Quay lại

Nghị quyết 58/2005/NQ-HĐND về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2006

HĐND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 58/2005/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 23 tháng 12 năm 2005

NGHỊ QUYẾT

Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2006

hỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
KHOÁ vii - KỲ HỌP THỨ 6

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Sau khi nghe báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, báo cáo của các ngành chức năng, báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất với báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tình hình thực hiện nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2005 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2006 với những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được nêu trong báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng thời nhấn mạnh một số vấn đề sau đây:

I. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2005:

Việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2005 ở Bến Tre gặp nhiều khó khăn như: nắng hạn gay gắt, nước mặn xâm nhập sớm, độ mặn cao và kéo dài, dịch cúm gia cầm tái phát gây thiệt hại nặng, giá một số vật tư, nhiên liệu tăng cao ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân, thị trường xuất khẩu thuỷ sản có nhiều biến động bất lợi…, nhưng Uỷ ban nhân dân tỉnh đã kịp thời có những giải pháp, tập trung chỉ đạo, điều hành phù hợp, hạn chế khó khăn nên tình hình kinh tế - xã hội trong tỉnh tiếp tục phát triển.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trong năm 2005 đạt 11,24%, tăng 1,16% so năm 2004. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng. Trong nông nghiệp, vận chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ và các mô hình sản xuất có hiệu quả tiếp tục phát triển mạnh góp phần tăng giá trị sản xuất trên diện tích đất canh tác, nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh, nhất là nuôi tôm với hình thức thâm canh, bán thâm canh; công nghiệp chế biến nhất là chế biến các sản phẩm từ dừa phát triển mạnh do đang có thị trường tiêu thụ khá ổn định, nhiều công trình hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Chất lượng hoạt động các dịch vụ như: thương mại, vận tải, bưu chính viễn thông, bảo hiểm… được nâng cao, phục vụ tốt nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân. Các lĩnh vực văn hoá – xã hội đều có bước phát triển khá. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ; số hộ nghèo được kéo giảm đáng kể, đời sống nhân dân trên nhiều địa bàn được cải thiện. Tình hình chính trị xã hội ổn định; quốc phòng an ninh, trật tự, an toàn xã hội được củng cố.

Đạt được những kết quả trên là do có sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự phấn đấu của toàn dân, toàn quân; điều hành sâu sát, nhanh nhạy, kịp thời của Uỷ ban nhân dân tỉnh, cố gắng của các ngành các cấp sự giúp đỡ hỗ trợ của các Bộ ngành Trung ương và giám sát có hiệu quả của cơ quan dân cử.

Bên cạnh những kết quả đạt dược, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm 2005 vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng không đạt kế hoạch đề ra, chất lượng chưa cao và chưa thật sự bền vững. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, tỷ trọng khu vực I còn khá cao, dịch cúm gia cầm có nguy cơ tái phát, đồng thời có khả năng gây ra đại dịch cúm H5N1ở người. Việc kiểm soát quy hoạch, vùng nuôi, quản lý con giống chưa chặt chẽ nên còn nhiều yếu tố rủi ro… sản xuất công nghiệp nhất là chế biến thuỷ sản gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ. Việc đầu tư cho Khu Công nghiệp Giao Long chậm nên các nhà đầu tư chưa thể xây dựng nhà máy. Kim ngạch xuất khẩu tăng khá nhưng chưa đạt kế hoạch. Nguồn vốn đầu tư còn hạn chế nên khó khăn trong triển khai thực hiện các dự án. Chất lượng giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dạy nghề và giải quyết việc làm còn một số mặt hạn chế. Tình hình tội phạm, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội tuy được kéo giảm nhưng vẫn còn khá cao, giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân có tập trung nhưng vẫn còn tồn đọng một số vụ bức xúc kéo dài…Đây là vấn đề cần tập trung khắc phục trong năm 2006.

II. Mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu chủ yếu năm 2006:

Năm 2006 là năm đầu triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006-2010), là năm có những ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo đà tăng trưởng cao và bền vững cho cả giai đoạn 2006-2010, vì vậy phải nỗ lực, phát huy những thành quả đạt được, đồng thời phấn đấu thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII cụ thể là:

Đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và hiệu quả nền kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Từng bước thích ứng với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế; khai thác tối đa các lợi thế và hạn chế các mặt bất lợi. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để tăng nhanh xuất khẩu, thu hút vốn, công nghệ từ bên ngoài vào tỉnh. Khai thác đúng và đủ các nguồn thu để nâng cao hơn nữa khả năng huy động vào ngân sách; thực hành tiết kiệm, ưu tiên chi cho đầu tư phát triển. Tiếp tục huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đầu tư của khu vực dân doanh và vốn đầu tư nước ngoài. Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước. Đẩy mạnh hoạt động xã hội hoá trong các lĩnh vực văn hoá – xã hội, tạo sự chuyển biến trong việc nâng cao mức sống nhân dân, nhất là phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục - thể thao. Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho trước mắt và lâu dài, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc như xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, phòng, chống các tệ nạn xã hội, tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, hạn chế mức thấp nhất các vụ khiếu nại tố cáo tồn đọng, kéo dài và vượt cấp. Tiếp tục đảy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước, phát huy dân chủ cơ sở…

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất các chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội năm 2006 sao năm 2005 như sau:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP phấn đấu đạt 12% trở lên;

- Giá trị sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp tăng 6,56%;

- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng 24,8%;

- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 16,4%;

- Tổng kim ngạch xuất khẩu 115 triệu USD;

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5.900 tỷ đồng;

- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 668 tỷ đồng;

- Phấn đấu đến cuối năm 2006 đạt chuẩn PCGDTHCS trên toàn tỉnh;

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo 30%. Tạo việc làm cho 30.000 lao động, trong đó: xuất khẩu lao động 1.000 người;

- Giảm tỷ lệ sinh 0,1%o; tốc độ tăng dân số tự nhiên 1%;

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 18% (theo chuẩn mới);

- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn dưới 22%.

- Đến cuối năm 2006 đạt 4,5 bác sỹ/vạn dân;

- Số hộ được nghe đài phát thanh đạt 99%; số hộ được xem truyền hình đạt 90%;

- Tỷ lệ dân nông thôn được sử dụng nước sạch 47%;

- Số hộ sử dụng điện đạt 87%.

III. Các nhiệm vụ và giải pháp chính:

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất về các nhiệm vụ cụ thể và các giải pháp chủ yếu để thực hiện như Uỷ ban nhân dân tỉnh đã báo cáo, các ý kiến bổ sung của các Ban và các Đại biểu, Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý Uỷ ban nhân dân tỉnh một số điểm cơ bản về các giải pháp sau:

1. Về kinh tế:

- Trên lĩnh vực công nghiệp:

Tiếp tục điều chỉnh quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp từng vùng phù hợp với thực tế và có kế hoạch thực hiện sát hợp, tránh tình trạng chuyển dịch tự phát làm phá vỡ quy hoạch chung. Triển khai đồng bộ các hạng mục công trình còn lại của các dự án thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, hoàn chỉnh hệ thống đê bao kết hợp với giải pháp chống xâm nhập măng cục bộ để bảo vệ sản xuất.

Tập trung triển khai thực hiện chương trình nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, củng cố hoạt động của các trại giống của tỉnh, huyện và phát triển mạnh mạng lưới nhân giống có chất lượng tốt trong nhân dân. Đồng thời nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác khuyến nông, phòng chống dịch hại, nhất là dịch cúm gia cầm.

Đầu tư sản xuất giống, quản lý tốt chất lượng con giống thuỷ sản cung cấp cho các vùng nuôi tập trung. Tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, quản lý môi trường theo hướng cộng đồng nhằm đảm bảo phát triển nuôi thuỷ sản an toàn, bền vững, nâng cao hiệu quả sản xuất.

- Trong sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp:

Thực hiện tốt chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Xây dựng phương án xác định chiến lược sản phẩm ngành công nghiệp; tăng cường hoạt động khuyến công, hỗ trợ xây dựng và phát triển các làng nghề, ngành nghề ở nông thôn. Triển khai thực hiện đề án di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu vực dân cư nội ô thị xã.

Tập trung đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng và đầu tư xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng Khu Công nghiệp Giao Long và Cụm Công nghiệp An Hiệp để giao đất cho các nhà đầu tư đã được cấp phép, xây dựng nhà máy ngay trong 6 tháng đầu năm, đồng thời thu hút mạnh các nhà đầu tư mới.

- Thương mại – du lịch – xuất khẩu:

Đa dạng hoá các hình thức và nguồn vốn để đầu tư xây dựng mới và nâng cấp, mở rộng hệ thống chợ, nhất là chợ nông thôn, chợ thị trấn, thị tứ, xây dựng hoàn thành chợ đầu mối thuỷ sản Đê Đông – Bình Đại.

Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch, nhất là du lịch sinh thái có hiệu quả khu du lịch Cồn Phụng; hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết các khu du lịch trọng điểm để kêu gọi đầu tư.

Phát triển mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như các sản phẩm từ dừa, trái cây, thuỷ sản; đồng thời tích cực kêu gọi, thu hút đầu tư sản xuất, chế biến các mặt hàng có tiềm năng nhằm tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Tận dụng mọi khả năng để tăng mức xuất khẩu trên các thị trường đã có, đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường có sức mua lớn còn tiềm năng nhưng còn chiếm tỷ trọng nhỏ, đồng thời mở rộng các thị trường mới.

- Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội:

Tích cực tranh thủ nhiều nguồn vốn đầu tư từ các Bộ ngành Trung ương, khai thác nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời huy động các nguồn vốn trong dân cũng như các nguồn khác để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, nhất là từ ngân sách Nhà nước và vốn ODA.

Tăng cường công tác giám sát thực hiện đầu tư, kiểm tra, kiểm soát phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm các quy định về đầu tư xây dựng cơ bản, tăng cường công tác giám sát, đánh giá đầu tư nhằm chống các tiêu cực, thất thoát và tăng hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản.

- Về tài chính:

Phấn đấu thực hiện vượt dự toán thu ngân sách. Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi đầu tư, ưu đãi về thuế theo quy định tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh nhằm phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu. Quản lý chặt chẽ các khoản chi ngân sách nhằm chống thất thoát, lãng phí; có biện pháp tăng cường giám sát, tránh phân bổ vốn đầu tư dàn trãi, phân tán.

2. Giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục – thể thao, dân số, gia đình và trẻ em, các vấn đề xã hội, khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường:

Hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, đẩy nhanh tiến độ kiên cố hoá trường, lớp; triển khai thực hiện kế hoạch thành lập Trung tâm học tập cộng đồng xã, phường; xây dựng đề án xã hội học tập. Giải quyết đồng bộ các điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, sách giáo khoa, đảm bảo yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống cho học sinh, sinh viên.

Thực hiện về chính sách khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi và người nghèo; phòng, chống ngăn chặn có hiệu quả dịch cúm gia cầm và dịch cúm ở người; tăng cường truyền thông thay đổi hành vi, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Nâng cao hiệu quả công tác văn hoá – thông tin, nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình; phát huy tác dụng gia đình văn hoá, ấp, xã, đơn vị văn hoá.

Phát triển thể dục, thể thao cơ sở, đầu tư môn thể thao thành tích cao.

Huy động mọi nguồn lực, áp dụng nhiều giải pháp, chính sách đồng bộ để giảm hộ nghèo theo chuẩn mới.

Phát triển mạnh hệ thống dạy nghề gồm nhiều trình độ.

Giải quyết cơ bản các tồn đọng về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng; thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về người cao tuổi, người tàn tật.

Triển khai kiên quyết, đồng bộ các biện pháp đẩy lùi các tệ nạn xã hội, nhất là buôn bán và sử dụng ma tuý trái phép.

3. Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cải cách hành chính,và tư pháp:

Phối hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh của lực lượng công an, quân đội, biên phòng gắn với phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, để đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; ngăn chặn và kéo giảm các loại tội phạm, các tệ nạn và tai nạn xã hội, nhất là tội phạm về cướp giật, ma tuý, mại dâm, tai nạn giao thông…

Tăng cường sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân các cấp đối với công tác thi hành án năm 2006, chú trọng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ và đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Tập trung chỉ đạo giải quyết nhanh, cơ bản các vụ việc khiếu nại, tố cáo của công dân đúng pháp luật; kiên quyết thực hiện tốt các quyết định hành chính có hiệu lực pháp luật; tăng cường công tác hoà giải ở cơ sở.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách mạnh các thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế “một cửa” đồng bộ ở cả 3 cấp. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; nâng cao hơn tính hiệu quả của bộ máy hành chính Nhà nước; chất lượng đội ngũ cán bộ công chức và tinh thần thái độ phục vụ nhân dân.

IV. Tổ chức thực hiện:

Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai trong các ngành, các cấp thực hiện thắng lợi Nghị quyết.

Thường trực HĐND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh, Đại biểu HĐND tỉnh có nhiệm vụ giúp HĐND tỉnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh khóa VII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/12/2005./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu58/2005/NQ-HĐND
Ngày ban hành23/12/2005
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực23/12/2005
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Vĩnh Long / Huỳnh Văn Be
Phạm viBến Tre
Trích yếuVề nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2006
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.