|
HĐND TỈNH SƠN LA Số: 38/2002/NQ-HĐND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Sơn La, ngày 15 tháng 01 năm 2002 |
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
KHOÁ XI, KỲ HỌP THỨ 5
(Từ ngày 8 đến ngày 11/01/2002)
NGHỊ QUYẾT
Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2002
_____________________________
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Căn cứ vào điều 11 Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi);
Sau khi nghe UBND tỉnh và các ngành báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2001; Định hướng mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2001; nghe báo cáo thẩm tra của các ban HĐND tỉnh; tổng hợp ý kiến thảo luận và phiếu biểu quyết của đại biểu HĐND tỉnh tại kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ :
I- ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KINH TẾ - XÃ HỘI, AN NINH - QUỐC PHÒNG NĂM 2001.
Để triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết kỳ họp thứ 3 HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã sớm tổ chức hội nghị hành chính để giao chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 cho các cấp các ngành các đơn vị và trong quá trình chỉ đạo, điều hành đã ban hành nhiều cơ chế chính sách mới nhằm phát huy nội lực và tập trung chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong từng hoạt động cụ thể. Đồng thời cùng phối hợp UBND tỉnh, Thường trực HĐND, các Ban HĐND, các vị đại biểu HĐND tỉnh cũng tích cực kiểm tra giám sát việc triển khai thực hiện nghị quyết của HĐND tỉnh và các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Vì Vậy mặc dù trong năm 2001 tỉnh ta gặp không ít khó khăn, thách thức mới không thuận lợi như: Thiên tai mưa đá, gió lốc, dịch bệnh; Tình hình thế giới diễn biến phức tạp; Sự biến động giá cả trên thị trường thế giới đã tác động không nhỏ tới thị trường tiêu thụ hàng hoá, nông sản và ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và của tỉnh ta nói riêng. Song với sự nỗ lực phấn đấu và quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn quân, tòan dân, của các cấp, các ngành trong tỉnh và sự quan tâm giúp đỡ tích cực của Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành trung ương, nền kinh tế tỉnh ta tiếp tục tăng trương khá và ổn định, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 7,75% so với năm 2000, trong đó khu vực nông nghiệp tăng 3,79%; khu vực công nghiệp xây dựng tăng 15,15%; khu vực dịch vụ tăng 13,68%. Nhìn chung đa số các chỉ tiêu Nghị quyết kỳ họp thứ 3 HĐND tỉnh đề ra đều thực hịên đạt và vượt kế hoạch, một số chỉ tiêu đạt cao như: Sản lượng lương thực có hạt đạt 100,4%; Thu ngân sách trên địa bàn đạt 116%... Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch tích cực; sản xuất nông - lâm nghiệp, công nghiệp đều tăng trưởng khá; các nguồn lực đầu tư cho phát triển cũng tăng đáng kể; nhiều chương trình dự án triển khai có hiệu quả; Các lĩnh vực khoa học - công nghệ môi trường, y tế, giáo dục, văn hoá - xã hội có bước chuyển biến tích cực, hiệu quả. Các cấp chính quyền được củng cố, xây dựng và phát huy trách nhiệm cao trước nhân dân. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và nền biên phòng toàn dân tiếp tục được tăng cường; quan hệ hợp tác Quốc tế được mở rộng và phát triển.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu kế hoạch năm 2001 cũng còn những yếu kém tồn tại, đó là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế không đạt kế hoạch đề ra (kế hoạch đề ra là GDP tăng 9%, thực hiện đạt 7,75%) Diện tích trồng mới cây công nghiệp, trồng rừng đạt thấp; Giá trị xuẩt khẩu đạt thấp (đạt 6,2 triêu USD, bằng 77,5% kế hoạch) tiến độ giải ngân một số chương trình dự án chậm; công tác sắp xếp, đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, chuyển đổi hợp tác xã còn nhiều lúng túng, hiệu quả thấp; Nhiều vấn đề xã hội bức xúc, phức tạp chưa được giải quyết có hiệu quả như: Vấn đề tái trồng cây thuốc phiện, nghiện hút chất ma tuý, di dịch cư tự do, học và truyền đạo trái pháp luật, tai nạn giao thông, chất lượng giáo dục đào tạo, ...; Sự chỉ đạo điều hành của các cấp, các ngành nhất là ở cơ sở còn nhiều lúng túng và thiếu đồng bộ; Trình độ, nãng lực quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ ...
