Quay lại

Nghị quyết 35/NQ-HĐND về việc bổ sung một số chủ trương, biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi Nghị quyết về kinh tế - xã hội năm 1993 của HĐND tỉnh

HĐND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 35/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 22 tháng 07 năm 1993

NGHỊ QUYẾT

Về việc bổ sung một số chủ trương, biện pháp nhằm đảm bảo

thực hiện thắng lợi Nghị quyết về kinh tế - xã hội

năm 1993 của HĐND tỉnh

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

Căn cứ Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố ngày 18/4/1992;

Căn cứ Điều 21 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đã được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố ngày 11/7/1989;

Sau khi nghe Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh trình bày Chương trình hành động của Uỷ ban nhân dân tỉnh về chống tham nhũng, buôn lậu và các tiêu cực khác;

QUYẾT NGHỊ:

I. Tán thành báo cáo của UBND tỉnh về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 1993.

Hội đồng nhân dân tỉnh nhận thấy, trong 6 tháng đầu năm 1993, tuy bối cảnh kinh tế của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, nhưng các cấp, các ngành, các đoàn thể và đồng bào trong tỉnh đã phấn đấu vượt qua khó khăn, giữ vững sự ổn định về chính trị và đưa một số mặt kinh tế đi lên: kinh tế vườn, kinh tế biển có bước phát triển khá; các công trình thuỷ lợi lớn đã phát huy tác dụng, vật tư cho sản xuất nông nghiệp được cung ứng kịp thời, vốn vay của ngân hàng được tăng cường; công tác XDCB và thu ngân sách đạt khá; giá cả thị trường không biến động lớn; công nghiệp quốc doanh được củng cố và hoạt động khá ở một số xí nghiệp; các hoạt động văn hóa – xã hội có nhiều cố gắng và phát triển, đời sống nhân dân được ổn định, có một bộ phận được nâng lên.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, tình hình kinh tế xã hội ở tỉnh ta còn những tồn tại cần được khắc phục: sản xuất lương thực chưa ổn định, kinh tế vườn còn phát triển tự phát, nhiều doanh nghiệp còn mất cân đối về vốn, vật tư, trình độ công nghệ lao động kỹ thuật còn hạn chế đối với nhu cầu phát triển, chất lượng công trình XDCB một số nơi còn kém, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, hoạt động của các ngành kinh tế mũi nhọn chưa đồng đều, thuế nông nghiệp thu còn thấp, thuế buôn chuyến, thuế sát sinh, thuế thu từ kinh tế biển còn bị thất thu nhiều. Đáng lưu ý là tình hình tranh chấp đất đai, trật tự xã hội chưa thật sự ổn định, các loại tội phạm, tệ nạn xã hội chưa dừng lại, tình hình tham nhũng, buôn lậu vẫn chưa giảm.

Đây là những vấn đề cần được quan tâm giải quyết có kết quả tạo sự chuyển biến tốt hơn trong 6 tháng cuối năm.

Để thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm, đảm bảo thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 1993. Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý UBND tỉnh trong chỉ đạo điều hành cần tập trung vào một số vấn đề chủ yếu sau đây:

1. Về sản xuất nông nghiệp:

Cần tổ chức quán triệt và thực hiện Nghị quyết V của Trung ương về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, trước mắt:

- Tập trung sức chăm sóc vụ hè thu và mùa sớm, gieo cấy vụ mùa bằng các biện pháp chỉ đạo tích cực như tăng cường đầu tư cho các công trình thuỷ lợi, vận động nhân dân làm tốt khâu thuỷ lợi nội đồng, đảm bảo các điều kiện về giống mới, phân, thuốc trừ sâu, tích cực phòng chống sâu bệnh để vụ hè thu đạt năng suất bình quân 41,5 tạ/ha. Tiếp tục triển khai nhanh, rộng và có hiệu quả đề án khuyến nông, chuyển giao KTKT đến tận người nông dân (kể cả cho kinh tế vườn, kinh tế biển).

