Quay lại

Nghị quyết 48/2002/NQ-HĐND về nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2002.

HĐND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 48/2002/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 22 tháng 01 năm 2002

Căn cứ vào Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 18 tháng 4 năm 1992;

Căn cứ vào Điều 31 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;

Sau khi nghe xem xét báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, báo cáo của các ngành chức năng, thuyết trình của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

I- Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2001, và những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2002.

1- Đánh giá tình hình năm 2001:

Năm 2001, trong bối cảnh kinh tế - xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn, tổ chức và nhân sự của các ngành, các cấp có thay đổi sau Đại hội Đảng, nhưng Uỷ ban nhân dân tỉnh đã phát huy được sức mạnh tập thể, đổi mới trong chỉ đạo điều hành, tập trung được nguồn nội lực cùng với tranh thủ hỗ trợ của Trung ương, Thành phố Hồ Chí Minh và các tổ chức trong, ngoài nước, phấn đấu đạt được những kết quả quan trọng về kinh tế - xã hội.Các chỉ tiêu kinh tế đều tăng so với năm 2000: mức tăng trưởng kinh tế đạt 7,13%; thu ngân sách Nhà nước vượt kế hoạch 20%; vốn đầu tư toàn xã hội tăng 32,6%; cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch đúng hướng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật tăng lên đáng kể, đời sống nhân dân được cải thiện; sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thể dục, thể thao, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo và các vấn đề xã hội khác có nhiều tiến bộ; an ninh chính trị được giữ vững..

Bên cạnh những thành tựu, tiến bộ đã đạt dược, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn, yếu kém. Tốc độ tăng trưởng và một số chỉ tiêu kinh tế tuy tăng khá nhưng chưa đạt so với nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất đúng hướng nhưng còn chậm, sức thu hút đầu tư từ trong dân và bên ngoài chưa nhiều, chưa tạo được năng lực chế biến có quy mô lớn. Một số công trình xây dựng cơ bản, dự án kinh tế triển khai thực hiện còn chậm do vướng mắc trong khâu giải toả, đền bù. Vấn đề lao động, việc làm còn nhiều bức xúc; tội phạm và tệ nạn xã hội gia tăng, khiếu kiện về đất đai còn diễn biến phức tạp. Đây là những vấn đề cần tập trung khắc phục trong năm 2002 và các năm sau.

2- Mục tiêu tổng quát và chỉ tiêu chủ yếu năm 2002:

Năm 2002 có vị trí quan trọng cho việc thực hiện thành công kế hoạch 5 năm (2001-2005), vì vậy cần phát huy tối đa nội lực, thu hút, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài để phấn đấu đạt mục tiêu tổng quát: đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cao hơn năm 2001 gắn với giải quyết có hiệu quả các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao năng lực xoá đói giảm nghèo, kiên quyết đẩy lùi tội phạm và các tệ nạn xã hội, giữ vững an ninh chính trị, giải quyết cơ bản tình trạng khiếu nại tố cáo tồn đọng, nhất là các vụ khiếu kiện, tranh chấp đất đai.

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất các chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội năm 2002 (so với năm 2001) như sau:

- Tốc độ tăng trường GDP đạt 8%.

- Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tăng 5,5%.

- Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 17,2%.

-.Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 10,6%.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 40%.

- Thu ngân sách tăng 15%.

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh tăng 19,8%.

- Cơ cấu ngành kinh tế trong GDP:

+ Nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 64%

+ Công nghiệp, xây dựng chiếm 14,6%.

+ Các ngành dịch vụ chiếm 21,4%.

- 15% xã, phường đạt phổ cập trung học cơ sở.

- Giảm tỷ suất sinh: 0,2‰.

- Lao động qua đào tạo 13%, giải quyết việc làm cho 30.000 lao động.

- Giảm số hộ nghèo của tỉnh xuống còn 12%.

- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 25%.

- Cung cấp nước sinh hoạt cho 65% hộ dân nông thôn.

- Xây dựng 100% cơ quan an toàn, 70% ấp và khu dân cư an toàn. Giảm tội phạm các loại 15%.

