Quay lại

Quyết định 01/2003/QĐ-UB v/v ban hành Đề án đổi mới thiết bị - công nghệ của các Doanh nghiệp Nhà nước thuộc Thành phố quản lý đến năm 2005

UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-------

Số: 01/2003/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

thành phố Đà Nẵng, ngày 03 tháng 01 năm 2003

QUYẾT ĐỊNH

CỦA UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

V/v ban hành Đề án đổi mới thiết bị - công nghệ của các Doanh nghiệp Nhà nước thuộc Thành phố quản lý đến năm 2005

______________

ỦY BAN NHÂN DÂN

- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (sửa đổi) ngày 21 tháng 6 năm 1994;

- Căn cứ Luật doanh nghiệp ngày 12 tháng 6 năm 1999;

- Căn cứ Kết luận Hội nghị Thành ủy Đà Nẵng lần thứ 5 tại Công văn số 05-KL/TU ngày 09 tháng 01 năm 2002 của Thành ủy Đà Nẵng;

- Căn cứ Quyết định số 19/2002/QĐ-UB ngày 06 tháng 02 của UBND thành phố Đà Nẵng vê việc phê duyệt tiếp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước thuộc Thành phố quản lý đến năm 2005;

Theo đề nghị của Giám đốc Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tại Công văn số 517/SKCM ngày 18 tháng 9 năm 2002.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án Đổi mới thiết bị-công nghệ của các Doanh nghiệp Nhà nước thuộc Thành phố quản lý đến năm 2005.

Điều 2. Phân công nhiệm vụ

- Giao Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường làm cơ quan thường trực thực hiện Đề án; đổng thời làm đầu mối tổng hợp tham mưu cho UBND thành phố chỉ đạo thực hiện Đề án này.

- Giám đốc các Sở, Ban, ngành, Thủ trưởng các cơ quan liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm được phàn công tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án này.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký.

Điều 4. Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, ngành, Thường trực Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp và Thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Hoàng Tuấn Anh

ĐỂ ÁN

ĐỔI MỚI THIẾT BỊ - CÔNG NGHỆ CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THUỘC THÀNH PHỐ

QUẢN LÝ ĐẾN NĂM 2005

(Ban hành kèm theo Quyết định số 01/2003/QĐ-UB

ngày tháng năm 2003 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng)

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN); Nghị quyết Hội nghị Thành ủy lần thứ 5 ngày 09 tháng 01 năm 2002 và Quyết định số 19/2002/QĐ-UB ngày 06 tháng 02 năm 2002 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc phê duyệt Đề án tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả (DNNN) thuộc Thành phố quản lý đến năm 2005; UBND thành phố Đà Nẵng xây dựng Đề án “Đổi mới thiết bị-công nghệ của các DNNN thuộc Thành phố quản lý đến năm 2005”.

Mục tiêu của Đề án là đề ra định hướng và các giải pháp cơ bản hỗ trợ khuyến khích DNNN đầu tư, ứng dụng, đổi mới và phát triển công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, chuẩn bị hội nhập kinh tế khu vực và thế giới trong thời gian tới.

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI
THIẾT BỊ - CÔNG NGHỆ
I- Thực trạng thiết bị - công nghệ của các DNNN:

