|
HĐND TỈNH BẾN TRE Số: 78/2003/NQ-HĐND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bến Tre, ngày 16 tháng 12 năm 2003 |
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Căn cứ vào Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992;
- Căn cứ vào Điều 11 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;
- Sau khi nghe báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, báo cáo của các ngành chức năng, kiến nghị của Uỷ ban MTTQ VN tỉnh, thuyết trình của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,
QUYẾT NGHỊ:
I- Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2003, và những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2004.
1- Đánh giá tình hình năm 2003:
Năm 2003, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có nhiều đổi mới, năng động trong chỉ đạo điều hành, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, huy động được mọi nguồn lực tập trung cho đầu tư phát triển tạo ra nhiều thành quả mới. Cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp được chuyển đổi có hiệu quả. Kinh tế trang trại, kinh tế tập thể phát triển khá và nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả được nhiều nông dân áp dụng. Việc huy động sức dân thực hiện các chương trình, mục tiêu được nhân dân hưởng ứng tốt. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá, vốn đầu tư của toàn xã hội tăng cao, nhiều công trình quan trọng đã được đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả. Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch có chuyển biến tích cực. Thu, chi ngân sách đạt và vượt kế hoạch. Sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thể dục, thể thao, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo và các vấn đề xã hội có nhiều tiến bộ mới. Đời sống nhân dân ở nhiều vùng được nâng lên. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Bên cạnh những thành tựu, tiến bộ đã đạt được, tình hình knh tế - xã hội của tỉnh còn những khó khăn, yếu kém: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất đúng hướng, có hiệu quả cao nhưng còn chậm, chưa vững chắc. Trong nông nghiệp, thiếu các dự án quy hoạch chi tiết sát hợp trên từng vùng nên việc định hướng và chọn đối tượng sản xuất để chuyển đổi cơ cấu còn lúng túng. sản xuất ở một số vùng phát triển chậm. Hệ thống thuỷ lợi cho nuôi thuỷ sản chưa đồng bộ, việc quản lý giống và quy trình nuôi công nghiệp chưa chặt chẽ. Tình trạng ô nhiễm và nguy cơ dịch bệnh vẫn còn. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có phát triển nhưng chưa thật đúng quy hoạch và chưa đạt yêu cầu tăng tốc, sức thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp còn yếu, thiết bị công nghệ chậm được đổi mới. Hoạt động xuất khẩu hạn chế, kim ngạch xuất khẩu chưa đạt kế hoạch. Một số công trình xây dựng cơ bản, dự án kinh tế triển khai còn chậm. Chất lượng giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dạy nghề và giải quyết việc làm còn có mặt chưa tốt. Tội phạm và tệ nạn xã hội chưa dừng lại, tình hình khiếu kiện về đất đai ở một số vùng chưa được giải quyết dứt điểm. Đây là những vấn đề cần tập trung khắc phục trong năm 2004.
2. Mục tiêu tổng quát và chỉ tiêu chủ yếu năm 2004:
Năm 2004 là năm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phấn đấu hoàn thành Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng bộ tỉnh và kế hoạch 5 năm (2001-2005), vì vậy cần phát huy tối đa nội lực, thu hút, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài để phấn đấu đạt mục tiêu tổng quát là: nâng cao chất lượng và tốc độ tăng trưởng kinh tế; thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nâng cao sản lượng, chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hoá; đẩy mạnh việc xây dựng kết cấu hạ tầng và nâng cao trình độ ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ. Gắn tăng trưởng kinh tế với xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá – xã hội; tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vừng an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất các chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội năm 2004 (so với năm 2003) như sau:
- Tốc độ tăng trưởng GDP tăng trên 10%.
- Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tăng 6.9%.
- Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 19%.
- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 12,7%.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt: 100triệu USD.
- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: 505.500 triệu đồng, phấn đấu của tỉnh là 520.090 triệu đồng.
- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh tăng 33.7%.
- Cơ cấu ngành kinh tế trong GDP:
+ Nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 59,5%.
+ Công nghiệp, xây dựng chiếm 16%.
+ Các ngành dịch vụ chiếm 24,5%.
- 70% xã, phường đạt phổ cập Trung học cơ sở.
- Giảm tỉ suất sinh: 0,2‰.
- Lao động qua đào tạo đạt 21%. Giải quyết việc làm cho 28.000 lao động.
- Giảm số hộ nghèo của tỉnh xuống còn 5,5%.
- Phấn đấu có 83% hộ sử dụng điện và 66% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch.
