Quay lại

Nghị quyết 56/2002/NQ-HĐND về nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2003.

HĐND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 56/2002/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 25 tháng 12 năm 2002

- Căn cứ vào Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992;

- Căn cứ vào Điều 11 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;

- Sau khi nghe báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, báo cáo của các ngành chức năng, kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thuyết trình của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

I. Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2002, và những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2003.

1- Đánh giá tình hình năm 2002:

Năm 2002, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có nhiều cố gắng, đổi mới chỉ đạo điều hành, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, huy động được mọi nguồn lực tập trung cho đầu tư phát triển tạo ra những kết quả khá toàn diện, tích cực, tạo bước đột phá mạnh về kinh tế thuỷ sản, kinh tế vườn. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá, vốn đầu tư của toàn xã hội tăng cao, nhiều công trình quan trọng đã được đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả. Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch, xuất khẩu có nhiều cố gắng. Thu, chi ngân sách đạt và vượt kế hoạch. Sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thể dục, thể thao, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo và các vấn đề xã hội khác có nhiều tiến bộ. Đời sống nhân dân ở nhiều vùng được nâng lên. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Bên cạnh những thành tựu, tiến bộ đã đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn, yếu kém: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất đúng hướng nhưng còn chậm. Trong nông nghiệp, thiếu các dự án để cụ thể hoá các quy hoạch được duyệt, chương trình phát triển giống cây, con triển khai còn chậm. Trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sức thu hút đầu tư từ trong nhân dân và bên ngoài vào các cụm công nghiệp còn yếu. Hoạt động xuất khẩu còn hạn chế, kim ngạch xuất khẩu chưa đạt kế hoạch, còn khó khăn về thị trường tiêu thụ. Một số công trình xây dựng cơ bản, dự án kinh tế triển khai còn chậm. Vấn đề lao động, việc làm còn nhiều bức xúc. Tai nạn giao thông tăng. Tội phạm và tệ nạn xã hội chưa dừng lại, tình hình khiếu kiện về đất đai ở một số vùng chưa ổn định. Đây là những vấn đề cần tập trung khắc phục trong năm 2003.

2- Mục tiêu tổng quát và chỉ tiêu chủ yếu năm 2003:

Năm 2003 có vị trí quan trọng là năm bản lề cho việc thực hiện thành công kế hoạch 5 năm (2001-2005), vì vậy cần phát huy tối đa nội lực, thu hút, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài để phấn đấu đạt mục tiêu tổng quát: “Tiếp tục duy trì tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tăng quy mô chất lượng các loại hàng nông sản có giá trị cao. Gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp chế biến nông - thuỷ sản xuất khẩu với thị trường tiêu thụ. Đẩy mạnh việc huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đưa nhanh các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục - đào tạo, tạo thêm nhiều việc làm, đẩy mạnh vững chắc xoá đói giảm nghèo, giải quyết có hiệu quả các vấn đề bức xúc của xã hội, tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội”.

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội năm 2003 (so với năm 2002) như sau:

- Tốc độ tăng trưởng GDP tăng trên 9%.

- Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tăng 7%.

- Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 18%.

- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 12%.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu: đạt 86 triệu USD.

- Số hộ dùng điện đạt 80%.

- Thu ngân sách tăng 15,72%.

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh tăng 42,1%.

- Cơ cấu ngành kinh tế trong GDP:

+ Nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 63,5%.

+ Công nghiệp, xây dựng chiếm 14,8%.

+ Các ngành dịch vụ chiếm 21,7%.

- 40% xã, phường đạt phổ cập trung học cơ sở.

- Giảm tỷ suất sinh: 0,2‰.

- Lao động qua đào tạo 17%. Giải quyết việc làm cho 30.000 lao động.

- Giảm số hộ nghèo của tỉnh xuống còn dưới 10%.

- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 23,5%.

- Phấn đấu có 55% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch.