1. Quy mô tài chính:
Đến hết quí I năm 2002 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 55 DNNN (đến tháng 4 năm 2002 đã sắp xếp lại còn 50 DNNN) do thành phố' quản lý, với tổng nguồn vốn kinh doanh (thuộc vốn nhà nước) là 503,617 tỷ đồng, bình quân một DN là 9,517 tỷ đồng.
Chia ra:
DN có vốn trên 20 tỷ : 06, với tổng vốn: 287,656 tỉ, chiếm 57,12%
DN có vốn từ 10-20 tỷ : 04, với tổng vốn: 49,524 tỉ, chiếm 09,83%
DN có vốn từ 05-10 tỷ : 12, với tổng vốn: 80,671 tỉ, chiếm 16,02%
DN có vốn từ 01-05 tỷ : 30, với tổng vốn: 83,958 tỉ, chiếm 16,67%
DN có vốn dưới 01 tỷ : 03, với tổng vốn: 1,808 tỉ, chiếm 00,36%
Số liệu trên cho thấy DN có vốn bình quân từ 01 đến 05 tỉ có số lượng 30 (chiếm 60%), trong khi đó tổng vốn chỉ chiếm 16,67%. Điều đó nói lên qui mô các DNNN thuộc Thành phố quản lý rất nhỏ, vì vậy khả năng cạnh tranh hạn chế, nhất là trong quá trình chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Riêng về giá trị tài sản cố định (TSCĐ) của 55 DN này là 927 tỉ đồng, giá trị còn lại của TSCĐ là 657 tỉ, trong đó giá trị TSCĐ là nhà, giá trị quyền sử dụng đất chiếm gần 40% tổng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp, phương tiện vận tải, thiết bị quản lý chiếm trên 15%; còn lại là máy móc thiết bị lạc hậu, không còn sử dụng chờ thanh lý chiếm khoảng 45%. Các đơn vị có thiết bị công nghệ tiên tiến chủ yếu mới đầu tư trong những năm gần đây. Đó là các DN ngành may mặc, da giày, cơ khí, sản xuất tụ điện, một số thiết bị khai thác đá, sản xuất vật liệu XD giao thông,...
2. Tình hình đầu tư thiết bị - công nghệ:
Việc đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ chủ yếu do các DN tự xem xét khả năng của mình để quyết định, kể cả các doanh nghiệp được coi mũi nhọn của Thành phố như thủy sản, dệt may, cơ khí,... Trong 3 năm 1999-2001, tổng vốn đầu tư của các DN là 214,600 tỉ đồng, trong đó đầu tư cho việc đổi mới thiết bị là 140 tỉ đồng. Nhờ đó, một số doanh nghiệp mũi nhọn như dệt may, da giày, cơ khí ô tô đã đầu tư đồng bộ một số dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến và hiện đại, sẵn sàng cho quá trình cạnh tranh và hội nhập khu vực cũng như quốc tế trong thời gian đến, nhất là khi Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) đang đến gần và chuẩn bị cho việc gia nhập WTO trong tương lai.
Xuất phát điểm ban đầu của phần lớn các DNNN là không có vốn đầu tư, nguồn vốn kinh doanh ít, qua nhiều năm không được bố sung (từ lợi nhuận hay từ nguồn ngân sách), nên với khả năng tự vay, tự trả, nhất là vay ngoại tệ đầu tư đổl mới thiết bị trong thời gian qua, đã làm cho hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp không cao. Nhiều doanh nghiệp, mặc dù sản lượng sản xuất, doanh thu tăng, nhưng hiệu quả kinh doanh lại giảm do việc biến dộng chênh lệch tỉ giá tăng theo hướng bất lợi cho DN.
Việc đầu tư của các doanh nghiệp chưa thống nhất theo định hướng chung về chiến lược phát triển và đầu tư, nên mạnh doanh nghiệp nào doanh nghiệp đó mua sấm, kể cả mua sắm các thiết bị lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu sản xuất. Một số doanh nghiệp chưa khảo sát kỹ công nghệ, thị trường, nên dự án đầu tư mới đi vào hoạt động đã không phát huy tác dụng và kém hiệu quả. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải có một chiến lược phát triển tổng thể thống nhất của thành phố về việc đầu tư theo trọng điểm và qui mô thích hợp, để vừa phát huy thiết bị đầu tư, vừa đảm bảo nguồn đáp ứng.
3. Thực trạng trình độ công nghệ:
Theo số liệu khảo sát của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đối với một số doanh nghiệp thuộc 10 ngành trên địa bàn cả nước (luyện kim, hóa chất, sản xuất phân bón, công nghiệp dệt - may, công nghiệp thực phẩm, chế biến nông-thủy sản, sản xuất giấy-chế biến gỗ, điện-điện tử, cơ khí chê tạo), thì ngoài một số doanh nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại hoặc trung bình của thê giới và khu vực (như phát điện; sản xuất thiết bị đo điện; lắp ráp điện tử; sản xuất sợi dệt; thi công xây lắp, sản xuất vật liệu xây dựng); các DN thuộc các ngành khác có thiết bị-công nghệ sản xuất lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, thậm chí 30 (như cơ khí, sản xuất phôi); trình độ cơ khí hóa, tự động hóa dưới 10% (chế biến thủy sản); mức độ hao mòn hữu hình từ 30% đến 50%, thậm chí có DN có tỷ lệ đến 38% thiết bị ở dạng chờ thanh lý, 52% thiết bị cần bảo dưỡng, sửa chữa.