3- Các nhiệm vụ và giải pháp chính:
Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất về các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể mà Uỷ ban nhân dân tỉnh đã báo cáo, cũng như các ý kiến bổ sung của các Ban và Đại biểu. Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý Uỷ ban nhân dân tỉnh trong quá trình điều hành, chỉ đạo cần thực hiện tốt các giải pháp sau đây:
a- Về kinh tế:
- Trên lĩnh vực nông nghiệp:
- Phải căn cứ vào các qui hoạch tổng quan nông-lâm-ngư nghiệp đã được điều chỉnh, để xây dựng các dự án khả thi và tập trung nguồn lực để tổ chức thực hiện thật sát ở từng vùng, từng lĩnh vực cụ thể, đáp ứng tốt yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng chất lượng và hiệu quả sản xuất.
- Tiếp tục thực hiện chương trình nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi của tỉnh và quản lý thật chặt chẽ việc sản xuất giống để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị hàng hoá nông sản.
- Tăng cường công tác khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật, chỉ đạo, nhân rộng các mô hình trồng xen, nuôi xen và chuyên canh có hiệu quả cao.
- Có chính sách thật cụ thể để khuyến khích, hỗ trợ phát triển mạnh loại hình kinh tế trang trại, tổ hợp tác và HTX trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi thuỷ sản.
- Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng thuỷ lợi phục vụ phát triển kinh tế thuỷ sản, kinh tế vườn, thuỷ lợi nội đồng cho vùng sản xuất lúa.
- Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
- Xây dựng chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế theo lộ trình hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực. Thúc đẩy các thành phần kinh tế mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, thuỷ sản, hàng tiểu thủ công mỹ nghệ phục vụ xuất khẩu.
- Nhanh chóng triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã quy hoạch, để thu hút vốn đầu tư các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, nhằm tăng tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế.
- Giải quyết các thủ tục hành chính thật thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh mới, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các tổ hợp tác và hợp tác xã. Cải tiến, đổi mơi công nghệ sản xuất ở các làng nghề, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp đặc biệt là các cơ sở bảo quản, chế biến sau thu hoạch gắn với thị trường tiêu thụ để nâng cao chất lượng, năng suất, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, giải quyết lao động.
- Tổ chức thực hiện tốt việc đổi mới doanh nghiệp, đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước theo đề án và kế hoạch đã đuợc duyệt. Sớm đưa Xí nghiệp chế biến thuỷ sản Ba Lai vào sản xuất.
- Thương mại – du lịch - xuất khẩu:
- Tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến thương mại, thông tin thị trường đi vào chiều sâu, giúp doanh nghiệp có cơ sở xác định kế hoạch sản xuất, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, ứng dụng công nghệ thương mại điện tử, hỗ trợ đăng ký, xây dựng thương hiệu và giới thiệu doanh nghiệp cùng sản phẩm của tỉnh trên mạng để tìm thị trường (bao gồm cả thương hiệu nông - thuỷ sản).
- Khuyến khích các doanh nghiệp thu mua nông sản liên kết nông dân với các doanh nghiệp thông qua hợp đồng kinh tế. Đầu tư phát triển cảng hàng hoá, chợ đầu mối về hàng thuỷ sản và trái cây để tiêu thụ nông sản hàng hoá.
- Tập trung đầu tư phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, giữ vững thị trường truyền thống và thâm nhập vào các thị trường mới, kể cả trong và ngoài nước. Kịp thời khen thưởng các doanh nghiệp tạo ra mặt hàng mới, phát triển thị trường mới, các đơn vị hoàn thành đạt và vượt chỉ tiêu xuất khẩu.
- Nhanh chóng xây dựng các dự án cụ thể về tuyến, điểm, cơ sở vật chất phục vụ để phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, du lịch nhất là du lịch sinh thái, du lịch văn hoá. Gắn chương trình phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội với chương trình phát triển du lịch.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội:
- Huy động tối đa mọi nguồn lực và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn ngân sách cho đầu tư phát triển:
+ Tập trung chỉ đạo, kiên quyết giải quyết vướng mắc trong việc giải toả mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình theo kế hoạch. Cần đưa vào các dự án việc tái định cư, nhất là cho các hộ dân bị giải toả trắng. Tiến hành quy hoạch các thị xã và thị trấn mới để chủ động trong việc quản lý, xây dựng các đô thị mới theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.
+ Đối với công trình thuỷ lợi cần lưu ý đảm bảo tính đồng bộ giữa công trình đầu mối và mạng lưới thuỷ lợi nội đồng. Có giải pháp khắc phục các biến đổi môi trường bất lợi như thừa nước, thiếu nước, nước tù gây ô nhiễm môi trường.
+ Hoàn thành cơ bản giao thông nông thôn theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm. Có cơ chế chính sách phù hợp nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là nguồn vốn trong dân cư.
+ Thực hiện tốt việc cải tạo và phát triển lưới điện theo các dự án và kế hoạch đã được duyệt. Hoàn thành việc chuyển đổi mô hình quản lý điện nông thôn trước tháng 7/2004.
- Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí thông qua kế hoạch bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước năm 2004-2005, theo đề án của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
- Về tài chính, ngân hàng:
- Phấn đấu thực hiện đạt và vượt dự toán thu ngân sách, thực hiện tốt việc nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm việc khoán biên chế, khoán chi hành chính để bổ sung, hoàn chỉnh và thực hiện tốt hơn. Quản lý chặt chẽ, tiết kiệm các chế độ chi tiêu ngân sách.
- Tập trung và sử dụng có hiệu quá các nguồn vốn vay theo chương trình, mục tiêu, các dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tạo điều kiện cho các hộ nghèo được vay để phát triển sản xuất.
- Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí thông qua tờ trình của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc áp dụng mức thu phí qua cầu Rạch Miễu.
b- Về giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, các vấn đề xã hội khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường:
- Về giáo dục: thực hiện các biện pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong tiến trình cải cách cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, phương pháp dạy và học. Tăng cường công tác quản lý giáo dục, thường xuyên kiểm tra chuyên môn ở các cấp học, ngành học để nâng cao chất lượng dạy và học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh; khắc phục tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan.
Đẩy nhanh tiến độ phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở. Tăng cường giáo dục hướng nghiệp để thực hiện tốt chủ trương phân luồng học sinh.
Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục kết hợp với các nguồn đầu tư của Nhà nước trong việc thực hiện kế hoạch kiên có hoá trường học theo yêu cầu chuẩn hoá.
Thực hiện thí điểm mô hình trung tâm giáo dục cộng đồng cấp xã. Xúc tiến thực hiện dự án trường cao đẳng đa ngành, chuẩn bị dự án tiền khả thi việc xây dựng trường đại học.
Tập trung xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở tất cả các bậc học.
- Về y tế: tiếp tục đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực y tế. Củng cố, phát triển mạng lưới y tế cơ sở, thực hiện có hiệu quả các chương trình y tế quốc gia, chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Chủ động công tác phòng chống dịch bệnh, quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ y tế, đầu tư đổi mới trang thiết bị y tế. Tăng cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Nâng cao y đức và chất lượng khám, chữa bệnh ở các tuyến. Quản lý chặt y dược tư nhân theo đúng quy định của Nhà nước.
+ Tăng cường công tác thông tin, giáo dục sức khoẻ cho nhân dân, chú trọng đến vùng sâu, vùng xa.
+ Đẩy mạnh phong trào hiến máu nhân đạo.
+Về dân số gia đình và trẻ em: tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về pháp lệnh dân số. Thực hiện tốt chương trình chăm sóc bảo vệ trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Giáo dục, ngăn chặn và nghiêm trị đối với những trường hợp ngược đãi, xâm hại trẻ em.
- Về xã hội:
+ Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất chủ trương đầu tư xây dựng Trường kỹ nghệ Bến Tre theo dự án của Uỷ ban nhân dân tỉnh trình tại kỳ họp. Về vốn, ngoài ngân sách của tỉnh, cần tranh thủ nguồn vốn TW hỗ trợ và nguồn vốn của các ngành, các cơ sở sử dụng lao động. Ngân sách địa phương phải bố trí vốn cho Trung tâm dạy nghề các huyện, thị.
+ Mở rộng các hình thức đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, nâng cao chất lượng nguồn lao động. Nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của các trường trung học chuyên nghiệp, các Trung tâm dạy nghề của tỉnh, huyện, thị xã. Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển các hình thức đào tạo, dạy nghề. Thực hiện tốt chính sách tuyển dụng và khuyến khích lực lượng sinh viên mới tốt nghiệp về làm việc ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
+ Thực hiện có hiệu quả chương trình giải quyết lao động, việc làm, bao gồm xuất khẩu lao động và đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.
+ Tăng cường phối hợp thực hiện tốt công tác xoá đói giảm nghèo, chống tái nghèo, đặc biệt là ở vùng còn nhiều hộ nghèo.
+ Thực hiện tốt chính sách đối với người có công, đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa, giải quyết khó khăn về nhà ở cho hộ chính sách và người nghèo, nâng cao mức sống cho các đối tượng chính sách. Hoàn thành việc xét khen thưởng người có công trong kháng chiến.
- Về văn hoá – thông tin – thể dục thể thao:
+ Tăng cường đầu tư cho các hoạt động sáng tạo văn hoá, nghệ thuật. Củng cố và nâng cao hiệu quả quản lý các cơ sở dịch vụ văn hoá.
+ Đưa cuộc vận đồng “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đi vào chiều sâu, đảm bảo chất lượng 100% cơ quan, bệnh viện, trường học, lực lượng vũ trang đăng ký thực hiện đơn vị văn hoá. Xây dựng nếp sống văn hoá, văn minh nơi công sở, công cộng.