3- Các nhiệm vụ và giải pháp chính:

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất về các nhiệm vụ, chỉ tiêu và các giải pháp cụ thể mà Uỷ ban nhân dân tỉnh đã báo cáo, các ý kiến bổ sung của các Ban và các Đại biểu Hội đồng nhân dân, đồng thời nhấn mạnh một số vấn đề cần chỉ đạo tập trung:

3.1- Đẩy mạnh phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững:

a- Phát triển nông nghiệp toàn diện, tạo chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế thuỷ sản và kinh tế vườn:

- Đẩy mạnh phát triển nuôi thuỷ sản ở cả 3 vùng mặn, ngọt, lợ với nhiều chủng loại đa dạng, phong phú phù hợp điều kiện sinh thái từng vùng, đảm bảo theo quy hoạch và bền vững về môi trường đạt hiệu quả cao. Tập trung đầu tư đồng bộ về thuỷ lợi phục vụ nuôi thuỷ sản, sản xuất giống tôm, cá tại tỉnh; tăng cường công tác khuyến ngư, chuyển giao kỹ thuật và nhân rộng mô hình nuôi tôm sú công nghiệp.

- Tiếp tục thực hiện dứt điểm việc cải tạo giồng tạp, vườn tạp, phát triển và đưa vào sản xuất nhanh các giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thị trường, mở rộng các mô hình xen cây hợp lý, đẩy mạnh thâm canh vườn dừa và áp dụng biện pháp phòng trừ bọ dừa có hiệu quả; đầu tư thuỷ lợi phục vụ kinh tế vườn và đẩy mạnh công tác khuyến nông, chuyển giao khoa học kinh tế kỹ thuật để nâng cao trình độ thâm canh nhằm đạt hiệu quả cao nhất trên đơn vị diện tích.

- Cần nhân rộng các mô hình sản xuất thuỷ sản và kinh tế vườn đạt hiệu quả cao đã được tổng kết, kết luận từ các đề tài, dự án khoa học, công nghệ.

- Đối với cây lúa, cần ứng dụng rộng rãi giống lúa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu, phát triển mô hình 2 lúa - 1 màu, tập trung sửa chữa làm thuỷ lợi nội đồng và hệ thống cống để đồng bộ hoá, phát huy, khai thác đúng mức các công trình thuỷ lợi.

b- Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nâng cao chất lượng giá trị hàng nông - thuỷ sản xuất khẩu:

- Chọn lựa và đưa vào ứng dụng trên diện rộng các công nghệ sau thu hoạch, làm tăng chất lượng hàng nông thuỷ sản. Khuyến khích đầu tư phát triển ngành công nghiệp chế biến dừa, trái cây, thuỷ sản ở tất cả các thành phần kinh tế với quy mô hợp lý, với công nghệ thiết bị phù hợp.

- Triển khai xây dựng mới Nhà máy đông lạnh thuỷ sản xuất khẩu, Nhà máy than hoạt tính, Nhà máy liên doanh sản xuất dược phẩm đồng thời tích cực đầu tư đổi mới công nghệ các cơ sở chế biến dừa, thuỷ sản hiện có.

- Cải tiến, đổi mới công nghệ sản xuất ở các làng nghề, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp để nâng cao chất lượng, sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm truyền thống, giải quyết lao động.

- Triển khai việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp Nhà nước, tiến hành cổ phần hoá hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu phù hợp với một số doanh nghiệp để phát huy hiệu quả sản xuất kinh doanh, tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực quản lý của các Giám đốc doanh nghiệp, đồng thời phát triển các hình thức kinh tế hợp tác và doanh nghiệp dân doanh để phát huy tối đa năng lực của các thành phần kinh tế.

- Rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp cho phù hợp với quy hoạch chung. Triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng các cụm công nghiệp đã quy hoạch, có cơ chế thông thoáng và kêu gọi để thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào các cụm công nghiệp này.

- Tiếp tục điều tra, khảo sát và quản lý chặt việc khai thác cát lòng sông, theo quy hoạch thực hiện đấu thầu, cấp phép cho các thành phần kinh tế, tăng cường công tác thanh tra, quản lý việc khai thác một cách chặt chẽ.

c- Mở rộng thị trường trong và ngoài nước, tiêu thụ tốt hàng hoá công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hàng nông, thuỷ sản của tỉnh:

- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đưa việc thông tin thị trường đi vào chiều sâu, giúp doanh nghiệp có cơ sở xác định kế hoạch sản xuất, mở rộng thị trường. Ứng dụng từng bước công nghệ thương mại điện tử và giới thiệu doanh nghiệp cùng các sản phẩm của tỉnh trên mạng.

- Khuyến khích đầu tư phát triển chợ nông thôn, hình thành các chợ đầu mối thúc đẩy sự giao lưu hàng hoá. Nghiên cứu việc phát triển cảng hàng hoá và chợ đầu mối về hàng thuỷ sản và trái cây.

- Tập trung đầu tư phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, giữ vững thị trường truyền thống và thâm nhập vào các thị trường mới, kể cả trong và ngoài nước.