Tại Đà Nẵng, qua khảo sát 23 DNNN sản xuất công nghiệp thuộc Thành phố quản lý, trong 5 năm (1997-2001), một sô DNNN đã có những bước tăng trưởng đáng kế về năng lực công nghệ sản xuất, như Nhà máy Cơ khí Ô tô, Công ty Dệt-May 29/3... (Phụ lục 1). Hệ sô đổi mới thiết bị-công nghệ bình quân hàng năm Kđm = 16,21%/năm. Nhờ đầu tư đổi mới thiết bị-công nghệ mới, hiện đại hơn thay thế thiết bị-công nghệ cũ, lạc hậu, tiêu hao nguyên, nhiên liệu cao, nên tỷ trọng tổng giá trị thiết bị hiện đại trong tổng giá trị thiết bị sản xuất tăng từ 38,7% năm 1997 lên 48,95% năm 200
Nhìn chung, xét một cách tổng thể thì trình độ công nghệ sản xuất của đa số DNNN thuộc Thành phố quản lý vẫn còn rất nhiều hạn chế và bất cập. Trang thiết bị-công nghệ sản xuất của nhiều DN ở mức lạc hậu so với mức trung bình tiên tiến thế giới từ 1 đến 3 thê hệ, đặc biệt ở một số ngành, lĩnh vực như: cơ khí chế tạo, luyện kim, chế biến thủy sản, mức độ lạc hậu so với mức trung bình tiên tiến thế giới từ 2 đến 5 thế hệ. Thiết bị đang sử dụng ở nhiều doanh nghiệp đã quá cũ, thậm chí có thiết bị đã sử dụng trên 30 năm (chiếm 4,5% tổng số thiết bị đang sử dụng). Hệ số khấu hao thiết bị lớn, binh quân trên 38%. Một số DN, mặc dù đã được đầu tư thiết bị - công nghệ mới, hiện đại hơn, nhưng do hạn chế năng lực về vốn và trình độ tổ chức quản lý sản xuất nên doanh nghiệp không dám mạo hiểm đầu tư thiết bị- công nghệ hiện đại nhất, mà chỉ đầu tư thiết bị-công nghệ có tính phổ cập, truyền thống, hoặc loại có trình độ công nghệ trung bình khu vực. Mặt khác, cũng do hạn chế về khả năng tài chính và chính sách giải quyết công ăn việc làm nhiều DN phải cắt bỏ, không đầu tư mua đầy đủ các thiết bị (tự động/bán tự động) của một số công đoạn trong quy trình công nghệ sản xuất ít ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, có thể thay thế sử dụng bằng lao động thủ công, làm ảnh hưởng đến tính đồng bộ của dây chuyền thiết bị-công nghệ và gây không ít khó khăn khi DN áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến.
Do thiết bị-công nghệ mới đầu tư thường có tỷ trọng giá trị rất cao so với hệ thống thiết bị-công nghệ cũ đang sản xuất, nên thực chất mức tăng trưởng về thiết bị-công nghệ sản xuất trong thời gian qua, các DN vẫn chưa giải được bài toán thay thế, đổi mới thiết bị-công nghệ cũ, lạc hậu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
II. Những thuận lợi, khó khăn của DN trong việc đầu tư đổi mới:
Thuận lợi:
- Thành phố đang quan tâm nâng cao hiệu quả hoạt động nói chung, trình độ thiết bị-công nghệ nói riêng của các DNNN. Bên cạnh đó, có sự chỉ đạo sâu sát và sự quan tâm của các ngành, các cấp tạo cho DNNN cơ hội hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
- Cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước ngày càng thông thoáng, tạo nhiều thuận lợi cho các DN đầu tư thiết bị-công nghệ.
- Nguồn vốn có thể huy động ngày càng phong phú, các DN có thể tự lựa chọn kênh đầu tư hiệu quả nhất, tạo thế chủ động về vốn vay.
- Bước đầu, các DN đã nhận thức được sự cần thiết và tầm quan trọng trong việc đầu tư đổi mới thiết bị - công nghệ và quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, để đa dạng hóa sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu.
- Việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đã giúp cho các DN có khả năng tiếp cận nhanh chóng, đầy đủ những thông tin cần thiết về đối tác chuyển giao thiết bị - công nghệ và khách hàng.
- Tranh thủ được những lợi ích từ liên kết và hợp tác quốc tế để đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa quy trình công nghệ sản xuất của DN.
2. Khó khăn và nguyên nhân hạn chế DNNN đầu đổi mới thiết bị-công nghệ:
2. Khó khăn:
- Nhận thức và sự quyết tâm của một sô nhà quản lý DNNN trong việc đổi mới thiết bị-công nghệ còn hạn chế, bảo thủ và sợ rủi ro. Năng lực nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới trong mở rộng thị trường còn hạn chế; thiếu cán bộ, công nhân lành nghề; thiếu thông tin. Năng lực quản lý và khả năng tổ chức đổi mới của một bộ phận cán bộ quản lý và khoa học-công nghệ của DNNN còn hạn chế, đã cản trở đến năng lực đầu tư, khả năng cạnh tranh và hợp tác liên kết với các đối tác trong và ngoài nước.
- Thiếu vốn và khó khăn trong việc huy động nguồn vốn đầu tư thích hợp cho các DNNN. Đây được coi là nguyên nhân trực
tiếp của tình trạng chậm đổi mới.