- Nghiên cứu và xây dựng quy hoạch tổng quan nông nghiệp (bao gồm kinh tế ruộng, kinh tế vườn, kinh tế biển và rừng), chú ý kinh tế vườn cho cả tỉnh, cần làm rõ đặc điểm tự nhiên, cơ cấu nhóm cây ăn trái phù hợp cho từng vùng, có hiệu quả kinh tế cao, xem xét và có chỉ đạo cụ thể đối với đất lúa bấp bênh vùng ven biển, đất lúa da beo đan xen với vườn, mạnh dạn cho chuyển sang nuôi thuỷ sản và trồng cây ăn trái để tăng hiệu quả sử dụng đất đai. Cần chú ý công tác nâng cao chất lượng giống và quản lý sản xuất giống cây ăn trái trong đề án cải tạo vườn tạp để đảm bảo hiệu quả kinh tế vườn sau này.

- Tích cực hoàn chỉnh dự án tổng quan đất rừng trong tỉnh, đầu tư cho việc xây dựng dự án tổng quan thuỷ sản, gắn các dự án này với việc xây dựng quy hoạch tổng quan Nông-Lâm-Ngư vùng ven biển phù hợp với tình hình mới, nhất là xác định rõ ranh giới lâm nghiệp và thuỷ sản. Đồng thời khẩn trương xử lý nghiêm những vụ bao chiếm đất bất hợp pháp hoặc cấp đất, chuyển nhượng đất rừng trái phép.

- Tập trung vốn đầu tư hơn nữa cho nuôi tôm và khai thác thuỷ hải sản để tạo chuyển biến mạnh mẽ kinh tế biển.

- Về chăn nuôi: cần đầu tư nâng chất lượng đàn heo giống, tổ chức mạng lưới nhân giống tốt trong dân, tổ chức tốt công tác phòng chống dịch bệnh. Củng cố, phục hồi cơ sở chế biến thức ăn gia súc của tỉnh. Khuyến khích các thành phần kinh tế sản xuất, chế biến thức ăn gia súc để phát triển đàn heo trong tỉnh.

2. Về sản xuất công nghiệp – TTCN:

- Củng cố, đầu tư chiều sâu và bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả, từng bước đổi mới thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm, tập trung chủ yếu vào các ngành then chốt của tỉnh (thuỷ sản, dừa, mía, cây ăn trái) cần xây dựng những dự án tiền khả thi chuẩn bị đối tác để kêu gọi vốn đầu tư của nước ngoài.

- Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: tăng cường quản lý và tạo điều kiện để các doanh nghiệp này sản xuất và hoạt động theo định hướng phát triển của tỉnh, làm đầy đủ nghĩa vụ đối với địa phương và nhất là phải đảm bảo chất lượng sản phẩm, vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường. Kiên quyết xử lý thích đáng các trường hợp kinh doanh sai chức năng, trốn thuế, lậu thuế, sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng gây thiệt hại cho người tiêu dùng và ảnh hướng đến nền kinh tế của tỉnh.

3. Về xây dựng cơ bản:

- Khẩn trương sắp xếp lại hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng xây lắp trong và ngoài quốc doanh, hạn chế tình trạng độc quyền trong xây dựng cơ bản, tạo điều kiện cho các đội xây dựng có tay nghề tốt được chính thức hoạt động, thực hiện đấu thầu công trình XDCB. Ban hành quy chế quản lý XDCB và tổ chức thanh tra một số công trình xây dựng cơ bản (thuỷ lợi, giao thông, giáo dục…), xử lý nghiêm các trường hợp tham nhũng, lãng phí trong XDCB.

- Cần tăng cường quản lý Nhà nước về đầu tư XDCB, cải tiến công tác nghiệm thu: củng cố nâng cao Hội đồng nghiệm thu XDCB cấp tỉnh đối với các công trình lớn, trang bị phương tiện giám định kỹ thuật phục vụ công tác nghiệm thu, bên B phải chịu trách nhiệm bồi thường khi công trình không đạt chất lượng.

Uỷ ban nhân dân tỉnh, UBKH, Sở Điện lực tiến hành quy hoạch từng bước mở rộng mạng lưới điện nông thôn. Sở Điện lực từng bước tiếp nhận và quản lý thống nhất toàn bộ mạng lưới điện của tỉnh bảo đảm kinh doanh một giá trong toàn tỉnh.