- Phát triển mạnh các loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hoá.

d- Phát triển kết cấu hạ tầng làm tiền đề cho các bước phát triển tiếp theo:

Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí thông qua vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2002 theo danh mục các công trình trọng điểm, thống nhất quan điểm, mục tiêu đầu tư mà Uỷ ban nhân dân tỉnh trình bày. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình lớn như: Cống đập Ba Lai, Đê biển, hệ thống thuỷ lợi Cầu Sập, hệ thống thuỷ lợi Quới Điền, chương trình kiên cố hoá kênh mương nội đồng…,để sớm đưa công trình vào sử dụng đồng bộ. Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải để hoàn thành các công trình QL57, 60, các tuyến đường tỉnh, khẩn trương chuẩn bị để có thể khởi công xây dựng cầu Rạch Miễu đúng kế hoạch. Cho phép Uỷ ban nhân dân tỉnh tìm đối tác xây dựng cầu Hàm Luông theo phương thức BOT. Tiếp tục hoàn chỉnh đường 888 từ thị trấn Thạnh Phú ra biển và xây dựng cầu Ván theo phương thức BT. Phát động rộng rãi và có hiệu quả phong trào Nhà nước và nhân dân cùng làm để thực hiện kiên cố hoá giao thông nông thôn. Trong quản lý xây dựng cơ bản, phải đảm bảo thực hiện nghiêm túc các qui định của Nhà nước về hồ sơ, thủ tục cần giám sát chặt chẽ quá trình thi công để đảm bảo chất lượng và tiến độ công trình.

đ- Về tài chính, ngân hàng:

- Phấn đấu thực hiện đạt và vượt dự toán thu ngân sách, đồng thời với việc nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Thực hiện thí điểm khoán biên chế, khoán chi hành chính, quản lý chặt chẽ, tiết kiệm các chế độ chi tiêu ngân sách.

- Cải tiến thủ tục cho vay. Tập trung cho vay theo các chương trình, mục tiêu, các dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tạo điều kiện cho các hộ nghèo được được vay để phát triển sản xuất.

3.2- Tiếp tục xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá - giáo dục, y tế, thể dục thể thao, giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ, bảo vệ môi trường:

a- Về giáo dục:thực hiện các biện pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; triển khai thực hiện quy hoạch sắp xếp mạng lưới trường lớp, cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh theo hướng phát triển ổn định, lâu dài; thực hiện phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, đẩy mạnh tiến độ phổ cập trung học cơ sở; thực hiện xã hội hoá các ngành học, cấp học. Thực hiện thí điểm ngành giáo dục mầm non từ công lập sang bán công ở khu vực thị xã; khuyến khích nhân dân đầu tư thành lập các trường dân lập, phát triển thêm các ngành nghề đào tạo đáp ứng yêu cầu của địa phương. Sớm có kế hoạch chủ động triển khai việc giảng dạy theo sách giáo khoa mới đầu năm học 2002 - 2003.

b- Về y tế:củng cố, phát triển mạng lưới cơ sở, thực hiện tốt các chương trình y tế cộng đồng, giáo dục nhân dân ý thức phòng bệnh. Thực hiện việc bố trí bác sỹ về xã, nâng cao trình độ nghiệp vụ và y đức. Quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ y tế, đầu tư đổi mới trang thiết bị y tế cho Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, Bệnh viện Cù lao Minh và một số bệnh viện có nhu cầu bức xúc. Tăng cường kiểm tra vệ sinh thực phẩm, giảm tỷ lệ ngộ độc. Quản lý y tế tư nhân.

Tiếp tục thực hiện Chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình theo hướng chuyển dần mục tiêu giảm tỷ lệ tăng dân số sang nâng cao chất lượng dân số, tập trung cho vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Thực hiện tốt chương trình chăm sóc bảo vệ trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Sắp xếp việc quản lý các trường nuôi dạy trẻ em do các ngành tỉnh quản lý theo đúng quy định của Nhà nước.

c- Về xã hội:tiếp tục thực hiện tốt chính sách đối với người có công, duy trì và phát triển phong trào đền ơn đáp nghĩa. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, tăng cường tư vấn giới thiệu việc làm. Tổng kết chương trình xoá đói giảm nghèo và có những giải pháp đẩy nhanh chương trình xoá đói giảm nghèo.

d- Về văn hoá - thông tín - thể dục, thể thao:nâng cao chất lượng hoạt động của báo, đài. Tăng cường thông tin tuyên truyền đường lối, chủ trương, pháp luật Nhà nước, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi Nghị quyết kinh tế - xã hội của tỉnh. Đẩy mạnh việc đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các tệ nạn xã hội, giảm đáng kể các tệ nạn ma tuý, mại dâm. Quản lý chặt chẽ các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, xử lý nghiêm các vụ việc sai phạm. Xây dựng nếp sống văn hoá, văn minh nơi công sở, công cộng.