- Chính sách, cơ chế khuyên khích đầu tư đổi mới thiết bị- công nghệ chưa đủ mạnh. Vẫn còn nhiều rào cản, trở ngại trong thủ tục xem xét, phê duyệt dự án đầu tư, thẩm định vay vốn, xét ưu đãi đầu tư,... Những vướng mắc trên đã tại ra những khó khăn, đòi khi làm mất cơ hội đầu tư phát triển của DN.
- Năng lực của các cơ quan nghiên cứu-triển khai trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới thiết bị-công nghệ của các DN. Chưa có sự gắn kết giữa các tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học-công nghệ với cơ sở sản xuất nên DN thiếu cơ hội hợp tác và các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuât. Đa số DN phải tư thân đinh hướng nghiên cứu ứng dụng và phát triển thiết bị-công nghệ mà chưa thực sự nhận được sự hỗ trợ tư vấn các tổ chức khoa học- công nghệ.
- Công tác điều tra, đánh giá trình độ và năng lực công nghệ của sản xuất không được thực hiện thường xuyên. Do đó không có cơ sở để các ngành, lĩnh vực và DN sản xuất có thể định hướng hoặc lựa chọn thiết bị công nghệ ưu tiên nhằm đổi mới thiết bị-công nghệ và đổi mới sản phẩm.
2.2. Nguyên nhân hạn chế
- Do còn được hưởng sự bao cấp và độc quyền trong một số lĩnh vực từ cơ chế quán lý kinh tê hiện nay, nên một số DNNN chưa phải chịu áp lực cạnh tranh lớn. Nhiều DN chỉ muốn tìm kiếm những ưu đãi của Nhà nước thay vì phải đổi mới thiết bị- công nghệ, đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng năng lực cạnh tranh, trong khi chưa thực sự chủ động đầu tư, đổi mới trang thiết bị. Mặt khác, trình độ và năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý và khoa học-cồng nghệ của DNNN còn bất cập, chưa đáp ứng được xu hướng đổi mới của thời đại.
- Sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách của các cơ quan quản lý Nhà nước còn thiếu đồng bộ và kém hiệu quả, nên chưa tạo ra động lực cho sự đổi mới thiết bị-công nghệ trong các DNNN;
- Chưa có những định hướng chiến lược trong việc nghiên cứu và triển khai khoa học-công nghệ; chưa tạo lập và phát triển được mối liên kết hợp tác của các tổ chức nghiên cứu triển khai đối với hoạt động sản xuất.
Phần thứ hai
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
ĐỔI MỚI THIẾT BỊ - CÔNG NGHỆ
I- Quan điểm cơ bản về đổi mới thiết bị - công nghệ
Bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động đầu tư đổi mới thiết bị-công nghệ của DN; xóa bỏ triệt đế những rào cản, vướng mắc, cơ chế xin-cho; tạo môi trường đầu tư lành mạnh, thông thoáng và nhanh chóng; tạo điều kiện cho DN tận dụng, nắm bắt những cơ hội phát triển.
2. Xây dựng một cơ chế chính sách đủ mạnh, hỗ trợ và khuyến khích DN đầu tư đổi mới thiết bị-công nghệ, đổi mới sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, chuẩn bị hội nhập.
3. Ưu tiên đầu tư đổi mới thiết bị-công nghệ cho các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, có lợi thê so sánh, suất đầu tư thấp, tỷ lệ hàng xuất khẩu cao, thu hút nhiều lao động và khả năng thu hồi vốn nhanh.
4. Khuyến khích các DN đầu tư đổi mới, ứng dụng và phát triển theo hướng đi thẳng vào công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại nhất, trên nguyên tắc đặc biệt coi trọng hiệu quả đầu tư, phù hợp sự phân công lao động quốc gia và thích hợp các điều kiện về tài chính, về năng lực khoa học và công nghệ của DN,... Hạn chế đầu tư mở rộng sản xuất đối với các DN chưa đủ năng lực khoa học, công nghệ và sức cạnh tranh của sản phẩm.
5. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về công nghệ và chuyển giao công nghệ trên địa bàn thành phố; phân định rõ trách nhiệm thẩm định, kiểm tra, giám sát thiết bị-công nghệ nhập của các dự án trên địa bàn thành phố nhằm hạn chế tối đa việc nhập khẩu thiết bị-công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên, nhiên liệu, gây ô nhiễm môi trường.
II. Mục tiêu đổi mới thiết bị-công nghệ
Mục tiêu đổi mớl thiết bị-công nghệ DNNN do thành phố quản lý đến năm 2005 là hỗ trợ thúc đẩy DNNN đầu tư nghiên cứu ứng dụng, đổi mới và phát triển công nghệ nhằm từng bước rút ngắn khoảng cách tụt hậu, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, chuẩn bị hội nhập kinh tế khu vực và thế giới trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể là thúc đẩy hoạt động đầu tư đổi mới thiết bị- công nghệ của DNNN, phấn đấu từ nay đến năm 2005 hệ số đổi mới thiết bị bình quân hàng năm phải đạt là 22-25%, trong đó tỷ trọng giá trị thiết bị hiện đại phải chiếm trên 80% tổng giá trị thiết bị mới đầu tư .
