Quay lại

Nghị quyết 50/2012/NQ-HĐND về nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2012

HĐND TỈNH QUẢNG NINH
-------

Số: 50/2012/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Quảng Ninh, ngày 11 tháng 07 năm 2012

NGHỊ QUYẾT

Về nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2012

_____________________

HỘI ĐÒNG NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

KHOÁ XII - KỲ HỌP THỨ 5

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ngày 03/12/2004;

Sau khi xem xét, thảo luận báo cáo của ưỷ ban nhân dân tỉnh về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2012; báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến thảo luận của các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí với đánh giá của Uỷ ban Nhân dân tỉnh về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu 6 tháng cuối năm 2012. Hội đồng Nhân dân tỉnh thông qua và nhấn mạnh một số vấn đề chủ yếu sau đây:

1. Về thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2012:
Trong 6 tháng qua, Tỉnh đã tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội theo hướng nhanh, bền vững gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế, tăng nhanh hơn nữa tỷ trọng ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế, tiến tới từng bước giàm sự phụ thuộc vào khai thác than và đất đai, là những tài nguyên không tái tạo. Tập trung chỉ đạo công tác quy hoạch, phát triên khoa học công nghệ, cải cách hành chính, thực hiện phân cấp quản lý đầu tư cho các địa phương. Chỉ đạo tô chức thành công hai sự kiện lớn: Tô chức Hội nghị xúc tiến đâu tư của tỉnh với quy mô tầm cỡ quốc gia, được Trung ương, các tỉnh, các tố chức quốc tế cũng như các doanh nghiệp trong và ngoài nước quan tâm và đánh giá cao; tổ chức Tuần du lịch Hạ Long - Quảng Ninh năm 2012 với việc đôi mới cách tô chức lễ hội Carnaval đế quảng bá hình ảnh Vịnh Hạ Long và nét đẹp văn hoá các dân tộc Quảng Ninh đến du khách trong và ngoài nước, qua hoạt động này đã thu hút được số lượng lớn khách du lịch đến tham quan Vịnh Hạ Long. Đã tích cực, chủ động báo cáo Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương để đề xuất các cơ chế, chính sách tạo nguồn lực phát triển hạ tầng aiao thông, tăng thu ngân sách cho tỉnh; đồng thời chủ động tố chức đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp và thành lập 04 Tổ công tác để nắm bát tình hình, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp và hỗ trợ thị trường. Đồng thời, triển khai thực hiện nhiều nội dung công việc khác nhằm thu hút, thúc đâv đầu tư, hồ trợ phát triển sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội và trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó tỉnh đã phối họp với các cơ quan truyền thông của tỉnh, các cơ quan báo chí trong nước, thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền góp phần định hướng và quảng bá hình ảnh, thương hiệu của Quảng Ninh ra thế giới.
Với sự nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong tỉnh trong việc tố chức thực hiện tốt các chỉ đạo của tỉnh và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra từ đầu năm, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2012 của tỉnh tiếp tục duy trì được sự ốn định, phát triển đúng hướng, tạo cơ sở cho phát triển nhanh, bền vững những năm tiếp theo: Tốc độ tàng trưởng kinh tế GDP ước đạt 7,1% là mức tăng khá so với cả nước. Thực hiện vốn đầu tư FDI đạt 390,9 triệu USD gấp 14,8 lần so với cùng kỳ. Lạm phát được kiềm chế; mặt bàng lãi suất đã giảm theo chỉ đạo chung của Ngân hàng Nhà nước. Sản xuất nông nghiệp tuy có khó khăn song vẫn tiếp tục phát triến ốn định. Khu vực dịch vụ phát triển khá trong 6 tháng đầu năm: tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 26,6%, doanh thu vận tải tăng 24,7%, doanh thu du lịch tăng 10%... An sinh xã hội, phúc lợi xã hội được chú trọng, chi an sinh xã hội tăng 31,7% so với cùng kỳ, đời sống của người dân, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn được quan tâm; các vấn đề xã hội bức xúc được quan tâm giải quyết. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao... có chuvển biến tích cực. Công tác cải cách hành chính, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tô cáo, đâu tranh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tiếp tục được đẩy mạnh; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng để duy trì và phát triển sản xuất của các doanh nghiệp gặp khó khăn. Tăng trưởng kinh tể đạt mức thấp, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng thấp nhất trong những năm qua, hàng hóa tồn kho nhiều, sản xuất của doanh nghiệp bị thu hẹp... dự báo khả năng thu ngân sách sẽ tiếp tục khó khăn. Bên cạnh đó nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế xã hội rất lớn, song nguồn lực của tỉnh còn hạn hẹp. Công tác quản lý trật tự đô thị và vệ sinh môi trường còn nhiều yếu kém; quản lý nhà nước về đất đai, dự án còn nhiều sơ hở; công tác cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu; việc triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm của một số ngành, địa phương còn chậm, đặc biệt là công tác quy hoạch và quản lý vốn đầu tư còn nhiều lúng túng. Tình hình dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tệ nạn xã hội, tội phạm, khiếu nại, tố cáo của công dân và tình hình khai thác, vận chuyến, kinh doanh than trái phép trên địa bàn vẫn còn diễn biến phức tạp..., đòi hỏi các cấp, các ngành phải tập trung nồ lực nhiều hơn trong thời gian tới.