Phát động phong trào toàn dân luyện tập thể dục; tập trung đầu tư cho các môn thể thao có thành tích cao.

đ- Về khoa học, công nghệ và môi trường:tăng cường chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế thuỷ sản và nông nghiệp, đặc biệt là chương trình sản xuất các giống cây, con có chất lượng cao; xây dựng và nhân rộng các mô hình trồng xen, nuôi xen đem lại hiệu quả kinh tế cao; phát triển và nhân rộng công nghệ bảo quản, chế biến nông, thuỷ sản sau thu hoạch.

Đẩy mạnh công tác toàn dân bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tập trung quản lý môi trường các cơ sở sản xuất kinh doanh, các làng nghề tập trung, xử lý rác sinh hoạt, rác y tế, thoát nước ở thị xã, các thị trấn. Thực hiện tốt Chỉ thị 200/TTg…

Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 58/CT-TW của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Tỉnh uỷ về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH, xây dựng trang Web của tỉnh phục vụ phát triển, thu hút đầu tư và mở rộng thị trường.

3.3- Tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính:

- Tiếp tục tăng cường khả năng phòng thủ sẵn sàng chiến đấu. Thực hiện tốt các nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện lực lượng vũ trang, bán vũ trang, dân quân tự vệ, củng cố phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Triển khai kế hoạch phối hợp 3 lực lượng Quân sự - Công an - Bộ đội Biên phòng quản lý tốt địa bàn, giữ ổn định an ninh trật tự, phòng thủ và sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân năm 2002.

- Nâng cao chất lượng hoạt động các lực lượng an ninh nhân dân, tổ nhân dân tự quản phối hợp phòng chống các loại tội phạm có hiệu quả hơn, chấn chỉnh hiệu lực quản lý ở tại địa bàn. Tăng cường biện pháp giữ vững sự ổn định an ninh chính trị, bảo đảm an ninh nông thôn. Tăng cường biện pháp đấu tranh làm giảm tội phạm, kiên quyết trừng trị bọn tội phạm chuyên nghiệp, nguy hiểm, bọn cầm đầu có tổ chức băng, nhóm nhất là tội phạm cướp giật, hút, chích, mua bán ma tuý, môi giới và tổ chức mại dâm. Đấu tranh kéo giảm tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông.

- Tập trung giải quyết cơ bản các vụ khiếu kiện tranh chấp đất đai có nguồn gốc từ cải tạo nông nghiệp theo Quyết định 815 của Chính phủ. Chú ý việc giáo dục, hoà giải, thương lượng trong nội bộ nhân dân để tạo ổn định tình hình an ninh nông thôn. Quan tâm giải quyết các khiếu kiện khác còn tồn đọng.

- Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác bắt, giam giữ, điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội. Có biện pháp tháo gỡ khó khăn, nâng cao tỷ lệ giải quyết các án và các trường hợp thi hành án dân sự còn tồn đọng.

- Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước: củng cố kỷ cương; nâng cao khả năng và hiệu quả phối hợp giữa các ngành, các cấp; tổ chức triển khai thực hiện tốt các chương trình, đề án…Tổ chức rút kinh nghiệm và tập trung chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế phối hợp giữa Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thế. Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công chức, tiếp tục cải tiến thủ tục hành chính, lề lối làm việc, đảm bảo thực hiện đúng chức năng và trách nhiệm của từng cơ quan, từng chức danh, kịp thời giải quyết tốt các yêu cầu chính đáng của nhân dân. Thực hiện nghiêm chủ trương thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương trong công tác chỉ đạo, điều hành.

- Tiến hành sơ kết các đề án, chương trình đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua: Đề án tổng quan quy hoạch, đào tạo cán bộ năm 2000-2010; Đề án xây dựng gia đình văn hoá tỉnh Bến Tre giai đoạn 1999-2000-2010; Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm.

II- Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai trong các ngành, các cấp thực hiện thắng lợi Nghị quyết này.

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ giúp Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát thực hiện nghị quyết ở các ngành, các cấp đúng chức năng và đúng pháp luật.

Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải gương mẫu thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân đồng thời giám sát, tuyên truyền, động viên cử tri thực hiện tốt Nghị quyết này.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 11 tháng 01 năm 2002./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu48/2002/NQ-HĐND
Ngày ban hành22/01/2002
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực11/01/2002
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Vĩnh Long / Trần Văn Truyền
Phạm viBến Tre
Trích yếuVề nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2002.
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.