3- Các nhiệm vụ và giải pháp chính:

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất về các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể mà Uỷ ban nhân dân tỉnh đã báo cáo, các ý kiến bổ sung của các Ban và các Đại biểu Hội đồng nhân dân, đồng thời nhấn mạnh một số vấn đề cần chỉ đạo tập trung:

3.1- Đẩy mạnh phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững:

a- Phát triển nông nghiệp toàn diện, tạo chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế thuỷ sản và kinh tế vườn:

- Trên cơ sở điều chỉnh các quy hoạch tổng quan nông - lâm - ngư cần tập trung xây dựng các dự án chi tiết, khả thi và tập trung nguồn lực để tổ chức thực hiện các quy hoạch này theo dự án nhất là lĩnh vực nông nghiệp.

- Đẩy mạnh tiến độ việc thực hiện chương trình nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi của tỉnh để tạo đột phá về năng suất, chất lượng và giá trị hàng hoá nông sản.

- Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến ngư, chuyển giao khoa học kỹ thuật, chỉ đạo, nhân rộng các mô hình trồng xen, nuôi xen có hiệu quả cao đã được xác định bằng các dự án vừa và nhỏ.

- Khuyến khích hỗ trợ phát triển các loại hình kinh tế trang trại trong trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản.

- Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng thuỷ lợi phục vụ phát triển kinh tế vườn, thuỷ lợi nội đồng cho vùng sản xuất lúa, kiến cố hoá kênh mương ở vùng đất thích hợp.

b- Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nâng cao chất lượng giá trị hàng nông, thuỷ sản xuất khẩu:

- Có chính sách khuyến khích về tín dụng và thuế đối với các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản, hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ xuất khẩu ở tất cả các thành phần kinh tế nhất là doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.

- Cải tiến, đổi mới công nghệ sản xuất ở các làng nghề, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp đặc biệt là các cơ sở bảo quản, chế biến sau thu hoạch gắn với thị trường tiêu thụ để nâng cao chất lượng, năng suất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm truyền thống, giải quyết lao động.

- Kiểm kê các quỹ đất do Nhà nước quản lý để quy hoạch có hiệu quả hơn và có kế hoạch đầu tư để tạo mặt bằng, triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng các cụm công nghiệp đã quy hoạch, có cơ chế thông thoáng để thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào các cụm công nghiệp này.

- Tổ chức thực hiện đổi mới doanh nghiệp, đẩy mạnh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp.

c- Mở rộng thị trường trong và ngoài nước, tiêu thụ hàng hoá công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hàng nông, thuỷ sản của tỉnh:

- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đưa việc thông tin thị trường đi vào chiều sâu, giúp doanh nghiệp có cơ sở xác định kế hoạch sản xuất, mở rộng thị trường. Nâng cao chất lượng sản phẩm, ứng dụng công nghệ thương mại điện tử, hỗ trợ đăng ký, bảo hộ thương hiệu và giới thiệu doanh nghiệp cùng các sản phẩm của tỉnh trên mạng.

- Khuyến khích đầu tư phát triển chợ nông thôn theo chủ trương lấy chợ nuôi chợ, hình thành các chợ đầu mối thúc đầy sự giao lưu hàng hoá. Nghiên cứu việc phát triển cảng hàng hoá và chợ đầu mối về hàng nông sản.

- Thí điểm gắn các doanh nghiệp chế biến với nông dân theo hợp đồng đầu tư và tiêu thụ sản phẩm đối với sản phẩm mía và lúa xuất khẩu. Rút kinh nghiệm để mở rộng sang các mặt hàng khác (dừa, tôm, cá, trái cây…).

- Tập trung đầu tư phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, giữ vững thị trường truyền thống và thâm nhập vào các thị trường mới, kể cả trong và ngoài nước.

- Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, du lịch nhất là du lịch sinh thái, du lịch văn hoá.

d- Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội làm tiền đề cho các bước phát triển tiếp theo:

Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí thông qua vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2003 và danh mục các công trình trọng điểm, thống nhất mục tiêu đầu tư và các giải pháp mà Uỷ ban nhân dân tỉnh trình bày. Trong quá trình triển khai thực hiện cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Đối với công trình thuỷ lợi cần lưu ý đảm bảo tính đồng bộ giữa công trình đầu mối và mạng lưới thuỷ lợi nội đồng. Có giải pháp khắc phục các biến đổi môi trường bất lợi như thừa nước, thiếu nước, nước tù gây ô nhiễm môi trường.

- Tập trung chỉ đạo kiên quyết, giải quyết vướng mắc giải toả mặt bằng, có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Mặt trận, đoàn thể và địa phương để tổ chức tốt việc di dời tái định cư, đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án ngay từ đầu năm 2003.

- Có cơ chế chính sách phù hợp nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển nhất là nguồn vốn trong dân.

- Tăng cường giám sát kỹ thuật, giám sát đầu tư, kiểm tra chất lượng công trình, phát hiện và xử lý nghiêm những vi phạm trong công tác quản lý đầu tư và xây dựng.

đ- Về tài chính, ngân hàng:

- Phấn đấu thực hiện đạt và vượt dự toán thu ngân sách, thực hiện tốt việc nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm việc khoán biên chế, khoán chi hành chính để bổ sung, hoàn chỉnh. Quản lý chặt chẽ, tiết kiệm các chế độ chi tiêu ngân sách.

- Tập trung nguồn vốn vay theo các chương trình, mục tiêu, các dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tạo điều kiện cho các hộ nghèo được vay để phát triển sản xuất.

- Vận động nhân dân và đảm bảo thực hiện đúng chính sách cho những hộ đi vùng kinh tế mới ngoài tỉnh và thực hiện dãn dân trong tỉnh.

3.2- Phát triển các lĩnh vực văn hoá - giáo dục, y tế, thể dục thể thao, giải quyết tốt các vấn đề xã hội đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ, bảo vệ môi trường:

a- Về giáo dục: thực hiện các biện pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, củng cố thành quả chống mù chữ, đẩy nhanh tiến độ phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở. Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở trường học theo hướng kiên cố hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá.

b- Về y tế: củng cố, phát triển mạng lưới y tế cơ sở, thực hiện có hiệu quả các chương trình y tế quốc gia, chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Thực hiện Quyết định 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc khám chữa bệnh cho người nghèo. Chủ động công tác phòng, chống dịch bệnh. Quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ y tế, đầu tư đổi mới trang thiết bị y tế. Tăng cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm không để xảy ra tình trạng ngộ độc thực phẩm đông người. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở các tuyến.

Về dân số kế hoạch hoá gia đình, chuyển dần mục tiêu giảm tỷ lệ tăng dân số sang nâng cao chất lượng dân số. Thực hiện tốt chương trình chăm sóc bảo vệ trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

c- Về xã hội:

- Tập trung đẩy mạnh việc đào tạo nhất là cho thanh niên thông qua đầu tư các trường trung học chuyên nghiệp, các trung tâm dạy nghề của tỉnh, huyện. Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển các hình thức đào tạo, dạy nghề.

- Thực hiện có hiệu quả chương trình giải quyết lao động, việc làm, lưu ý khai thác tiềm năng xuất khẩu lao động gắn với nhu cầu của các khu công nghiệp tập trung và nhu cầu lao động của các nước.

- Tăng cường phối hợp thực hiện tốt công tác xoá đói giảm nghèo thông qua hỗ trợ tín dụng, hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, hoạt động các câu lạc bộ xoá đói giảm nghèo, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”. Thí điểm thực hiện xoá đói giảm nghèo thông qua dự án cho một vùng (liên ấp, một xã, liên xã…) rút kinh nghiệm để sau này triển khai các dự án xoá đói giảm nghèo một cách vững chắc.