2. Về nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2012:
Để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 theo Nghị quyết số 35/201 1/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất trong 6 tháng cuối năm 2012, toàn tỉnh tiếp tục
kiên trì các mục tiêu đâ được Nghị quyết Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết HĐND tỉnh đã đề ra trong năm 201 Tiếp tục theo dồi diễn biến tình hình kinh tế thế giới, trong nước và trên địa bàn tỉnh, nâng cao năng lực phân tích, dự báo đế kịp thời có biện pháp chỉ đạo, điều hành linh hoạt, phù hợp với thực tiễn, phấn đấu thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2012 ở mức cao nhất. Theo đó, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

a) Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt các nhóm giải pháp của Trung ương và của tỉnh đã đề ra:
Hội đồng nhân dân tỉnh kêu gọi các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh quán triệt và tổ chức thực hiện tôt các nội dưng chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh trong tình hình mới, nhất là thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII; các Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 13/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 01/12/2011 của Tỉnh uỷ, Nghị quyết số 35/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2012. Khẩn trương rà soát đánh giá các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của năm 2012 và kịp thời có các giải pháp phù hợp cùng với sự quyết tâm trong chỉ đạo, điều hành đế hoàn thành ở mức cao nhất các chỉ tiêu đã được HĐND tỉnh thông qua, nhất là các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, đầu tư, thu chi ngân sách, giảm nghèo, đào tạo nghề và bảo vệ môi trường.