III. Định hướng đổi mới và phát triển thiết bị-công nghệ
Định hướng chung:
Định hướng chiến lược đầu tư:
- Ngắn hạn: Trong điều kiện hạn chê năng lực về vốn đầu tư và nàng lực khoa học-công nghệ, phải ưu tiên đầu tư công nghệ có suất đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh và có khả năng tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, đồng thời tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Đổi mới thiết bị-công nghệ trước hết phải chú ý đến những khâu có tác động quyết định đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa để nhanh chóng hội nhập quốc tế.
- Dài hạn: ưu tiên và có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với: Những dự án đầu tư có công nghệ tiên tiến, không gây tác động xấu đối vói môi trường; Những dự án đầu tư có dây chuyền thiết bị hiện đại và đồng bộ; Các đề tài, dự án đầu tư nghiên cứu đổi mới sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm có hàm lượng khoa học- công nghệ cao, sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái.
2. Chú trọng các chương trình, dự án phát triển nguồn nhân lực khoa học-công nghệ, bên cạnh việc nâng cao nhận thức về vị trí và vai trò của khoa học-công nghệ cho cán bô lãnh đạo ở các DNNN, các cấp, các ngành của Thành phố. Trước mắt, phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại cho cán bộ quản lý, các cán bộ và chuyên viên kỹ thuật, công nhân kỹ thuật bậc cao đang làm việc trong các DNNN; tăng cường năng lực nghiên cứu sáng tạo cho đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học-công nghệ tại các DNNN.
3. Tăng cường huy động và khai thác triệt để, có hiệu quả mọi nguồn vốn trong và ngoài nước để đổi mới thiết bị - công nghệ cho DNNN.
4. Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp đồng thời dành một khoản kinh phí đáng kể hàng năm để hỗ trợ các DNNN thực hiện các đề tài, dự án nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuật mới vào sản xuất.
5. Tạo lập và phát triển mối liên kết giữa các cơ quan nghiên cứu triển khai trên địa bàn với các cơ sở sản xuất công nghiệp của thành phố.
6. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát nhằm chấm dứt tình trạng nhập các loại thiết bị-công nghệ cũ, tiêu hao nhiều nguyên, nhiên liệu, gây ô nhiễm môi trường vào địa bàn thành phố Đà Nẵng.
2. Định hướng cụ thể đối với một ngành, lĩnh vực sản xuất
2. ưu tiên đầu tu đổi mới thiết bị-công nghệ cho các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, có lợi thế cạnh tranh của thành phố nhu: dệt-may, da-giày, chế biến thủy sản, sản xuất hàng lâm sản xuất khẩu. Tập trung đầu tư có chiều sâu, có trọng điểm và đồng bộ hóa dây chuyền sản xuất hiện đại nhằm nâng cao năng lực công nghệ, tâng sức cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu.
2.2. Đối với lĩnh vực in, sách và thiết bị trường học, phải lựa chọn đầu tư thiết bị hiện đại, thích hợp với điều kiện về vốn, về năng lực khoa học-công nghệ và trình độ quản lý của DN; đồng thời phải phù hợp yêu cầu phát triển công nghệ sản xuất trong tương lai gần.
2.3. Nhóm lĩnh vực xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng có hệ số đổi mới thiết bị và trình độ công nghệ thấp nhất. Vì vậy phải nhanh chóng hiện đại hóa quy trình công nghệ sản xuất và thi công, đáp ứng nhu cầu xây dựng công nghiệp và dân dụng cúa thành phố và khu vực.
2.4. Lĩnh vực thi công các còng trình giao thông cần tập trung đầu tư nghiên cứu ứng dụng các công nghệ thi công tiên tiến nhất của thế giới, như chế tạo dầm bản siêu nhẹ, đúc đẩy, đúc hẫng,... đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và thẩm mỹ của các công trình giao thông.
2.5. Nhóm lĩnh vực cơ khí-thiết bị điện là nhóm lĩnh vực then chốt và quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH và là tiền đề và tỷ suất đầu tư cao, khả năng thu hồi vốn chậm, trình độ công nghệ sản xuất hiện đang rất thấp,... nên đối với lĩnh vực này phải xây dựng chiến lược đầu tư phát triển dài hạn, cả chiều rộng lẫn chiều sâu, đồng bộ và kết hợp với công nghệ tự động hóa để làm thay đổi cơ bản về chất, nhằm đạt đến trình độ công nghệ sản xuất ở mức trung bình tiên tiến của khu vực.
