|
HĐND TỈNH SƠN LA Số: 42/2002/NQ-HĐND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Sơn La, ngày 15 tháng 01 năm 2002 |
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
KHOÁ XI - KỲ HỌP THỨ 5
(Từ ngày 8 đến ngày 11/01/2002)
NGHỊ QUYẾT
Về mục tiêu, nhiệm vụ phát triển cây trồng, con nuôi chủ lực giai đoạn (2001 - 2010)
__________________________
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Căn cứ vào điều 11 và điều 12 đến điều 18 Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi);
Sau khi nghe UBND tỉnh báo cáo và đề nghị tại tờ trình số 16 /TT-UB ngày 04 tháng 01 năm 2002 của UBND tỉnh về việc đề nghị ban hành Nghị quyết đánh giá kết qủa phát triển cây trồng, con nuôi chủ lực 10 năm (1991 - 2000), mục tiêu nhiệm vụ phát triển cây trồng con nuôi chủ lực giai đoạn 2001 - 2010. Nghe báo cáo thẩm tra của các Ban hội đồng nhân dân tỉnh và tổng hợp ý kiến thảo luận của các đại biểu HĐND tỉnh tại kỳ họp;
QUYẾT NGHỊ :
I- ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN CÂY TRỒNG CON NUÔI CHỦ LỰC 10 NĂM (1991 – 2000):
Trong hơn 10 năm phát triển cây, con chủ lực, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh ta đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ, triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển cây con chủ lực đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội IX, đại hội X của tỉnh, đã tạo ra sự chuyển biến về chất trong sản xuất, đời sống của nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh, tạo lập được các vùng kinh tế động lực, các vùng sản xuất chuyên canh các cây con chủ lực, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn hộ nông dân, dần thoát được thế độc canh từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá, tạo lập sự gắn bó liên minh công nông, quốc doanh với kinh tế hợp tác, HTX, hộ gia đình, ngành nghề nông thôn bước đầu được hình thành, bộ mặt nông thôn thực sự thay đổi, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Từ đó đã góp phần thể hiên chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng, tiếp tục củng cố và đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Những kết quả đó đã tạo tiền đề cho sự phát triển lâu dài, bền vững, tạo ra thế và lực mới để chuyển dịch cơ cấu sản xuất và phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH - HĐH.
Đến năm 2001 toàn tỉnh có trên 10 vạn ha cây hàng hoá, trong đó có 4,2 vạn ha cây công nghiệp, cây ăn quả, tăng hơn gấp 3 lần 1991 các cây công nghiệp chính là chè, cà phê, mía, dâu có 1,1 vạn ha tăng hơn 3,5 lần 1991, đàn gia súc ăn cỏ có khoảng 20 vạn con, trong đó đàn bò 9 vạn con (bò sữa trên 1900 con).
Tuy nhiên, công tác quy hoạch sản xuất còn chậm và thiếu khoa học, chất lượng thấp, triển khai tổ chức sản xuất theo quy hoạch chưa nghiêm, chưa xây dựng được hệ thống giống cây trồng, con nuôi ngang tầm và có hiệu quả. Chưa có sự quy hoạch gắn bó thống nhất liên hoàn, khoa học giữa nông nghiệp, lâm nghiệp, cây dài ngày và cây gắn ngày, vùng nguyên liệu chưa gắn với chế biến và chưa gắn với xây dựng cơ sở hạ tầng. Các cây chủ lực như: cà phê, dâu tằm đạt dưới 50% mục tiêu đề ra. Công tác khuyến nông triển khai chưa mạnh nhất là ở vùng sâu, vùng xa, ở vùng thấp còn hiện tượng chồng chéo giữa khuyến nông doanh nghiệp và khuyến nông ngành. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã có chuyển biến nhưng chưa vững chắc, tỉ trọng cây, con hàng hoá thấp dưới 50%, tiềm năng về trồng trọt chăn nuôi gia súc, phát triển nghề rừng, nuôi ong, thuỷ sản chưa được khai thác hết tiềm năng. Nhận thức của một bộ phận nông dân về cây trồng, con nuôi chủ lực chưa đúng mức, sản xuất còn phụ thuộc vào thiên nhiên, các doanh nghiệp Nhà nước còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, các tổ chức tín dụng đã có nhiều cố gắng đóng góp cho sư phát triển kinh tế - xã hội, nhưng vẫn còn hiện tượng sợ rủi ro, chưa dám đầu tư mạnh.
II MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN CÂY TRỒNG, CON NUÔI CHỦ LỰC GIAI ĐOẠN (2001-2010)
Phát huy những thành quả đạt được và bài học kinh nghiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình phát triển cây trồng con nuôi chủ lực 10 năm 1991 - 2000. Căn cứ vào chương trình hành động thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đại hội Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XI. Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phát triển cây trồng con nuôi chủ lực thời kỳ 2001 - 2010 như sau :
- Cây chè 1 vạn ha có 8000 ha tập trung, trong đó chè đặc sản nhập nội chiếm 50%, sản lượng chè chế biến đạt 8000 tấn .
- Cà phê 7000 - 8000 ha; sản lượng 6000 - 7000 tấn cà phê nhân.
- Dâu tằm 3000 ha sản lượng kén 1500 - 2000 tấn.
- Cây mía đường : 6000 - 6500 ha mía, nâng công suất nhà máy lên 2000 - 3000 tấn mía cây/ngày. Sản lượng đường kết tinh đạt 30 vạn tấn.
- Cây ăn quả : 30.000 - 35.000 ha chủ yếu là cây ăn quả nhiệt đới và 1 số cây ăn quả ôn đới. sản lượng 80.000 - 100.000 tấn.
- Ngô lai : 5,5 vạn ha , sản lượng 22 - 25 vạn tấn ngô hạt.
- Cây sắn công nghiệp : 10.000 ha sắn tạo nguyên liệu cho nhà máy tinh bột.
- Cây đỗ tương : Trồng xen đưa diện tích lên 2 vạn ha, sản lượng 2 - 2,5 vạn tấn.
- Chăn nuôi : Tập trung phát triển 30 vạn con gia súc ăn cỏ, trong đó 10 vạn con bò thịt chất lượng cao; 6000 con bò sữa.
+ Phát triển các giống thú như : Nhím 2-3 vạn con; hươu : 5000 - 7000 con.
+ Đàn ong 4-5 vạn đàn ong mật.
- Trồng 20 vạn ha rừng kinh tế, bao gồm nguyên liệu giấy và rừng gỗ nguyên liệu.
III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN :
1- HĐND tỉnh giao UBND tỉnh cụ thể hoá giao nhiệm vụ cho các ngành, các huyện, thị xã và các doanh nghiệp Nhà nước và tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết này.
2- Hội đồng nhân dân tỉnh giao Thường trực HĐND, các Ban HĐND, các vị đại biểu HĐND tỉnh; HĐND các huyện, Thị xã, xã, phường thị trấn phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban MTTQ Việt nam các cấp tổ chức tiếp xúc cử tri tuyên truyền nội dung Nghị quyết này tới toàn thể nhân dân trong toàn tỉnh; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh khoá XI kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 11/01/2002.