b) Tập trung thực hiện các mục tiêu, chưong trình quan trọng đã đề ra cho năm 2012 theo huớng đảm bảo cho sự phát triển bền vững:
- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt công tác lập các quy hoạch quan trọng của tỉnh như: Quy hoạch tổng thề phát triển kinh tế - xã hội, Quy hoạch xây dựng đô thị và hạ tầng kỹ thuật, Quy hoạch sử dựng đất đai và tài nguyên, Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực... cần tham khảo rộng rãi ý kiến của nhân dân và trình các cơ quan có thẩm quyền thấm định, xem xét, phê duyệt theo trình tự thủ tục quy định; đồng thời triển khai đồng bộ lập quy hoạch của các địa phương và các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phâm chủ yêu, làm cơ sở cho việc xây dựng kê hoạch ngắn, trung và dài hạn bảo đảm chất lượng, có tính khả thi cao.
- Tập trung, nâng cao hiệu quả đầu tư, khuyến khích thu hút đầu tư và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư xã hội:
Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành nghị quyết về việc quyết định đầu tư đối với các dự án sử dụng nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh tại kỳ họp gần nhất để thực hiện Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ vê quản lý dự án đâu tư xây dựng công trình nhăm đảm bảo nhu câu vốn phù hợp với khả năng cân đổi ngân sách tỉnh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Thực hiện nghiêm túc các nội dung chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 1792/CT-TTg về tăng cường quản lý đâu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ và các chỉ đạo của ƯBND tỉnh về nội dung này; Các dịa phương chủ động triển khai thực hiện tốt và có hiệu quả nguồn vốn đầu tư sau phân cấp và tiếp tục rà soát các dự án đâu tư xây dụng cơ bản đă giao đâu năm,
kiên quyết thu hồi vốn đối với những công trình bố trí vốn chưa đúng với Chỉ thị 1792/CT-TTg, điêu chỉnh táng vôn cho những dự án, công trình trọng diêm, câp bách trên địa bàn. Tăng cường kiểm tra công tác đầu tư xây dựng cơ bản, đảm báo chất lượng công trình, chống thất thoát, lãng phí.
Tập trung thực hiện quyết liệt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ đầu tư phát triển trên địa bàn; đồng thời làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư, huy động nguồn lực để triển khai các công trình, dự án quan trọng của tỉnh như: Cảng hàng không Vân Đồn, dự án đường nối thành phố Hạ Long với đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, dự án Quốc lộ 18A đoạn Uông Bí - Hạ Long, dự án đường dẫn và cầu Bắc Luân II, dự án đưa điện lưới ra đảo Cô Tô. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành các dự án: đường Quôc lộ 18C, đường 340, đường 334, đường tránh thành phô Hạ Long đoạn Vũ Oai - Quang Hanh, công trình Thư viện, Bảo tàng tỉnh, bệnh viện Sản Nhi, lưới điện nông thôn giai đoạn II...
Từ kinh nghiệm của Thành phố Hạ Long, tiếp tục rà soát các dự án có sử dụng đất trên địa bàn 13 huyện, thị xã, thành phố còn lại, kiên quyết thu hồi các dự án chậm triển khai đế giao cho các nhà đầu tư có năng lực; đây mạnh việc hoàn thiện các thủ tục hành chính, có các biện pháp đồng bộ để thu hút mạnh đầu tư nước ngoài ODA, FDI và các hình thức đầu tư khác ở mức cao nhất như BOT, BTO, BT và ppp. Tiếp tục đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch theo hướng thiết thực, hiệu quả nhằm chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để thu hút, huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh.
- Phát triển khoa học công nghệ, nâng cao hàm lượng khoa học công nghệ trên một đơn vị sản phấm góp phần cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng của tỉnh. Xây dựng cơ chê, khuyên khích các dự án đâu tư phát triên có nội dung ứng dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra phương thức quản lý, sản xuất mới tiên tiến, hiện đại; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới có hàm lượng khoa học công nghệ cao, chất lượng tốt, chi phí đầu vào thấp, đảm bảo tính cạnh tranh cao và kết hợp với việc xây dựng và tạo lập thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế.
Việc khuyến khích, hỗ trợ các mục tiêu phát triển khoa học công nghệ cần xác định rõ và đặc biệt ưu tiên đối với các dự án phát triển sản xuất sản phâm cho nền kinh tế và tránh trùng lắp đối với các mục tiêu hỗ trợ đầu tư phát triến của các chương trình khác trên địa bàn như khuyến nông, khuyến công.

c) Đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực; tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh:
- Chủ động nắm bắt, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm. Thực hiện tốt Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hồ trợ thị trường. Tập trung rà soát các dự án đầu tư trên địa bàn để tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp hoàn thành tiến độ đầu tư xây dựng cơ bản để sớm đi vào sản xuất kinh doanh... Thường xuyên rà soát, nắm tình hình khó khăn của các doanh nghiệp, kịp thời có phương án tháo gỡ, cơ chế chính sách hỗ trợ, nhât là đôi với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp sử dụng nhiêu lao động, tiêu thụ nhiều sản phẩm, các doanh nghiệp có sản phấm tôn kho lớn; xây dựng các biện pháp khuyên khích, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.
- Đối với sản xuất công nghiệp: Chủ động phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương đê xuât các biện pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điêu kiện cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp có thế mạnh của tỉnh như: Than, điện, xi măng, đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng. Phối hợp với ngành Than đề nghị Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương cho phép Vinacomin điều chỉnh giá ban than trong nước theo lộ trình của Chính phủ và tăng sản lượng xuất khấu than để tháo gờ khó khăn cho ngành than; đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi đối với các đơn vị của Vinacomin về các thủ tục giao đất, thuê đất, giải phóng mặt bằng. Khuyến khích sử dụng các nguyên, nhiên vật liệu sản xuất tại tỉnh, nhất là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng đe thúc đẩy năng lực sản xuất và tiêu dùng. Đe xuất cơ chế để triển khai việc xây dựng đường bê tông thay thế đường nhựa, kể cả việc xây dựng đường giao thông nông thôn theo cơ chế nhà nước và nhân dân cùng làm.
- Đối với các ngành dịch vụ: Tăng cường công tác quản lý, nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ; tạo điều kiện phát triển các trung tâm thương mại, chợ đầu mối... Ưu tiên phát triển ngành dịch vụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các ngành dịch vụ phát triển nhanh, có chất lượng cao, phấn đấu tốc độ tăng trướng dịch vụ đạt kê hoạch đê ra, đặc biệt là đôi với ngành dịch vụ có nhiêu tiềm năng và sức cạnh tranh cao như: thương mại, du lịch, vận tải, cảng biển, tài chính ngân hàng... nhằm phát huy tốt nhất những lợi thế của tỉnh. Quản lý, kiếm soát chặt chẽ các loại hình dịch vụ vận tải hành khách, nhât là vận chuyên hành khách đường thủy đi thăm Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long và các tuyến đảo. Chấn chỉnh các hiện tượng tiêu cực trong kinh doanh dịch vụ trên Vịnh Hạ Long; xây dựng và triển khai phương án đấu thầu khai thác dịch vụ trên Vịnh Hạ Long. Kiểm soát chặt chẽ và đảo bảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Tăng cường công tác quản lý hoạt động vận tải hàng hóa, hành khách, nhất là trên tuyến biến; theo dõi sát diễn biến cung - cầu và giá cả của thị trường và các hoạt động biên mậu; tăng cường các giải pháp nhằm tăng nguồn thu đối với các hoạt động dịch vụ; áp dụng các biện pháp tích cực trong công tác quản lý thị trường, kiêm soát giá cả, xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật vê giá và gian lận thương mại.
- Đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp: Tập trung chỉ đạo, hỗ trợ phục hồi chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản sau dịch bệnh. Tiếp tục chủ động nắm bắt diễn biến của thời tiết, tập trung hướng dẫn nông dân gieo trông, chăm sóc và phòng chống trên các loại cây trồng, trên gia súc, gia cầm ; kiếm tra, quản lý tốt các loại thuốc thú y, bảo vệ thực vật, các loại giông cây trông, giông thuỷ sản; khuyến khích áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tronp, sản xuất, chế biến, nhất là sản xuất hàng xuất khấu; làm tốt công tác phòng chông thiên tai, úng lụt, sạt lở trước mùa mưa bão. Bổ sung cơ chế, chính sách hồ trợ cho nông nghiệp, nông
thôn, gắn kết giữa sản xuất với tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá trong nông nghiệp (giữa công nghiệp với nông nghiệp, nông thôn); xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, các mô hình sản xuất lâm nghiệp, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản mang tính tập trung, có quy mô lớn; chuẩn bị tốt các điều kiện cho sản xuất vụ mùa, kiểm soát chặt chẽ giống cây trồng vật nuôi. Huy động tối đa các nguồn lực xã hội hoá đẩu tư phát triên hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đấy mạnh thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới theo hướng tập trung hô trợ nông dân phát triên sản xuât, lây người nông dân làm chủ thề để thực hiện chương trình nông thôn mới. Đấy nhanh tiến độ trồng rừng tập trung và thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng. Tập trung rà soát, tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ việc giao đât, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng các loại đất cho các tô chức, doanh nghiệp, hộ gia đình đảm bảo ổn định và phát triển sản xuất.

d) Về tài chính, tín dụng, giá cả:
- về thu ngân sách: Các Sở, ngành và các địa phương tập trung chỉ đạo quyết liệt về thu ngân sách trong 6 tháng cuối năm, phấn đấu đến hết năm 2012 hoàn thành dự toán thu ngân sách ở mức cao nhất.
Rà soát, tổ chức khai thác tốt các nguồn thu; đôn đốc thu đầy đủ, kịp thời các khoản thu vào ngân sách nhà nước, nhất là các doanh nghiệp có số thu lớn, các khoản thu liên quan đến đất đai, kinh doanh bất động sản, tài nguyên khoáng sản và kinh doanh xuất nhập khấu, các hoạt động kinh doanh trên Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long. Tăng cường công tác quản lý việc thuê đất và thu tiên sử dụng đất của các tổ chức, doanh nghiệp. Rà soát, đối chiếu các cá nhân, doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh nhưng chưa được quản lý thuế đế đưa đối tượng vào quản lý theo quy định; kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi kinh doanh trái pháp luật, chuyên giá, trốn thuế, gian lận thuế.
- Về chi ngân sách: Thực hiện tốt các biện pháp đê đảm bảo sử dụng ngân sách tiết kiệm, tổ chức điều hành chi ngân sách phải căn cứ vào tiến độ và khả năng nguồn thu đe đảm bảo cân đối ngân sách; rà soát lại các khoản chi thường xuyên để đảm bảo chi ngân sách đạt hiệu quả; ưu tiên nguồn lực thực hiện các chương trình mục tiêu của tỉnh, hỗ trợ cho các đối tượng khó khăn, đối tượng chính sách, đảm bảo an sinh xã hội. Các địa phương phải chủ động điều chỉnh giảm chi ngân sách trong trường họp nguồn thu không đảm bảo, nhất là đối với chi đầu tư xây dựng cơ bản phải điều chỉnh, đình, hoãn, giãn tiến độ một số dự án, công trình đế đảm bảo cân đối ngân sách. Ngân sách tỉnh không bổ sung kinh phí cho các địa phương hụt thu nguồn chi đầu tư phát triển.
- Ngân hàng: Các tổ chức tín dụng, Ngân hàng thương mại trên địa bàn thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Trung ương về tiếp tục hạ mặt bằng lãi suất cho vay, ưu tiên đối với khu vực nông nghiệp nông thôn; doanh nghiệp vừa và nhỏ; doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khấu; doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ.
- Về giá cả: Tăng cường kiêm soát giá cả thị trường, đảm bảo tránh tăng giá đột biến khi thực hiện gói kích cầu của Chính phủ vào các tháng cuối năm; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về giá, gian lận thương mại, đầu cơ, buôn lậu nhằm đảm bảo thực hiện bình ốn giá đối với các mặt hàng thiết yếu.