- Thực hiện tốt chính sách đối với người có công, đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa, giải quyết khó khăn về nhà ở cho hộ chính sách và người nghèo, nâng cao mức sống cho các đối tượng chính sách.

- Tăng cường phối hợp và phát động mạnh phong trào quần chúng thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ma tuý, mại dâm.

d- Về văn hoá - thông tin - thể dục, thể thao:

- Nâng cao chất lượng hoạt động của báo, đài, tăng cường thông tin tuyên truyền đường lối, chủ trương, pháp luật Nhà nước, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi nghị quyết kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Quản lý chặt chẽ các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, xử lý nghiêm các vụ việc sai phạm. Xây dựng nếp sống văn hoá, văn minh nơi công sở, công cộng.

- Đưa cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đi vào chiều sâu, đảm bảo chất lượng. 100% cơ quan, bệnh viện, trường học, lực lượng vũ trang đăng ký thực hiện đơn vị văn hoá.

- Phát động phong trào toàn dân rèn luyện thể dục; tập trung đầu tư cho các môn thể thao có thành tích cao.

đ- Về khoa học, công nghệ và môi trường:

- Tăng cường chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế thuỷ sản và nông nghiệp; xây dựng và nhân rộng các mô hình trồng xen, nuôi xen đem lại hiệu quả kinh tế cao; quan tâm ứng dụng công nghệ bảo quản chế biến nông thuỷ sản sau thu hoạch. Đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm truyền thống và các làng nghề. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính Nhà nước và sản xuất kinh doanh.

- Tập trung quản lý, tăng cường kiểm tra môi trường các cơ sở sản xuất - kinh doanh trong thị xã, các thị trấn. Thực hiện tốt Chỉ thị 200/TTg…, thực hiện các quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh về bảo vệ môi trường đối với sản phẩm than thiêu kết và hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

3.3 Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính:

- Tập trung lãnh đạo đảm bảo an ninh quốc phòng trong tình hình mới. Quan tâm củng cố nâng cao chất lượng và phối hợp 3 lực lượng Quân sự - Công an – Biên phòng quản lý tốt địa bàn trong mọi tình huống, giữ ổn định an ninh trật tự, phòng thủ và sẵn sàng chiến đấu. Hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân năm 2003.

- Nâng cao chất lượng hoạt động các lực lượng an ninh nhân dân, tổ nhân dân tự quản. Tăng cường biện pháp gìn giữ an ninh chính trị nhất là an ninh nông thôn. Trên từng địa bàn, từng khu vực kiên quyết trừng trị bọn tội phạm chuyên nghiệp, nguy hiểm, bọn cầm đầu có tổ chức băng, nhóm nhất là tội phạm cướp giật, hút, chích, mua bán ma tuý, môi giới và tổ chức mại dâm. Đấu tranh kéo giảm tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông.

- Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác bắt, giam giữ, điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội không để oan sai. Có biện pháp tháo gỡ, tích cực giải quyết cơ bản các án và các trường hợp thi hành án còn tồn đọng lớn.

- Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công chức, tiếp tục cải tiến thủ tục hành chính, lề lối làm việc, đảm bảo thực hiện đúng chức năng và trách nhiệm của từng cơ quan, từng chức danh, kịp thời giải quyết tốt các yêu cầu chính đáng của nhân dân. Thực hiện nghiêm chủ trương thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương trong công tác chỉ đạo, điều hành.

II- Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai trong các ngành, các cấp thực hiện thắng lợi Nghị quyết này.

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ giúp Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết ở các ngành, các cấp đúng chức năng và đúng pháp luật.

Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải gương mẫu thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân đồng thời giám sát, tuyên truyền, động viên cử tri thực hiện tốt Nghị quyết này.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 18 tháng 12 năm 2002./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu56/2002/NQ-HĐND
Ngày ban hành25/12/2002
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực18/12/2002
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Vĩnh Long / Trần Văn Truyền
Phạm viBến Tre
Trích yếuVề nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2003.
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.