ và kịp thời các loại thuế, tập trung các nguồn thu vào ngân sách để đảm bảo cân đối thu, chi ngân sách và trả nợ. Từng bước tăng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế và sử dụng nguồn vốn vay, vốn khấu hao cơ bản để tăng vốn đầu tư cho sản xuất. Thí điểm góp cổ phần ở một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn sản xuất. Thực hiện tiết kiệm, tránh chi phí mua sắm lãng phí, bảo vệ tài sản, bảo vệ của công trên từng đơn vị.

+ Phấn đấu tăng vốn đầu tư và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư: tỉnh tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và các cơ sở then chốt của nền kinh tế, đối với các cơ sở sản xuất – kinh doanh tăng vốn đầu tư phát triển sản xuất – kinh doanh bằng nguồn vốn bổ sung và các hình thức huy động vốn vay trong và ngoài nước. Chú trọng đầu tư theo chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, nhất là ở các cơ sở chế biến nông sản: dừa, đường, xay xát lúa gạo, chế biến thuỷ sản xuất khẩu.

2. Về văn hoá – xã hội, giáo dục, y tế và KHKT:

- Xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá của tỉnh; bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội khác. Nghiêm trị những người truyền bá và kinh doanh văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ.

- Thực hiện tốt chính sách xã hội với các đối tượng chính sách: nghỉ hưu, gia đình thương binh, liệt sỹ và quần chúng nghèo, neo đơn bệnh tật…

- Tiếp tục thực hiện cải cách, nâng cao chất lượng giáo dục, chú trọng cả giáo dục phổ thông, hướng nghiệp và dạy nghề.

- Thực hiện tốt Luật Phổ cập giáo dục tiểu học với hệ thống trường công và dân lập. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nhất là vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn, đảm bảo cho trẻ em đến tuổi đều được đi học, xoá lớp học ca 3. Mở rộng các hình thức đào tạo ngắn ngày, mở lớp chuyên đề. Chú trọng đào tạo tại chức bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, công nhân viên hiện đang làm việc.

- Tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng mạng lưới khám và điều trị bệnh ở các bệnh viện. Tăng cường khả năng điều trị ở huyện, từng bước xây dựng, mở rộng, hiện đại hoá một bước các thiết bị, dụng cụ cho bệnh viện tỉnh, huyện, thị xã. Củng cố hệ thống trạm xá, hộ sinh xã theo hướng nhân dân tự lo, nhà nước hỗ trợ. quản lý chặt các cơ sở khám và điều trị ngoài giờ, y tế tư và các cơ sở sản xuất, kinh doanh dược phẩm theo đúng quy định của luật pháp. Kiểm tra và xử lý nghiêm các đối tượng sản xuất – kinh doanh trái phép các loại thuốc giả, không đảm bảo chất lượng, gây hậu quả cho sức khoẻ của nhân dân.

Huy động nhiều nguồn vốn khác nhau để chống xuống cấp các cơ sở y tế. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên khoa bố trí cho các trạm y tế cơ sở để nâng cao chất lượng điều trị tại chỗ các bệnh thông thường và thực hiện có hiệu quả các chương trình y tế.

- Tăng cường công tác quản lý khoa học kỹ thuật:

+ Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh nông – ngư – lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến; trong điều tra cơ bản; trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội; trong giáo dục – đào tạo; bảo vệ sức khoẻ con người.

+ Nắm chắc và có kế hoạch sử dụng, bố trí lại đúng ngành, nghề, lực lượng cán bộ KHKT hiện có. Thực hiện chế độ trả công lao động và khen thưởng thích đáng nhằm động viên và phát huy hết khả năng lao động sáng tạo của lực lượng này đóng góp tích cực vào việc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội, đồng thời có chính sách thu hút sự đóng góp của cán bộ khoa học kỹ thuật ngoài tỉnh.

3. Về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước:

Phải đổi mới bộ máy hành chính và nâng cao hiệu lực quản lý điều hành của bộ máy nhà nước; tiếp tục giảm biên chế đối với khu vực hành chính, sự nghiệp theo Nghị quyết 109 của Hội đồng Bộ trưởng. Phấn đấu giải quyết việc làm cho người lao động và cán bộ - công nhân viên dôi ra, gắn việc nghiên cứu mở trường dạy nghề để đào tạo lao động có nghề nghiệp và việc làm (kể cả việc ổn định đưa bộ phận dân đi sản xuất ở Đồng Tháp Mười – Long An).

- Tổ chức đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, đặc biệt là cán bộ cơ sở, cán bộ quản lý kinh tế, quản lý tài chính, pháp lý và giám đốc xí nghiệp, công ty cho phù hợp với cơ chế quản lý mới.

4. Về quốc phòng – an ninh:

- Phát động toàn quân, toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ vững và ổn định về chính trị, trật tự xã hội, chống âm mưu đầu độc văn hoá đồi truỵ của kẻ thù, chống đa Đảng, đa nguyên chính trị, phòng và chống bạo loạn có hiệu quả, gắn kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, bảo vệ vững chắc những mục tiêu trọng yếu, đặc biệt tại địa bàn thị xã, ven biển, vùng đông dân cư, chính trị xã hội phức tạp.

- Lãnh đạo thực hiện công tác tuyển quân năm 1992 đạt chỉ tiêu cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo công bằng xã hội trong công tác thi hành nghĩa vụ quân sự đi đôi với việc thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục luật pháp trong dân, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, vi phạm pháp luật, bảo vệ kỷ cương luật pháp, nhất là tệ tham nhũng, buôn lậu, làm hàng gian, hàng giả, các tệ nạn xã hội, cờ bạc, đá gà, gái mãi dâm, đồng bóng, bói toán, mê tín dị đoan, quan liêu, cửa quyền, ức hiếp nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào chống tham nhũng trong các ngành, các cấp. Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp tập trung giải quyết các đơn thư khiếu tố của công dân đúng pháp lệnh giải quyết khiếu nại, khiếu tố của công dân.

- Tăng cường kiểm tra giám sát, phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh ở cơ sở.

Năm 1992, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh có những thuận lợi mới, nhưng bên cạnh đó còn có những khó khăn nhất định. Do vậy, việc tổ chức triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết HĐND tỉnh năm 1992 đòi hỏi có sự phấn đấu cao trong các ngành, các cấp.

Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai trong các ngành, các cấp tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết này.

Các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ giúp cho Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra giám sát chặt chẽ các cấp, các ngành thực hiện đúng chức năng và đúng pháp luật.

Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải gương mẫu thực hiện Nghị quyết của HĐND. Đồng thời báo cáo kết quả kỳ họp với cử tri để cử tri biết và thực hiện tốt nghĩa vụ và quyền lợi của người công dân và tham gia tích cực vào việc xây dựng, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước và hoạt động của Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Hội đồng nhân dân tỉnh kêu gọi đồng bào, cán bộ, công nhân viên và chiến sỹ trong tỉnh hãy phát huy cao độ tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, nhiệt tình và sáng tạo trong lao động sản xuất, phấn đấu nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; triệt để tiết kiệm, kiên quyết đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội, ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 1992 của tỉnh.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá IV, kỳ họp thứ 8 thông qua phiên họp ngày 16 tháng 01 năm 1992./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu21/NQ-HĐND
Ngày ban hành16/01/1992
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực16/01/1992
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Vĩnh Long / Dương Văn Ẩn
Phạm viBến Tre
Trích yếuVề nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1992
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.