Trước mắt, lĩnh vực cơ khí và thiết bị điện phải đầu tư và đổi mói một số thiết bị ở những công đoạn tạo phôi, gia công áp lực, gia công cơ, gia công nhiệt và gia công bề mặt để hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành. Tập trung đầu tư theo hướng đi thẳng vào công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại (tự động hoặc bán tự động), trên cơ sở liên kết hợp tác đầu tư giữa các doanh nghiệp sản xuất cơ khí của thành phố (theo sự phân công lao động), để khắc phục khó khăn về vốn đầu tư.
2.6. Lĩnh vực điện tử tập trung nghiên cứu đầu tư thiết bị- công nghệ sản xuất một số linh kiện điện tử, tham gia chương trình sản xuất và lắp ráp các sản phẩm điện tử đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
IV. Những giải pháp cơ bản:
Về cơ chế chính sách:
- Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động đầu tư của DN theo hướng thông thoáng, hấp dẫn và mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho DN. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính ở các ngành, các cấp, đặc biệt ở khâu thẩm định phê duyệt và thẩm định giải ngân cho dự án đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để DN tận dụng mọi cơ hội đầu tư phát triển.
- Xây dựng, sửa đổi và bổ sung một số chính sách ưu đãi đầu tư ở mức cao hơn nhằm hỗ trợ và khuyến khích các DN: Đầu tư đổi mới thiết bị-công nghệ, ưu tiên công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, đổi mới sản phẩm; đẩy mạnh áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế,...
- Đổi mới chế độ khấu hao tài sản cố định để DN có điều kiện sử dụng nguồn vốn đầu tư thiết bị - công nghệ mới.
- Xây dựng cơ chế liên kết, hợp tác trong đầu tư đổi mới thiết bị-công nghệ của nhóm doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực sản xuất, trên cùng địa bàn thành phố, tránh đầu tư trùng lắp để giải quyết vấn đề khó khăn về vốn.
- Duy trì thường xuyên việc tổ chức các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật hàng năm ở cấp ngành, thành phố với chủ để hướng vào giải quyết các vấn đề khoa học-công nghệ trọng tâm của thành phố. Có chế độ khen thưởng cho các công trình, sản phẩm nghiên cứu có hiệu quả cao, nhũng tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu-triển khai và ứng dụng kết quả khoa học-cổng nghệ vào sản xuất.
2. Về vốn và huy động vốn:
- Khai thác triệt để và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tất cả các nguồn vốn trong nước và nước ngoài phục vụ quá trình đổi mới thiết bị-công nghệ của DN.
- Mở rộng các hình thức cho thuê tài chính, bằng cách cho thuê thiết bị-công nghệ nhằm giúp DN, nhất là các DN vừa và nhỏ, có điều kiện tiếp cận được các công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại của thế giới.
- Trên phạm vi cân đối vĩ mô, phải tích cực xây dựng chính sách tiêu dùng và tích lũy cho phù hợp. Có biện pháp huy động tối đa các nguồn vốn như: ngân sách Nhà nước, nguồn nội tại của DN, nguồn vốn từ tín dụng đặc biệt là tín dụng ưu đãi của Nhà nước cho các chương trình dự án lớn và các nguồn vốn từ nước ngoài. Các DN phải kiện toàn bộ phận nghiên cứu thị trường sản phẩm mới, đầu tư thiết bị-công nghệ mới và dành một phần kinh phí thích đáng cho công tác này để tạo tiền đề cho sự phát triển liên tục và bền vững.
- Hàng năm dành một phần đáng kể từ ngân sách sự nghiệp khoa học-công nghệ hỗ trợ DN nghiên cứu các đề tài, dự án ứng dụng các tiến bộ khoa học-công nghệ vào sản xuất.
3. Về đào tạo nhân lực:
- Bằng những chủ trương và chính sách phù hợp, tăng cường phối hợp với các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, Cao đẳng tổ chức tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ lãnh đạo và cán bộ khoa học-công nghệ của các DNNN; đồng thời phối hợp với các trường Trung học chuyên nghiệp, Dạy nghề đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý thuyết chuyên môn và tay nghề của công nhân cho các DN dể tiếp thu và vận hành có hiệu quả thiết bị-công nghệ mới. Công tác dào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại phải được tổ chức theo hướng thiết thực, hiệu quả, gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực của DN.
- Tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu triển khai, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trên địa bàn thành phố với các DN để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học-công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
4. Về xây dựng thị trường khoa học và công nghệ