4. Về thương mại – du lịch:

- Củng cố lại ngành thương nghiệp quốc doanh, cùng với các thành phần kinh tế khác làm tốt việc cung ứng vật tư, hàng hoá và có biện pháp tích cực tiêu thụ sản phẩm ở thị trường trong nước và xuất khẩu. Chú ý xây dựng và phát triển thị trường nông thôn, mở rộng các quan hệ với nông dân để quản lý và thu mua các mặt hàng then chốt trên các địa bàn nhất là dừa, đường, tôm, heo, cây ăn trái…

- Mở rộng liên doanh, liên kết với các tỉnh bạn và nước ngoài để tạo ra thị trường xuất khẩu và tiếp nhận công nghệ mới. Cần lưu ý tổ chức bộ phận theo dõi việc dự báo thị trường, tăng cường thông tin thị trường, tích cực tìm và khai thác thi trường là vấn đề quan trọng để định hướng chiến lược phát triển.

5. Về ngân sách:

- Tích cực tạo thêm nguồn thu, thu đúng, thu đủ và quản lý chặt chẽ các nguồn thu, có biện pháp tích cực thu thuế sát sinh, thuế từ kinh tế biển và và thuế trong lưu thông, để ngoài việc thực hiện đạt theo chỉ tiêu phấn đấu của tỉnh còn có nguồn để cân đối thêm cho XDCB theo kế hoạch.

- Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền trong nội bộ và nhân dân nhận thức, quán triệt sâu sắc các luật thuế, Pháp lệnh thuế nông nghiệp, thuế nhà đất để tạo thành nề nếp trong việc nộp thuế đúng định kỳ, đúng thời vụ.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tài chính cơ sở và xử lý nghiêm những tiêu cực trong nội bộ ngành thuế.

- Thực hiện triệt để tiết kiệm chi, quản lý chặt chẽ các khoản chi ngân sách trong các ngành, các cấp.

6. Về văn hoá – xã hội:

* Giáo dục – đào tạo:

- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 10 HĐND tỉnh (khoá IV) về việc sắp xếp mạng lưới trường, kiện toàn tổ chức đổi mới phân cấp quản lý ngành giáo dục – đào tạo từ năm học 1993 – 1994 đến năm học 1995 – 199

- Tuyên truyền, phổ biến Luật phổ cập giáo dục tiểu học rộng rãi trong nhân dân, huy động cho hết số trẻ em 6 tuổi vào học lớp 1 và nâng cao tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ. Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý: để chuẩn bị cho năm học 1993-1994 và những năm tiếp theo đạt kết quả tốt, các cấp chính quyền mở thêm trường bán công, dân lập để thu hút học sinh đào tạo bằng các hình thức thích hợp; các ban ngành, đoàn thể và UBND các cấp cần vận động nhân dân xây dựng, tu sửa và bảo quản cơ sở vật chất các trường lớp để đáp ứng cho con em có đủ trường lớp học tập. Thực hiện tốt công tác đào tạo bồi dưỡng và chuẩn hoá giáo viên. Năm học 1993-1994 tỉnh ta tiếp tục tuyển sinh vào lớp 6 và lớp 10 theo tỷ lệ như năm học 1992-1993. Nếu yêu cầu phát sinh cao hơn thì UBND tỉnh sẽ trình Thường trực HĐND tỉnh thống nhất quyết định.

- Sở Giáo dục cần khẩn trương tổ chức trường bổ túc văn hoá cho cán bộ để đáp ứng như cầu nâng cao trình độ văn hoá, tạo cho các cán bộ đương chức có điều kiện đi học các trường chuyên môn nghiệp vụ.

* Về y tế:

- Tổ chức kiểm tra cơ sở vật chất và thiết bị Unicef của ngành y tế, nhất là ở cấp cơ sở, để có kế hoạch nâng cấp, xây dựng mới và sử dụng hợp lý.

- Có biện pháp quản lý hành nghề y tế tư nhân, ngăn chận và xử lý nghiêm việc hành nghề trái phép, việc mua bán thuốc trị bệnh giả gây hậu quả nghiêm trọng.