Nguyên nhân của những tồn tại yếu kém nêu trên có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, song chủ yếu là nguyên nhân chủ quan, đó là: Công tác quản lý điều hành của các cấp các ngành từ tỉnh đến cơ sở còn nhiều hạn chế, thiếu các giải pháp thực sự hiệu quả; Sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành thiếu chặt chẽ và đồng bộ; công tác kiểm tra, kiểm soát chưa thường xuyên sâu sát; việc hướng dẫn, đôn đốc chỉ đạo thực hiện có một số việc còn chưa kịp thời, chặt chẽ; việc sắp xếp cán bộ ở một số nơi chưa hợp lý, chưa đúng tầm.
II- MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ KẾ HOẠCH NĂM 2002.
1- Mục tiêu tổng quát:
Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2001; đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển kinh tế hàng hoá có lợi thế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trọng tâm là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Tạo lập đồng bộ các yếu tố cơ bản đế từng bước hình thành cơ cấu kinh tế Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ theo yêu cầu phát triển nhanh, năng xuất, chất lượng, hiệu quả; tiếp tục phát triển các lĩnh vực văn hoá - xã hội; nâng cao hiệu quả lựa chọn ứng dụng khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường.
Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, tạo việc làm; tăng cường bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội bức xúc. Giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước.
2- Các chỉ tiêu chủ yếu:
1 - Tổng giá trị sản phẩm (GDP) tăng so với năm 2001
9% - 10%
- Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp tăng
6 - 6,5%
- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng
18 - 20%
- Giá tri ngành dịch vụ tăng
13- 14%
2- Cơ cấu GDP :
- Nông lâm nghiệp
57%
- Công nghiệp - xây dựng
12%
- Dịch vụ
31%
3- Tổng nguồn vốn đầu tư trên địa bàn tăng so với 58,79% năm 2001
4- Thu ngân sách tại địa phương
115 tỷ đồng
5- Tổng giá trị hàng hoá tham gia xuất khẩu
10 triệu USD
6- Trồng mới cây công nghiệp, cây ăn quả
- Cây chè
1.000 ha.
- Cây cà phê
1.500 ha.
- Cây mía
1.500 ha.
- Dâu tằm
625 ha.
- Sắn công nghiệp (để làm giống)
100 ha
7- Chăn nuôi
- Đàn trâu
127.000 con.
- Đàn bò
99.100 con.
- Đàn lợn trên 2 tháng tuổi
357.100 con.
8- Lâm nghiệp
- Trồng rừng tập trung
10.000 ha.
+ Rừng kinh tế
6.800 ha.
+ Rừng phòng hộ
3.200 ha.
- Bảo vệ rừng
390.000 ha.
- Khoanh nuôi tái sinh rừng
170.000 ha.
9- Sản lượng lương thực
27,2 -27,5 vạn tấn.
10- Số xã có đường ô tô đến trung tâm xã
100%.
11- Số xã có nhà lớp học 2 tầng
100%.
12- Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước (chuyển đổi hình thức quản lý) 6 -7 doanh nghiệp
13- Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở
45 xã.
14- Đào tạo kỹ thuật cho người lao động
5000 người
15- Số lao động được tạo việc làm mới
1 vạn người
16- Giảm tỷ lệ sinh của dân số
0,08%
17- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn
33,5%
18- Số hộ thoát nghèo
5.000 hộ
19- Tỷ lệ hộ được xem truyền hình
65%.
20- Tỷ lệ dân số được dùng nước sạch
50%.
21- Tỷ lệ số hộ được dùng điện
65%.
22- Tỷ lệ gia đình văn hoá
35%.
III- MỘT SỐNHIỆM VỤ,GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1- Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 03/NQ- TU ngày 23/10/2001 của Tỉnh uỷ về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XI, triển khai thực hiện có hiệu quả quyết định 186/QĐ - TTg, ngày 7/12/ 2001 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía bắc thời kỳ 2001 - 2005 và quyết định số 1546/QĐ-TTg ngày 5/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc đầu tư dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 6 đoạn khẩu; Tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư đầu tư kinh doanh du lịch trên địa bàn.
6- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, coi trọng và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, chú trọng phát triển con người cả vể thể lực và thể chất, mở rộng các hình thức đào tạo nghề cho người lao động và đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, coi trọng đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn. Triển khai đồng bộ nhiệm vụ y tế dự phòng, chú trọng hoạt động giáo dục truyền thông y tế, tiếp tục nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân.
7- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, phát huy dân chủ, đảm bảo thông tin, nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành trong hoạt động quản lý Nhà nước theo hướng sát việc, sát cơ sở, kịp thời tháo gỡ khó khăn trong tổ chức thực hiện. Làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, từng cán bộ công chức, viên chức trong hệ thống chính trị. Coi trọng công tác sơ kết, tổng kết kinh nghiệm, nhân điển hình và tuyên truyền học tập những mô hình tốt, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước có mục tiêu và hiệu quả thiết thực. Xây dựng và thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở. Kiên quyết thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng và lãng phí.
8- Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc như : Xoá đói, giảm nghèo; giải quyết việc làm; giải quyết có hiệu quả vấn đề di dịch cư tự do, tranh chấp đất đai, tái trồng cây thuốc phiện, truyền và học đạo trái phép, các tai nạn, tệ nạn xã hội...
9- Củng cố và tăng cường quốc phòng - an ninh, gắn phát triển kinh tế với quốc phồng - an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội và kỷ luật, kỷ cương trong quản lý kinh tế - xã hội.
10- Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý dứt điểm kết luận sau thanh tra, kiểm tra, qua đó kịp thời biểu dương các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc và nghiêm khắc xử lý đúng pháp luật những trường hợp sai phạm.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
1- Hội đồng nhân dân tỉnh giao Thường trực HĐND, UBND tỉnh, các cấp, các ngành tổ chức triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết này.
Hoà Bình - Sơn La. Tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác qui hoạch trên cả 3 lĩnh vực sản xuất, dân cư và nhân lực.
2- Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt các cơ chế chính sách theo hướng xoá bao cấp, phát huy nội lực đầu tư cho phát triển, động viên sức mạnh toàn dân để thúc đẩy sự chuyển dịch mạnh hơn cơ cấu kinh tế và cơ cấu sản xuất, nhất là trong nông nghiệp nông thôn, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, căn bản cả về cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá đa dạng, rõ lợi thế; tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt là đưa giống mới vào sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng, giá trị kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường; Gắn sản xuất nông nghiệp với phát triển công nghiệp chế biến và các ngành nghề trong nông thôn trên cơ sở phân công lại lao động.
3- Tăng cường đầu tư, ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng, tập trung huy động, khai thác các nguồn vốn đầu tư theo hướng chú trọng huy động nguồn lực trong nhân dân, kết hợp với thu hút các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài; Mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết, đa dạng hoá các hình thức đầu tư như: BT (xây dựng - chuyển giao), BOT (xây dựng - kinh doanh- chuyển giao), BTO (xây dựng - chuyển giao - kinh doanh)..., nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật - công nghệ theo hướng khả thi.
4- Thực hiện xắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần nghị quyết TW 3 (khoá 9) hoàn thiện hệ thống các cơ sở sản xuất kinh doanh, lấy quốc doanh làm chủ đạo, hợp tác, hợp tác xã và các thành phần kinh tế khác làm chủ lực nhằm chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% số vốn; đồng thời tạo mọi điều kiện thuân lợi để các doanh nghiệp đã cổ phần đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định; Tiếp tục củng cố, đổi mới và tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn cho các HTX để khuyến khích thúc đẩy các HTX phát triển, trước mắt tiến hành xoá nợ cho các HTX theo tinh thần quyết định số 146/2001/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ.
5- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển thương mại - du lịch bằng nhiều biện pháp như: Triển khai đồng bộ kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, mở rộng và phát triển hệ thống chợ, nhất là chợ trung tâm cụm xã và chợ nông thôn; Tích cực tìm kiếm thị trường, tạo thị trường ổn định lâu dài cho các hàng hoá chủ lực có lợi thế, có sức cạnh tranh nhằm đẩy mạnh xuất
2- Hội đồng nhân dân tỉnh giao Thường trực HĐND, các Ban HĐND, các vị đại biểu HĐND tỉnh; HĐND các huyện, Thị xã, xã, phường thị trấn phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban MTTQ Việt nam các cấp tổ chức tiếp xúc cử tri tuyên truyền nội dung Nghị quyết này tới toàn thể nhân dân trong toàn tỉnh; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết.
3- Hội đồng nhân dân kêu gọi đồng bào các dân tộc, chiến sỹ các lực lượng vũ trang, cán bộ, công nhân viên chức hăng hái thi đua tăng năng xuất lao động, cần kiệm để công nghiệp hoá - hiện đại hoá, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu kế hoạch năm 2002.
Nghị quyết này được HĐND tỉnh Sơn La khoá XI, Kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 11 tháng 01 năm 2002./.