- Nhanh chóng tạo lập và phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Đà Nẵng, nhằm hỗ trợ kịp thời và nhanh chóng các thông tin về thành tựu khoa học-công nghệ, thị trường thiết bị- công nghệ và thị trường sản phẩm trong nước và thế giới, các cơ chế chính sách mới của Nhà nước,... cho các DN.
- Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, tạo điều kiện cho các DN của Đà Nẵng tham gia giới thiệu sản phẩm ở các trung tâm giới thiệu sản phẩm xuất khẩu Việt Nam do Cục Xúc tiến thương mại tổ chức và các Hội chợ trong nước và quốc tế.
- Duy trì và phát triển hình thức chợ Thiết bị, Công nghệ và Giải pháp phần mềm nhằm tạo điều kiện cho các DN tiếp cận, trao đổi, mua bán thông tin về thiết bị-công nghệ mới; tạo sự gắn kết có hiệu quả giữa hoạt động nghiên cứu - triển khai với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
5. Phát triển năng lực nội sinh về công nghệ của doanh nghiệp:
- Nâng cao nhận thức và năng lực tổ chức đổi mới thiết bị- công nghệ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ khoa học-công nghệ của các DNNN.
- Có chiến lược và chính sách thích hợp về đào tạo lại nhân lực khoa học-công nghệ của DN. Phát triển các mối quan hệ giữa DN với các cơ quan, tổ chức nghiên cứu triển khai trong và ngoài nước để hỗ trợ và phát triển năng lực nôi sinh của DN.
- Nâng cao năng lực tìm kiếm, đánh giá, mua bán và chuyển giao công nghệ thích hợp trên cơ sở khai thác, xử lý tốt và kịp thời các nguồn thông tin khoa học-công nghệ.
- Nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ, năng lực hỗ trợ cho tiếp thu, làm chủ công nghệ và năng lực đổi mới công nghệ của DN.
Phần thứ ba
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. Về nhiệm vụ chung:
1 - Giao Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường làm cơ quan thường trực thực hiện Đề án; đồng thời làm đầu mối tổng hợp tham mưu giúp ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo thực hiện Đề án này.
2- Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban ngành căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình chủ động phối hợp triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án này.
II. Về nhiệm vụ cụ thể
Giao Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì
- Phối hợp với các Sở: Kế hoạch và Đầu tư; Tài chính-Vật giá; Thương mại; Công nghiệp và các cơ quan liên quan, xây dựng Đề án Định hướng xây dựng và phát triển thị trường KHCN tại Đà Nẵng, nhằm hỗ trợ tạo lập thị trường cho sản phẩm KH&CN, gắn kết KH&CN với sản xuất; hình thành và mở rộng mạng lưới dịch vụ tư vấn KH&CN, môi giới chuyển giao công nghệ; hỗ trợ thông tin về thiết bị-công nghệ và sản phẩm mới trong nước và thê giới,... phục vụ quá trình đổi mới thiết bị-công nghệ, đổi mới sản phẩm của DN.
Hoàn thành và trình UBND thành phố phê duyệt vào quí III năm 2003.
- Phối hợp các ngành, cơ quan liên quan xây dựng và trình UBND thành phố ban hành Hướng dẫn thẩm định công nghệ và Hợp đồng chuyển giao công nghệ các dự án đầu tư giai đoạn xem xét cấp giấy phép đầu tư theo phân cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Hoàn thành và trình UBND thành phố phê duyệt vào quí II năm 2003.
- Phối hợp với các ngành, cơ quan liên quan tổ chức thường xuyên các lớp tập huấn, các cuộc hội thảo, tiếp xúc cho các đối tượng là lãnh đạo và cán bộ khoa học-công nghệ của DN, nhằm giúp những đối tượng này nâng cao nhận thức và nâng lực tổ chức đổi mới thiết bị-công nghệ của DN.
- Phối hợp với Liên hiệp các Hội KHKT, Liên đoàn Lao động, Thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức thường xuyên các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật hàng năm ở cấp ngành, thành phố với chủ đề hướng vào giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ trọng tâm của thành phố, có tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và nhân rộng.
2. Giao Ban Tổ chức chính quyền thành phố chủ trì, mời Đại học Đà Nẵng, các Trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp tham gia, phối hợp với cá Sở: Giáo dục và Đào tạo; Lao động - Thương binh và Xã hội; Khoa học, Công nghệ và Môi trường; các ngành kinh tế - kỹ thuật và các cơ quan liên quan của thành phố, nghiên cứu xây dựng Dự án “Đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cho doanh nghiệp nhà nước thuộc thành phố quản lý”, nhằm hỗ trợ nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực khoa học-công nghệ, đáp ứng đòi hỏi khách quan của quá trình đổi mới thiết bị-công nghệ của DN.
Hoàn thành và trình UBND thành phố phê duyệt vào quí III năm 2003.