+ Nâng cao chất lượng hoạt động của báo, đài, của các đội thông tin, tuyên truyền lưu động.
+ Triển khai rộng khắp các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, nâng cao sức khoẻ nhân dân.
+ Xây dựng quy hoạch phát triển ngành thể dục thể thao Bến Tre đến năm 2010.
- Về khoa học, công nghệ và môi trường:
+ Tập trung nghiên cứu các đề tài, dự án, phục vụ sát hợp yêu cầu sản xuất, quản lý tại địa phương, khắc phục tình trạng số lượng đề tài nhiều nhưng không thiết thực và kém hiệu quả trong ứng dụng.
+ Tăng cường chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế thuỷ sản và nông nghiệp; xây dựng và nhân rộng các mô hình trồng xen, nuôi xen đem lại hiệu quả kinh tế cao; đẩy mạnh việc chuyển giao, ứng dụng công nghệ bảo quản chế biến nông thuỷ sản sau thu hoạch. Đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng các sản phẩm hàng hoá nông - thuỷ sản, tiểu thủ công nghiệp. Mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính Nhà nước và sản xuất kinh doanh.
+ Tập trung quản lý, tăng cường kiểm tra và cải thiện môi trường các cơ sở sản xuất – kinh doanh, các làng nghề tập trung, xử lý rác sinh hoạt, rác y tế, thoát nước, trong thị xã, các thị trấn. Gắn chặt ngay từ đầu trong các dự án, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu và phát triển sản xuất để không gây hại môi trường sinh thái.
Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền bảo vệ môi trường đi đôi với xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về môi trường.
c- Quốc phòng, an ninh, cải cách hành chính:
- Tiếp tục củng cố quốc phòng và an ninh. Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch kết hợp quốc phòng và an ninh với phát triển kinh tế - xã hội. Phân phối lực lượng Quân sự - Công an - Bộ đội Biên phòng quản lý tốt địa bàn trong mọi tình huống, phòng thủ và sẵn sàng chiến đấu hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân năm 2004.
- Nâng cao chất lượng hoạt động các lực lượng an ninh nhân dân, tổ nhân nhân tự quản. Tăng cường biện pháp giữ gìn an ninh chính trị nhất là an ninh nông thôn trên từng địa bàn, từng khu vực. Đẩy mạnh phong trào quần chúng tham gia phòng chống tội phạm. Kiên quyết trừng trị bọn tội phạm chuyên nghiệp, nguy hiểm, bọn cầm đầu có tổ chức băng, nhóm nhất là tội phạm cướp giật, tội phạm ma tuý, môi giới và tổ chức mại dâm. Đấu tranh kéo giảm tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông.
- Tập trung giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo còn tồn đọng. Riêng về các vụ khiếu kiện đất đai cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành và địa phương, nâng cao trách nhiệm trong công tác giải quyết khiếu nại tố cáo. Có biện pháp xử lý nghiêm đối với cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân do thiếu trách nhiệm hoặc do tiêu cực để đơn, thư tồn đọng quá hạn nhiều, hoặc xác minh không chính xác, tham mưu, đề xuất ra quyết định sai.
- Nâng cao năng lực toàn diện của cơ quan tư pháp, bảo đảm việc bắt, giam giữ, điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội, không để oan sai. Có kế hoạch cụ thể về bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán của Toà án nhân dân cấp huyện theo yêu cầu mới. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các tranh chấp dân sự. Củng cố, tăng cường công tác thi hành án, có biện pháp khắc phục tình trạng tồn đọng nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành.
- Tiếp tục cải tiến thủ tục hành chính, lề lối làm việc, mạnh dạn đổi chất đội ngũ cán bộ công chức, đảm bảo thực hiện đúng chức năng và trách nhiệm của từng cơ quan, từng chức danh, kịp thời giải quyết tốt các yêu cầu chính đáng của nhân dân. Tăng cường thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.
Tổ chức sơ kết mô hình “một cửa” nhằm rút kinh nghiệm hoàn thiện cơ chế để triển khai cơ chế “một cửa” ở xã, phường, thị trấn.
Tổ chức tốt cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp vào ngày 25/4/2004 và thực hiện tốt Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) gắn với việc phân cấp, phân giao, kiện toàn bộ máy chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, vững mạnh, có hiệu quả. Thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn.
II- Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết này.
Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ giúp Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết ở các ngành, các cấp đúng chức năng và đúng pháp luật.
Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải gương mẫu thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân đồng thời giám sát, tuyên truyền, động viên cử tri thực hiện tốt Nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VI, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 12 tháng 12 năm 2003./.
TM. HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
(Đã ký)
Trần Văn Cồn