đ) Quan tâm thực hiện tốt mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững và các mục tiêu văn hóa - xã hội
- Tăng cường theo dõi, nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, người lao động đê có biện pháp hỗ trợ kịp thời đối với những người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp. Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định. Thực hiện các biện pháp hỗ trợ thúc đẩy sản xuất phát triển, nhất là các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc, vùng khó khăn.
- Triến khai đồng bộ các giải pháp tạo việc làm mới, tập trung khuyến khích phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa và các hợp tác xã; đẩy mạnh phát triên thị trường lao động, mở rộng thị trường xuất khấu lao động hiện có và phát triển thị trường mới, nhất là các thị trường có thu nhập cao. Tiếp tục thực hiện đồng bộ và hiệu quả các chương trình, dự án về giảm nghèo nhằm bảo đảm giảm nghèo nhanh và bên vững.
- Tiếp tục tăng cường đầu tư cho lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế, các thiết chế văn hoá, thể thao; đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển trong các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục, thề thao. Kiểm soát chặt chẽ việc thành lập mới các đon vị sự nghiệp để từng bước giảm tải sức ép về biên chế. Tập trung quản lý và tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định về dạy thêm, học thêm. Xây dựng kế hoạch tô chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Tỉnh.

e) Tiếp tục tăng cường công tác quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của bộ máy quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, tập trung vào các lĩnh vực như quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, quản lý đô thị, môi trường
- Thực hiện rà soát các dự án có sử dụng đất trên địa bàn các địa phương còn lại để chấn chỉnh và yêu cầu các nhà đầu tư thực hiện nghiêm túc các cam kết khi tham gia đầu tư trên địa bàn, kiên quyết thu hồi đối với các dự án vi phạm để giao cho các nhà đầu tư có năng lực thực sự. Tập trung rà soát, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm đối với các hành vi lấn chiếm đất đai, xây dựng trái phép trên địa bàn.
- Xây dựng Nghị quyết chuyên đề về bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long và bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuât, vận chuyên, chê biên và kinh doanh than.
- Rà soát và cơ cấu lại việc khai thác và quản lý tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường một cách hợp lý, ngăn chặn việc khai thác trái phép, lãng phí các nguồn tài nguyên. Giải quyết tốt tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường ở khu vực các nhà máy, các khu, cụm công nghiệp, các khu đông dân cư, khu đô thị. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên, môi trường trên địa bàn; bảo đảm cân bàng sinh thái, bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn đa dạng sinh học. Phối họp với ngành Than có phương án, kế hoạch xử lý triệt để, không để tồn tại các bãi thải lộ thiên có cao trình đô thải vượt so với quy định, gây nguy cơ cao mất an toàn cho người dân xung quanh và ảnh hưởng đến môi trường sống của dân cư do bụi và bồi lấp hệ thống thoát nước do đất đá từ các bãi thải gây ra.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư tập trung vào đổi mới quy trình và thủ tục hành chính đồng bộ trên các lĩnh vực; đối mới mô hình một cửa, một cửa liên thông; nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư tỉnh để tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư sản xuất, kinh doanh tại tỉnh; đấy nhanh việc triến khai Đe án xây dựng Chính quyền điện tử tỉnh Quảng Ninh. Rà soát, điều chỉnh, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý của cơ quan hành chính các cấp, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng và phù hợp. Thực hiện pohân công, phân cấp cùng với tăng cường công tác thanh tra công vụ, chấn chỉnh, xây dựng tác phong, lề lối công tác cho cán bộ công chức, viên chức, thực hiện minh bạch hóa thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân.