- Tiếp tục thực hiện việc mua bảo hiểm y tế trong diện bắt buộc song song với việc chấn chỉnh tinh thần, thái độ phục vụ trong việc khám, chữa bệnh với những đối tượng mua bảo hiểm y tế. Tổ chức bảo hiểm y tế tự nguyện ở một số xã điểm để rút kinh nghiệm.

- Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, thực hiện tốt chương trình vệ sinh môi trường và tiêm chủng mở rộng. Đẩy mạnh công tác truyền thông dân số kế hoạch hoá gia đình, chú ý vấn đề khám và điều trị bệnh phụ khoa cho chị em phụ nữ, nhất là ở các vùng ven biển. Có biện pháp tích cực trng việc phòng chống bệnh Sida.

* Về văn hoá thông tin:

- Tiếp tục tổng hợp và hoàn chỉnh chương trình văn hoá văn nghệ để thông qua kỳ họp lần thứ 15 Hội đồng nhân dân tỉnh khoá IV.

- Trong 6 tháng cuối năm 1993 cần quan tâm trang bị phương tiện cần thiết cho hệ thống truyền thanh các xã, phường, thị trấn từng bước đáp ứng yêu cầu cho công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến tận người dân.

* Về các vấn đề xã hội:

- Tiếp tục triển khai chương trình hành động vì trẻ em, phối hợp với các ngành, đoàn thể thực hiện tốt Luật Bảo vệ trẻ em.

- Cần cải tiến thủ tục, mở rộng diện cho vay (thực hiện việc cho vay tín chấp có sự quản lý chặt chẽ) đối với quỹ quốc gia giải quyết việc làm, góp phần tích cực vào chương trình xoá đói giảm nghèo của tỉnh.

7. Về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và thi hành pháp luật:

- Kiên quyết lập lại trật tự giao thông đường phố, giải tán các tụ điểm mua bán trái nơi quy định gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông.

- Kiên quyết đấu tranh và nghiêm trị các loại tội phạm, bài trừ các tệ nạn xã hội (bia ôm, xì ke, mại dâm, cờ bạc…), có biện pháp quản chế và cải tạo đối với các đối tượng ngoan cố và nguy hiểm.

- Đề cao ý thức cảnh giác và chất lượng hoạt động của lực lượng võ trang, kịp thời phát hiện và đẩy lùi các âm mưu phá hoại của kẻ thù.

- Nâng cao chất lượng và tiến độ công tác xét xử và tổ chức thi hành án nhằm bảo đảm pháp luật nghiêm minh và thực hiện công bằng xã hội. Nghiên cứu và đưa ra xét xử toàn bộ các vụ án quá hạn luật định và các vụ án tham nhũng còn tồn đọng trong các năm qua.

- Các ngành, các cấp xem xét lại toàn bộ các đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân và tích cực giải quyết đúng theo pháp lệnh.

8. Đối với các đề án đã được triển khai, các ngành chủ quản phải sơ kết kết quả thực hiện để báo cáo với HĐND vào kỳ họp cuối năm. Đồng thời UBND tỉnh phải chỉ đạo cho các ngành hoàn chỉnh các đề án sau đây có liên quan đến việc thực hiện Nghị quyết Trung ương V để trình kỳ họp lần thứ 15 HĐND tỉnh: Đào tạo nghề và giải quyết việc làm; xây dựng nông thôn mới; Tổng quan đất vườn và cải tạo vườn tạp; Tổng quan lâm nghiệp.

II. HĐND tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết này.

Các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh giúp Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát các cấp, các ngành tổ chức thực hiện nhằm đạt kết quả cao nhất.

Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm gương mẫu thực hiện Nghị quyết của HĐND, đồng thời động viên cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và mọi tầng lớp nhân dân thực hiện tốt nghĩa vụ và quyền lợi của mình góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế - xã hội năm 1993 đã đề ra.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá IV, kỳ họp thứ 14 thông qua ngày 22 tháng 7 năm 1993./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu35/NQ-HĐND
Ngày ban hành22/07/1993
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực22/07/1993
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Vĩnh Long / Dương Văn Ẩn
Phạm viBến Tre
Trích yếuVề việc bổ sung một số chủ trương, biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi Nghị quyết về kinh tế - xã hội năm 1993 của HĐND tỉnh
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.