Phụ lục I


CHỈ TIÊU VỂ NĂNG LỰC VÀ TRÌNH ĐỘ


CÔNG NGHỆ CỦA THIẾT BỊ SẢN XUẤT CÁC DNNN


THUỘC THÀNH PHỐ (Giai đoạn 1997-2001)


TT


Tên doanh nghiệp


Hệ số đổi mới thiết bị Kdm (%/năm)


Tỷ trọng thiết bị hiện đại


Ghi chú


1.


Cty Xây dựng và Phục vụ việc làm


14,12


0


2.


Cty Cấp nước


15.83


0


3.


Cty XL công nghiệp và dân dụng


0


0


4.


Cty Vật liệu XD-XL và kinh doanh nhà


18,8


44


5.


Cty Xây dựng số 5


0


0


6.


Cty phát triển đô thị và khu c.nghiệp


0


0


7.


Cty XD và trang bị nội thất nhà trường


17,2


19,4


8.


Cty Hữu Nghị


11,72


57,39


9.


Cty Dệt May 29/3


36


89


10.


Cty Dệt Đà Nẵng


19,59


73,86


11.


Cty Cơ khí và Thiết bị diện


7,03


9,63


12.


Cty Thủy sản và TM Thuận Phước


12,16


56,3


13.


Cty Kinh doanh và chế biến hàng XNK


20


98


14.


Lâm trường Sông Nam


20


58,9


15.


Cty In Đà Nẵng


10,39


43,9


16.


Nhà máy Cơ khí Ôtô


19,46


97,2


17.


Cty Công trình Đô thị


17,64


22


18.


Cty Công trình Giao thông


7,46


20,2


19.


Cty Phát triển CN vầ Tư vấn đầu tư


13,52


82,6


20.


Cty Xổ số KT và Dịch vụ in


14,2


71,42


Hệ số trung bình (tính theo giá trị)


16,21


48,95


3. Giao sở Kế hoạch và Đầu tư


- Chủ trì, phối hợp với các ngành, cơ quan liên quan, nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý hoạt động đầu tư của DN theo hướng thông thoáng, hấp dẫn và mở rộng quyển tự chủ, tự chịu trách nhiêm cho DN, đặc biệt là đổi mới cơ chế xem xét, thầm định phê duyệt các dự án, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho DN tận dụng mọi cơ hội thuận lợi để đầu tư phát triển.


Hoàn thành và trình UBND thành phố phê duyệt vào quí II năm 2003.


- Thưc hiện nhiệm vụ cân đối và phân bổ vốn thực hiện Đề án.


4. Giao Sở Tài chính - Vật giá:


- Chủ trì, phối hợp với các ngành và cơ quan liên quan, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư ở mức cao hơn nhằm khuyến khích DN mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị-công nghệ, đổi mới sản phẩm, di dời cơ sở sản xuất theo quy hoạch, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, ... nhằm tăng tính cạnh tranh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường công nghiệp, theo Quyết định số 134/2000/QĐ-UB về một số chính sách khuyến khích đầu tư và hỗ trợ sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố, Quyết định 119/2000/QĐ-UB về việc lập, sử dụng và quản lý Quỹ hỗ trợ DN và Đề án Xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thành phố Đà Nẵng.


Hoàn thành và trình UBND thành phố phê duyệt vào quí II năm 2003.


- Thực hiện chức năng thẩm tra, cấp phát vốn thực hiện Đề án.


5. Giao Ban Quản lý các khu công nghiệp và chê xuất chủ trì phối hợp với Sở Tài chính-Vật giá, Sở Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan, nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Quyết định số 136/2000/QĐ-UB về một số chính sách ưu đãi đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, theo hướng dẫn nâng cao mức ưu đãi để khuyến khích các DN mạnh dạn đầu tư vào khu công nghiệp và chế xuất.


Hoàn thành và trình UBND thành phố phê duyệt vào quí II năm 2003.






































































































Tổng quan văn bản

Số ký hiệu01/2003/QĐ-UB
Ngày ban hành03/01/2003
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực18/01/2003
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND thành phố Đà Nẵng / Hoàng Tuấn Anh
Phạm viĐà Nẵng
Trích yếuV/v ban hành Đề án đổi mới thiết bị - công nghệ của các Doanh nghiệp Nhà nước thuộc Thành phố quản lý đến năm 2005
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.