g) Đảm bảo quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội; tăng cường công tác đối ngoại
- Tiếp tục giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thố, an ninh biên giới, không để xảy ra tình huống đột xuất, bất ngờ. Tăng cường đảm bảo an ninh, trật tự trên các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm; tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách tư pháp. Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật; tiếp tục mở các đợt cao điểm tấn công truy quét tội phạm hình sự, tội phạm ma tuý, phòng chống buôn lậu...
- Tập trung giải quyết khiếu nại, tố cáo, tăng cường đối thoại tại chỗ, giải quyết dứt điểm các vụ việc tại cơ sở; tiếp tục tập trung ngăn chặn, xử lý nghiêm các hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh than trái phép trên địa bàn; hạn chế thấp nhất tình trạng cháy, nổ xảy ra; tăng cường các biện pháp để giảm thiểu tai nạn giao thông, tai nạn lao động; tăng cường kiếm soát, phòng chông dịch bệnh, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phâm...
- Tăng cường các hoạt động đối ngoại, kế cả ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân đối với một số Tỉnh, thành phố của các nước trên Thế giới mà Tỉnh đã có chương trình giao lưu, hợp tác quốc tế.

h) Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền và chỉ đạo điều hành nhằm thống nhất về tư tưởng, nhận thức tới hành động từ tỉnh đến cơ sơ, tạo sự đồng thuận cao trong việc thực hiện nhiệm vụ năm 2012
Các cơ quan thông tin, truyền thông, báo chí tổ chức thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy đủ, trung thực, khách quan, đúng định hướng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các nội dung liên quan đến tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ thị trường theo Nghị quyết số 13/NQ-CP của Chính phủ để nhân dân hiểu, đồng thuận. Tăng cường thông tin phản ánh về các hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu cho ngân sách; tiết kiệm chi tiêu, chống lãng phí trong đầu tư công, trong sinh hoạt; các phong trào thi đua lao động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, tiết kiệm chi phí sản xuất, tiết kiệm năng lượng...
Các cơ quan thông tin đại chúng phát huy tinh thần trách nhiệm, bám sát thực tiễn, phát hiện những vấn đề quan tâm của xã hội và đề xuất kiến nghị với cơ quan chức năng xem xét, giải quỵết nghiêm túc, triệt đê; đồng thời các cơ quan nhà nước cần chủ động cung cấp kịp thời các thông tin chính xác, đầy đủ cho các cơ quan thông tin đại chúng.

i) Triển khai xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nưóc năm 2013 và Kế hoạch đầu tư từ ngân sách nhà nước 3 năm 2013 - 2015 theo Chi thị số 19/CT-TTg ngày 18/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ
Các ngành, các địa phương, đơn vị tăng cường công tác chỉ đạo điều hành, phấn đấu hoàn thành kế hoạch năm 2012 ở mức cao nhất. Tiến hành đánh giá kết quá thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và hiệu quả của việc triển khai các giải pháp thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP, Nghị quyết 13/NQ-CP của Chính phủ...Trên cơ sở đó, xây dựng Kế hoạch năm 2013 đảm bảo phù hợp với yêu cầu thực tế của sự phát triển và theo đúng định hướng đã được Nghị Quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề ra.

Điều 2. Tổ chức thực hiện

Hội đồng nhân dân tỉnh giao:

- Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết này.

- Trong quá trình thực hiện nếu có những vấn đề phát sinh, Hội đồng Nhân dân tỉnh giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh để giải quyết kịp thời theo quy định của pháp luật và báo cáo với Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp gần nhất.

- Thường trực, các Ban, các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 11/7/2012 và có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kế từ ngày thông qua./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu50/2012/NQ-HĐND
Ngày ban hành11/07/2012
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực21/07/2012
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Quảng Ninh / Nguyễn Đức Long
Phạm viQuảng Ninh
Trích yếuVề nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2012
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.